Nguyên tác của :

                A. Besant  và C. W. Leadbeater

 

 

            GIẢNG LƯ  ÁNH SÁNG
 

              TRÊN ĐƯỜNG ĐẠO

                                                                                                                                                        

 

                                     Dịch giả :

                               Bạch Liên và Huyền Châu 

 

 

 

                                       LỜI NÓI ĐẦU

 

                                ----*******----

 

     Trong quyển sách nầy sưu tập những bài b́nh giảng của Ông C. W. Leadbeater  hiện giờ là Giám Mục - và của tôi về ba tác phẩm nổi tiếng, khuôn khổ tuy nhỏ bé, nhưng nội dung thật quan trọng. Cả hai chúng tôi ước mong nó sẽ hữu ích cho những người chí nguyện và ngay cả những người đă vượt qua giai đoạn đó, v́ người diễn giảng cao niên hơn thính giả và do kinh nghiệm, hiểu biết nhiều hơn về đời sống của người đệ tử.

    Những cuộc đàm luận nầy chẳng phải chỉ diễn ra ở tại một chỗ mà thôi. Chúng tôi đă nói chuyện với các bạn chúng tôi trong nhiều lúc, và nhiều nơi khác nhau, nhất là ở Adyar, Luân Đôn ( London ) và Sydney. Rất nhiều chú thích đă được thính giả ghi lại. Tất cả những lời ghi chú có giá trị đều được sưu tập, và sắp xếp thứ tự rồi tập trung lại sau khi loại bỏ những phần trùng hợp với nhau.

 

      Rủi thay, v́ chỉ c̣n có một số rất ít những chú giải thuộc phần I của quyển Tiếng Nói Vô Thinh, cho nên chúng tôi lấy những chú giải của một vị Thân hữu, bạn đồng nghiệp của chúng tôi, là Ông Ernest Wood đă dùng trong một khóa học ở Sydney. Những chú giải nầy nhập với những lời b́nh giảng của Giám Mục Leadbeater về đoạn đó. Không t́m lại được một ghi chú nào về những lời b́nh giảng của tôi, mặc dù tôi đă nói nhiều về quyển Tiếng Nói Vô Thinh  song những lời diễn giảng đó không c̣n lưu lại. Tất cả những lời diễn giảng nầy đều chưa xuất bản, chỉ trừ vài bài diễn văn ngắn của Giám Mục Leadbeater nói với các sinh viên đă được chọn lựa về quyển Dưới Chơn Thầy. Một tác phẩm nhan đề "Những lời b́nh giảng Dưới Chơn Thầy" đă được xuất bản vài năm qua.Trong đó những lời chú thích của ông không được đúng như lời ông đă nói. Quyển nầy sẽ không in lại. Phần cốt yếu của quyển đó vẫn có trong quyển nầy, tất cả đều thu gọn lại rồi đem in. Cầu xin những trang sách nầy giúp cho vài huynh đệ trẻ tuổi của chúng ta hiểu biết rành rẽ những bài học vô giá nầy. Càng nghiên cứu, càng thực hành chúng nó th́ càng nhận thức được nhiều hơn.

 

                                                      ANNIE  BESANT.

 

 

 

                                VÀI LỜI NÓI ĐẦU

 

                                       ----****----

 

      Như tôi đă nói trong quyển Tôi Học Dưới Chơn Thầy hiện giờ khắp hoàn cầu có có ba quyển sách đạo đức khuôn khổ tuy nhỏ song giá trị của nó cực kỳ lớn lao không có cuốn nào b́ kịp, chẳng phải câu văn như gấm thêu hoa hay là ư nghĩa thâm trầm của câu chuyện mà bởi chưng chúng dắt con người từ Cửa Tử đến Cơi Trường Sanh Bất Tử, làm một vị Siêu Phàm thoát đọa Luân Hồi. Nói một cách khác là con người đạt được mục đích định sẵn cho nhân loại trong Thái Dương Hệ nầy. Ba quyển đó là :1.-Dưới Chơn Thầy (Aux Pieds du Maitre).2.- Tiếng Nói Vô Thinh (La voix du Silence).3.- Ánh Sáng Trên Đường Đạo (La Lumière sur le Sentier). Quyển Dưới Chơn Thầy dắt sinh viên tới bực Điểm Đạo lần thứ nhứt. Phật Giáo gọi là bực Tu Đà Hườn (Sotapanna), sau khi trải qua ba bực Đệ Tử : Đệ Tử Nhập môn, Đệ Tử Chánh Thức và Con  của Thầy.

      Quyển Tiếng Nói Vô Thinh dắt sinh viên đến bực La Hán (Arhat) được bốn lần ĐiểmĐạo. 

         C̣n quyển Ánh Sáng Trên Đường Đạo dắt sinh viên đến bực Tam Thanh : làm một vị Bàn Cổ ( Manou ), hoặc một vị Bồ Tát (Bodhisatva)  hay một vị Văn Minh Đại Đế (MahaChohan) được bảy lần Điểm Đạo. Thế nên quyển Dưới Chơn Thầy dễ hơn hết, c̣n quyển Ánh Sáng Trên Đường Đạo khó hơn hết, v́ mỗi câu có bảy nghĩa, thấp cao tùy theo bực. Hai vị Cao Đồ của Chơn Sư là Đại Đức Annie Besant và Leadbeater có giảng lư ba quyển nầy đặng hướng dẫn các bạn tu hành mau bước tới Cửa Đạo. Xét v́ quyển Giảng Lư Ánh Sáng Trên Đường Đạo rất hữu ích cho các bạn tu hành, nhất là các bạn chí nguyện làm Đệ Tử, nên huynh  Huyền  Châu  và tôi hiệp  nhau  lại  dịch  bản  văn  chữ  Pháp “ Commentaires sur la Lumière sur le Sentier ”  ra tiếng Việt.

          Quyển nầy với quyển Giảng Lư Dưới Chơn Thầy bổ túc lẫn nhau. Tuy nhiên, muốn thấy hiệu quả chắc chắn th́ phải sửa trị Phàm Nhơn và bắt buộc nó sống in như những lời chỉ bảo trong đó. Phải nhẫn nại, phải bền chí, dù cho bị thất bại cả trăm lần đi nữa, cũng đừng ngă ḷng, giữa đường bỏ cuộc. Hăy tiếp tục đi tới măi. Chung qui Chơn Lư sẽ thắng. Mặt trời sẽ chói sáng lại rực rỡ như xưa, sau khi bị mây mù che khuất ánh dương quang vài giờ hay vài hôm chăng nữa. Chúng tôi xin quí bạn lưu ư. Chúng tôi chú trọng về việc dịch ư nghĩa của câu văn, chớ không cố dịch từ chữ nầy qua chữ kia. Chúng tôi biết rằng cách hành văn của những giống dân tộc trên Địa Cầu đều khác nhau. Những sách đạo đức đem dịch ra tiếng Việt từng chữ, y như nguyên văn tiếng ngoại quốc, th́ nghe chướng tai và chắc chắn độc giả không hiểu chi hết hay là hiểu một các mập mờ. Học Đạo phải thật tâm Hành Đạo, không thật tâm Hành Đạo th́ không Đắc Đạo. Mà muốn Hành Đạo phải biết Đạo dạy cái chi. Không biết hay biết một cách mơ hồ mà thực hành th́ không có kết quả tốt đẹp, nỗi e c̣n mang tai họa vào thân. Thế nên chúng tôi hết sức cố gắng t́m hiểu xem hai Đại Đức A. Besant và Leadbeater muốn dạy điều chi rồi dịch ra. Chúng tôi rất thận trọng trong sự chọn lựa những danh từ để dịch, nhưng dù sao cũng c̣n nhiều khuyết điểm cần phải bồi bổ sau nầy. Chúng tôi rất mừng nhận được những lời chỉ giáo. Tới những kỳ xuất bản sau chúng tôi sẽ sửa chữa những chỗ c̣n sơ sót ; chúng tôi xin cảm ơn trước quí bạn. Chúng tôi rất phục thiện v́ biết ḿnh c̣n không biết bao nhiêu điều cần phải học hỏi. Hơn nữa, cho hay Biển Giác vô biên, dù ở dưới Trần thế chúng ta tài ba lỗi lạc đến đâu th́ sự hiểu biết của chúng ta cũng chỉ bằng một giọt nước ở trong Đại Dương. Chúng ta quan sát những hiện tượng, học hỏi chúng nó mà không tri ra được nguyên nhân đă sinh ra chúng nó. Nguyên nhân nầy vốn ở trên những cơi vô h́nh. Tỷ như một việc xảy ra trước mắt chúng ta là chuyện một cái trứng gà đem ấp nở ra gà con. Trong trứng gà chỉ thấy tṛng trắng, tṛng vàng ( ḿnh gọi là tṛng đỏ ) và một ṿng trắng ở trên. Tại sao đem ấp th́ ba thứ nầy lại thành ra một con gà trống hay mái. Vậy xin hỏi : Cái chi trong tṛng đỏ, tṛng trắng và ṿng trắng biến thành ra mồng, mỏ, xương thịt, ruột gan, chân cẳng ? Tại sao gà trống có cựa mà gà mái lại không, h́nh vóc của hai giống đều khác nhau ? Cái chi làm ra màu sắc của lông cánh, gà điều khác với gà ô và không giống gà xám. Gà con lại thụ lănh ít nhiều bản tánh của ḍng giống nó nữa, như gà ṇi đá hay hơn gà tre. Gà ô đạp mái, đẻ trứng ấp ra gà ô con, gà điều th́ gà điều con, vân vân... Hoàn toàn bí mật. Về phần con người th́ c̣n bí mật hơn nữa. Một tinh trùng và một noăn châu hợp lại thành một con người nam hay nữ, diện mạo đẹp đẽ hay xấu xa, tánh t́nh hiền hậu hay hung ác, khôn ngoan hay đần độn, thông minh hay dốt nát. V́ lẽ nào? Có tinh trùng đực và tinh trùng cái không ? Tại sao màu da lại khác ? Có giống da đen, da đỏ, da trắng, da vàng ? Tại sao đứa nhỏ nước nào sinh ra rồi th́ nói tiếng nước đó và hiểu được cha mẹ nó muốn nói chi ? Từ bí mật nầy tới bí mật kia, không biết bao nhiêu mà kể.Nói cho đúng, ngày nay chúng ta học hỏi lại cũng có thể gọi là học lóm, nhưng bất toàn, những điều mà Đấng Hóa Công đă tạo ra cả chục tỷ năm trước. Nếu chỉ dùng Hạ Trí học hỏi một cách gián tiếp những hậu quả chớ chẳng rơ nguyên nhân th́ không biết phải trải qua mấy trăm triệu năm nữa mới đạt được mục đích đă định sẵn cho con người trong Thái Dương Hệ nầy, tức là làm một vị Siêu Phàm hoàn toàn sáng suốt không c̣n cái chi học hỏi trên Dăy Địa Cầu nầy nữa. Muốn tiến mau th́ phải bước vào Cửa Đạo, bởi v́ trong Thánh Điện mới có việc dạy dỗ mục đích sự sinh hóa Thái Dương Hệ nầy đúng với sự thật và sinh viên cũng học trực tiếp những phương pháp biến đổi con người thành một vị Chơn Tiên, toàn năng, toàn thiện, trong ṿng vài chục kiếp, thay v́ theo đường tiến hóa b́nh thường phải trải qua mấy chục muôn lần sinh tử, tử sinh dưới Trần Thế mà chưa ắt đi đến bực Toàn Giác. Những vị ngự trong Thánh Điện là các Đấng Cao Cả, Đồ Tôn của những vị Đại Thánh Đế đă dự phần vào việc tạo lập Thái Dương Hệ nầy, cho nên không bao giờ lầm lạc. Các Ngài vốn Trường sinh bất tử, chớ không phải như chúng ta, những kẻ phàm phu tục tử mới sống có vài chục năm đă da mồi tóc bạc, trí hoá lu mờ. Chính là các Ngài mở cửa Đạo đặng tiếp đón những ai xứng đáng bước vào đó. Mà muốn bước vào cửa Đạo, sinh viên phải hội đủ những điều kiện do luật trời qui định, trước nhất là những Đức Tánh đă kể ra trong bốn quyển : Dưới Chơn Thầy, Tiếng Nói Vô Thinh, Ánh Sáng Trên Đường Đạo và Con Đường Của Người Đệ Tử. Riêng về quyển Ánh Sáng Trên Đường Đạo, hai vị Đại Đức A.Besant và Leadbeater chỉ rơ nếp sống từ những người có lư tưởng và chí nguyện làm Đệ Tử cho tới bực La Hán được bốn lần Điểm Đạo. Tôi vẫn biết đối với những điều kiện sinh sống kim thời, th́ việc luyện tập đặng Tự Giác và mưu hạnh phúc cho quần sanh là một điều cực kỳ khó khăn, bởi v́ sinh viên sẽ gặp không biết bao nhiêu chướng ngại dựng lên trên mỗi chặng đường. Không vượt qua nổi th́ không tiến tới được. Thế nên hai vị Đại Đức mới giảng lư từ  đoạn rất tỉ mỉ đặng d́u dắt sinh viên từng bước một. Ai có chút kinh nghiệm về Đường Đạo mới thấy những lời giáo huấn nầy quí hơn vàng bạc và châu báu, bởi v́ những của cải vật chất vốn phù du, mộng ảo, dùng được lâu lắm bất quá là một đời mà thôi, chúng thấy đó rồi mất đó. Nỗi e, chưa nhắm mắt từ giả cơi Trần, chúng đă qua tay người khác rồi. Trong quyển giảng lư nầy, tôi thấy có đoạn hai Ngài phải lập đi lập lại đặng sinh viên mới hiểu và mới nhớ rồi đem ra thực hành; nhất là ở phần nh́ để riêng cho những vị Điểm Đạo lần thứ nhứt. V́ thế phần nầy rất khó cho những ai chưa biết tự tỉnh, chưa biết tu tâm luyện tánh, chỉ mến Đạo mà chưa Hành Đạo. Gặp những đoạn dường như trùng với nhau xin quí bạn chớ thắc mắc. Tôi có thêm những chú giải để giúp quí bạn chưa quen với Thông Thiên Học hiểu được những danh từ chuyên môn. Tôi tưởng cũng nên biết điều nầy nữa, thường thường hai Ngài trả lời miệng những câu hỏi, thính giả viết bằng tốc kư rồi sau chép lại. Trong những lần diễn thuyết cũng vậy. Có nhiều bài diễn văn chép lại, hai Ngài không có th́ giờ xem coi nữa, v́ hai Ngài rất bận rộn. Việc nầy vừa thi hành xong th́ việc khác tới. Hai Ngài phải dùng con đường hành động Karma Yoga đặng giúp đời. Về quyển Giảng Lư Ánh Sáng Trên Đường Đạo nầy cũng như hai quyển giảng lư kia : Giảng Lư Dưới Chơn Thầy và Giảng Lư Tiếng Nói Vô Thinh tưởng nên đọc đi đọc lại, không phải hai ba bận, mà hai chục, ba chục bận. Mỗi lần đọc th́ mỗi lần ánh sáng mới hiện ra, độc giả thành tâm mộ Đạo sẽ hiểu hơn trước. Tôi dám quả quyết điều nầy không bao giờ sai. Các vị Cao Đồ của Chơn Sư đă bước vào cửa Đạo từ lâu và có nhiều kinh nghiệm hằng cầu chúc các bạn tu hành mau thành Chánh Quả đặng cứu vớt quần sanh khỏi chốn trầm luân khổ hải. Lời cầu chúc nầy rất cao quí. Mong rằng chúng ta đừng phụ ḷng các Ngài. Chúng ta cứ vững ḷng tiến tới, không chậm chạp, không thờ ơ mà cũng không vội vàng, hấp tấp, cứ nỗ lực ra tay phá vỡ những xiềng xích buộc trói con người vào bánh xe Luân Hồi. Luôn luôn kiếp nầy qua kiếp kia chúng ta phải tuân theo lời của Đức Phật dạy là :Lánh dữ. Làm lành. Rửa ḷng trong sạch. Tới một ngày kia, không biết chắc là bao nhiêu năm hay là bao nhiêu kiếp, khi đúng công phu th́ cửa Đạo sẽ mở rộng đặng rước ta vào. Đây là Luật Nhân Quả : Gieo giống chi gặt giống nấy, không có chi gọi là thiên vị hay bất công. Chí công mài sắt chầy ngày nên kim.

                        Cầu xin quí bạn thân tâm an lạc.

                        Lành thay ! Lành thay !

 

 

                                                     Bạch Liên

                                                  Phạm ngọc Đa

                                                 

                                             53 Nguyễn đ́nh Chiểu

                                               

                                                     Châu Đốc

 

                                                            

                   PHẦN THỨ NHẤT

            CHƯƠNG THỨ NHẤT

 

                    LỜI NÓI ĐẦU

 

      A.B. - Ánh Sáng Trên Đường Đạo thuộc về một bộ sách Huyền Bí Học do các Đấng Chơn Sư lưu giữ và dùng để đào tạo Đệ Tử. Ấy là một đoạn trích trong quyển Kim Huấn (Livre des Préceptes d' or) gồm nhiều quyển viết trong những thời đại khác nhau của lịch sử thế giới chúng ta, nhưng cả thảy đều phô bày một đặc điểm chung là chứa đựng Chơn Lư huyền diệu. V́ vậy, phải khảo cứu nó khác hơn loại sách thường. Sự hiểu biết chúng nó tùy thuộc tŕnh độ của độc giả; khi một trong những quyển sách nầy được phép tiết lộ cho đời biết th́ sự giải thích theo nghĩa từ chữ chỉ làm cho người ta đánh giá sai lầm giáo lư của nó. Bởi sách nầy chỉ dành riêng để thúc đẩy sự tiến hóa của con người đă bước vào Đường Đạo nên nó tŕnh bày một thứ lư tưởng mà trong thế tục ít ai sẵn sàng chấp nhận. Muốn đủ năng lực lănh hội nó th́ phải dám cả quyết và có chí nguyện đem áp dụng những lời giáo huấn trong đời sống của ta, bằng không, những trương sách nầy sẽ bị niêm kín lại. Đọc giả rán sức ăn ở theo đó th́ ánh sáng sẽ hiện ra, nếu huynh thờ ơ th́ chẳng những sự đọc sách chỉ đem lại cho huynh một lợi ích nhỏ nhen mà c̣n công kích quyển sách và chê là vô ích nữa. Sách nầy chia ra vài cương mục tự nhiên, Đức Chơn Sư Hilarion, một trong những vị Giáo Chủ, nhân viên Quần Tiên Hội đem nó ra hiến cho đời. Ngài giữ một vai tuồng quan trọng trong công cuộc hoạt động của Học phái Cao Đẳng Thần Học và Tân Triết Học Platon và cũng là một trong những bậc vĩ nhân đă cố gắng bảo tồn Thiên Chúa Giáo. Ngài đă đầu thai nhiều lần, nhất là ở Hy Lạp và La Mă, và đặc biệt chăm nom việc điều khiển cơ tiến hóa của các quốc gia Tây Phương. Trước kia, Ngài tiếp nhận quyển sách nầy y như hiện giờ chúng ta có đây, không có lời chú thích của Chơn Sư Vénitien. Đức Chơn Sư Vénitien là một trong những vị Giáo Chủ mà Đức Bà Blavatsky gọi là Đức Đế Quân. 15 qui tắc ngắn ở phần thứ nhứt và 15 qui tắc trong phần thứ nh́ đă có từ ngàn xưa. Nó viết bằng một thứ cổ tự Bắc Phạn. Đức Đế Quân Vénitien mới thêm vô những câu khác trong những câu cách ngôn ngắn dùng làm nền tảng cho sự huấn luyện Đệ Tử mà ngày nay thuộc về thành phần sách nầy và phải đọc luôn với phần thứ nhứt hầu góp thêm những tư tưởng bổ sung, nếu không, độc giả có thể hiểu lầm được. Trừ phi 30 câu cách ngôn ngắn, th́ tất cả những qui tắc chứa đựng trong hai đoạn sách đều do Đức Đế Quân Vénitien viết ra và trao cho Đức Chơn Sư Hilarion. Bản dưới đây tŕnh bày 15 qui tắc ngắn của phần thứ nhứt y như trong bản thảo cổ viết tay, con số đứng trước mỗi câu là số chánh, c̣n sau câu là số ghi trong sách hiện hữu.

 

 

       --------------------------------------------------------------------------------

       I : Hăy diệt ḷng tham vọng. 

      II : Hăy diệt ḷng tham sống.

      III : Hăy diệt ḷng ham sung sướng.

          -------------------------------------------------------------------------------------

     IV : Hăy hoàn toàn diệt tâm chia rẽ.

      V : Hăy diệt ư niệm cảm giác . 

     VI : Hăy diệt ḷng khao khát tăng trưởng .

  ------------------------- ---------------------------------------------------

     VII : Chỉ nên ham muốn cái chi ở nơi con . 

    VIII : Chỉ nên ham muốn cái chi ở   ngoài con .

     IX  : Chỉ nên ham muốn cái chi  không thể đạt được .

 -----------------------------------------------------------------------------

    X  : Hăy ham muốn quyền năng một  cách hăng hái .

    XI : Hăy ham muốn sự yên tịnh một cách nhiệt thành .

    XII : Hăy ham muốn những sở hữu trên tất cả mọi vật .

-------------------------------------------------------------------------------

    XIII : Hăy tầm Đạo .

    XIV : Hăy tầm Đạo bằng phương pháp đi sâu vào nội tâm .

    XV : Hăy tầm Đạo bằng phương pháp can đảm tiến ra ngoài .

 ------------------------------------------------------------------------------

 

      Trong bản trên đây (chỉ căn cứ vào phần thứ nhứt của sách) không ghi qui tắc 4, 8,12, 16, 20, và 21. Lư do là những qui tắc nầy không thuộc về phần cổ kính  của sách. Cũng như những lời giảng lư đầu tiên và cuối cùng, những qui tắc nầy là phần bổ sung của Đức Đế Quân Vénitien giao lại cho Đức Chơn Sư Hilarion, cũng có vài câu chú thích do  chính Đức Chơn  Sư  Hilarion viết ra. Trong kỳ xuất bản lần thứ nhứt

     (1885) sách chia ra làm ba phần :

    -    Những câu cách ngôn của nguyên bản xưa.

       -    Phần bổ sung của Đức Đế Quân Vénitien.


       -     Lời chú thích của Đức Chơn Sư Hilarion.

 

     Cả thảy đều do Bà Mabel Collins được sử dụng làm một khí cụ phàm trần đặng ghi chép lại. Đức Chơn Sư chính ḿnh dịch sách ấy và chuyển di vô bộ óc xác thịt của bà là người đứng làm trung gian và bàn tay cầm cây viết, là bàn tay của Ngài. Về sau, tạp chí Lucifer có đăng vài bài nhan đề giảng lư do Bà Mabel Collins viết ra dưới ảnh hưởng của Đức Chơn Sư. Những bài nầy rất quí giá, đáng cho chúng ta đọc và học hỏi.

    Giờ đây, mở quyển sách ra, chúng ta gặp trước hết lời tuyên bố sau :

 

     Những qui tắc nầy viết ra cho tất cả các Đệ Tử : Hăy tuân hành.

  Ở đây, xác định sự phân biệt giữa người thế và Đệ Tử, xét một cách tổng quát th́ sách nầy không phải viết để cho người thế tục dùng. Danh từ  Đệ Tử gồm hai nghĩa : người chưa được Điểm Đạo và người đă được Điểm Đạo. Đọc chăm chỉ, ta t́m thấy có hai lời dạy phân biệt dùng trong một danh từ. Mỗi câu có hai nghĩa : một để cho kẻ tiến hóa cao, một để cho những kẻ kém tiến hóa hơn. Chúng ta sẽ cố gắng phân biệt cả hai khi chúng ta đề cập lời tuyên bố mở đầu. Phần thứ nh́ dường như chỉ dành riêng cho Đệ Tử đă được Điểm Đạo, c̣n trong phần thứ nhứt, mỗi câu có hai nghĩa.

        Nhiều người c̣n lâu lắm mới được vào hàng Đệ Tử nên không thể hiểu thấu nổi những qui tắc nầy. Họ thường hay chỉ trích và trách móc sao có tŕnh bày một lư tưởng mà con người không thấy có chút ǵ êm dịu, dễ cảm mến. Thật quả như thế, khi độc giả đứng trước một lư tưởng quá cao siêu đối với y. Một lư tưởng, dù là cao siêu đi nữa, cũng không bổ ích chi cho ai hết, nếu không thu hút được họ. Cho nên, trong khi giao thiệp với đời hăy giữ đúng cái nguyên tắc thực tiển nầy là chỉ nên đem tŕnh bày những lư tưởng nào hấp dẫn họ được. C̣n những thứ sách như loại nầy th́ điều nào đọc giả hấp thụ được là vừa với tầm hiểu biết của họ, họ sẽ hiểu biết, nếu ho ïcó đủ khả năng ứng đáp với tư tưởng đă diễn tả. Những đồ vật hữu h́nh đối với ta có thật là khi nào ta mở những cơ quan đủ sức phản ứng lại ảnh hưởng của chúng nó. Chính ngay lúc đó, chúng ta bị bao bọc cả trăm thứ rung động mà chúng ta không đủ năng lực để cảm biết được. Một ngày kia, Ông William Crookes đưa ra một thí dụ rất hay. Ông cố giảng cho ta biết về điện học, kiến thức ta c̣n thấp kém lắm, mà khả năng tiến bộ mới mẻ của khoa Điện học th́ thật lớn lao. Ông nói : "Nếu, thay v́ mắt ta nhạy cảm với sự rung động của ánh sáng, chúng ta có những cơ quan ứng đáp với sự rung động điện khí th́ tư tưởng của ta đối với cuộc đời sẽ thay đổi đến thế nào ?" Sự khác biệt đối với chúng ta lớn biết là bao nhiêu. Trong bầu không khí khô ráo th́ ta không biết chi cả, v́ không khí khô ráo không dẫn điện. Căn nhà bằng kiến se ơmờ đục, nhưng căn nhà thường th́ trong suốt. Một sợi chỉ bạc sẽ giống như một cái lỗ, hoặc con đường hầm ở không trung. Cái điều mà ta hiểu biết về thế tục tùy thuộc cách chúng ta ứng đáp với những sự rung động của nó. Cũng thế đó, nếu ta không ứng đáp được với một Chơn Lư th́ Chơn Lư ấy đối với chúng ta không c̣n là Chơn Lư. Lại nữa, nếu là sách do những nhà Huyền Bí Học viết ra th́ chỉ có tŕnh độ tiến hóa Tinh Thần của ta mới giúp ta thấu đáo được tư tưởng của họ thôi. Tất cả những phần tư tưởng của họ tinh vi quá, hay cao siêu quá, vượt qua sức hiểu biết của ta th́ cũng như chúng nó không có thật. Sách nầy tưởng thưởng rất nhiều sự tham thiền hơn là việc đọc sách một cách nông cạn. Giá trị chánh của nó là hướng dẫn ta trong sự tham thiền. Hăy chọn một câu và nghiền ngẫm nó, ngưng hẳn mọi hoạt động của Hạ Trí và đánh thức nội tâm trực tiếp với tư tưởng, do đó ta thoát khỏi h́nh ảnh của trí cụ thể, ta có thể thấy Chơn Lư. Nhờ tham thiền ta đemvào óc của ta một phần lớn sự hiểu biết của Chơn Lư do Chơn Nhơn đạt được trên cơi đó.Tuy nhiên, người nào tham thiền mà không chịu đọc hoặc không tuân theo lời Thầy chỉ dạy, nếu cứ tin chắc rằng ḿnh được tiến triển trên cơi Tinh Thần th́ cũng tiến triển một cách chậm chạp thôi. Nhờ cái lợi thêm là vừa đọc, vừa nghe lời giảng dạy, anh sẽ tiến bước mau lẹ. Những bài diễn thuyết hay việc ngồi suy gẫm có thể chuẩn bị cho cái óc để nhờ có tham thiền mà mở mang thêm. Nhưng, đối với người chỉ biết có nghe lời dạy hay đọc sách mà không chịu tham thiền th́ sự tiến tới hầu như không thể được, những sự tiến bộ sẽ chậm chạp lắm. Phải phối hợp cả hai lại. Tham thiền cho nhiều, thêm một ít bài học khẩu truyền và đọc sách, có thể dắt ta đi thật xa.

      C. W. L. - Bài tựa lần xuất bản đầu tiên của quyển Ánh Sáng Trên Đường Đạo vào năm 1885 có kèm theo lời chỉ dẫn dưới đây: " Sách viết ra để đáp ứng lại những người không am hiểu Khoa Minh Triết Đông Phương và mong cầu được tiếp nhận ảnh hưởng của nó". Tuy nhiên, sách lại bắt đầu tuyên bố rằng : " Những qui tắc nầy viết ra dành để cho tất cả những Đệ Tử ". Sách nầy, hiện như chúng ta có đây, vốn do Đức Chơn Sư Hilarion đọc cho Bà Mobel Collins chép ra. Bà là người có tiếng tăm trong giới Thông Thiên Học và hợp tác với Bà Blavatsky xuất bản tạp chí Lucifer. Chính tự tay Đức Chơn Sư Hilarion tiếp nhận sách nầy của Đức Sư Phụ Ngài là một Đấng Cao Cả mà các sinh viên Thông Thiên Học gọi là Đức Vénitien. Phần Ngài chỉ viết có một đoạn trong sách. Cho nên sách đă trải qua ba giai đoạn mà chúng ta sẽ lần lượt xem xét tới. Ngay hiện giờ, nó là quyển sách mỏng, nhưng dưới h́nh thức đầu tiên như ta đă thấy, nó c̣n mỏng hơn nữa. ấy là một bản thảo viết tay trên lá buông, có từ thời thượng cổ, khó mà xác định được từ thời nào, trước thời kỳ của Đấng Christ ra đời, người đă quên ngày tháng và tên tác giả và xem như nguồn gốc của nó biến mất trong lớp sương mù của thời tiền sử. Nó gồm có mười tờ, mỗi tờ ba hàng, v́ bản viết bằng lá buông, các hàng viết theo chiều dọc chớ không theo chiều ngang như hiện giờ. Mỗi hàng đủ trọn một câu cách ngôn ngắn, chữ viết là thứ Bắc Phạn rất cổ. Đức Chơn Sư Vénitien dịch những câu cách ngôn chữ Phạn ấy ra chữ Hy Lạp để cho các đệ tử Ngài tại thành Alexandrie dùng, trong số đó có Đức Chơn Sư Hilarion, hồi Chơn Sư đầu thai làm Jamblique. Chẳng những Ngài phiên dịch mà c̣n phụ thêm lời chú thích mà ta nên cho đi chung với nguyên văn. Thí dụ : nếu ta chọn ba câu cách ngôn thứ nhứt, ta sẽ thấy đoạn số 4 kế tiếp là lời giảng lư. Chi nên phải đọc : - Hăy diệt ḷng tham vọng, nhưng hăy làm việc như những kẻ tham vọng vậy. - Hăy diệt ḷng tham sống, nhưng hăy kính trọng sự sống như những kẻ tham sống muốn vậy. - Hăy diệt ḷng ham sung sướng, nhưng hăy sung sướng như những kẻ sống v́ hạnh phúc. Cũng thế đó, qui tắc 5, 6 và 7 lập thành một nhóm, kế tiếp qui tắc thứ 8 là lời giảng lư do Đức Đế Quân viết ra và cứ thế nối tiếp nhau trong nhiều trang. Nhóm ba qui tắc nầy tŕnh bày như thế không phải chỉ là do sự ngẫu nhiên, ấy là có dụng ư. Trong khi khảo sát ta nhận thấy luôn luôn có sự liên quan giữa ba qui tắc. V́ thế, ba qui tắc kể trên nhắm vào sự thanh bạch của tâm hồn và sự áp dụng trong đời sống tinh thần. Có thể nói, nó vạch rơ điều mà con người phải muốn trở nên và những bổn phận bắt buộc hầu chuẩn bị để hành động. Nhóm thứ hai của ba câu cách ngôn ( 5 tới 8 ) bảo ta phải diệt tánh chia rẽ, mọi ư niệm cảm giác, mọi khao khát tăng trưởng. Nó nêu ra bổn phận con người đối với những kẻ xung quanh ḿnh trên phương diện xă hội. Con người phải nhận thức rằng ḿnh là một với đồng loại, cương quyết từ bỏ sự vui sướng ích kỷ và riêng biệt, diệt tất cả sự khao khát tăng trưởng cá nhân ḿnh và làm việc cho sự tăng trưởng chung của đoàn thể.

        Trong nhóm qui tắc ( 9 đến 12 ) chúng ta họïc điều mà ta phải ham muốn, nghĩa là những điều ở trong tâm ta, ngoài ta và quá sức ta, cố nhiên đó là bổn  phận  của ta đối với Chơn Nhơn. Những  câu  cách  ngôn ( 13 tới 16 ) chỉ về sự ham muốn quyền năng, ham muốn sự an tịnh và ham muốn sở hữu. Những sự ham muốn nầy thảy đều góp phần chuẩn bị ta đặng làm việc trên Đường Đạo. Những qui tắc (17 tới 18) bảo kẻ chí nguyện hăy t́m kiếm Đường Đạo. Những qui tắc hiện mang số 4, 8, 12, vân vân..., là những lời chú thích và bàn giải rộng ra của Đức Chơn Sư Vénitien, hợp với những câu cách ngôn làm thành một quyển sách xuất bản lần đầu tiên vào năm 1885, bởi v́ Đức Chơn Sư  Hilarion dịch chữ Hy Lạp ra tiếng Anh dưới h́nh thức nầy. Khi sách vừa in xong, Ngài có viết thêm một dọc chú thích rất quí giá. Kỳ xuất bản lần thứ nhứt, những lời chú thích nầy in ra trên những tờ riêng biệt, ngoài lề có thoa keo có thể dán vô tờ đầu và tờ chót. Trong những lần xuất bản sau, những lời chú thích mới được cho in vào đúng chỗ của nó. Phần tiểu luận ngắn và thú vị nói về Nghiệp Quả để ở phía sau cuốn sách cũng do tay Đức Chơn Sư Vénitien viết. Phần nầy cũng có in trong kỳ xuất bản lần thứ nhứt. Bản viết tay bằng chữ cổ Bắc Phạn đă dùng làm nền tảng cho quyển Ánh Sáng Trên Đường Đạo cũng được dịch ra bằng chữ Ai Cập. Vả lại, nhiều lời chú thích của Đức Chơn Sư Vénitien bắt ta nhớ đến giáo lư Ai Cập hơn là giáo lư Ấn Độ. Học giả quen thuộc chút ít với tinh thần của nền văn minh cổ Ai Cập sẽ hiểu sách nầy khá hơn. Điều kiện sinh hoạt của cổ Ai Cập hoàn toàn khác hẳn hơn hiện kim, đến nỗi bây giờ ta cũng khó mà cho một ư thức về nó. Tuy nhiên, nếu ta có thể thấy lại được tinh thần của thời xưa, ta sẽ biết được nhiều sự việc mà hiện giờ ta không biết. Ngày nay, chúng ta hay phóng đại sự quan trọng của trí tuệ và thích khoe khoang rằng nền văn minh hiện hữu cao trội hơn nền văn minh cổ thời. Có lẽ, chúng ta hơn họ ở một vài điểm, nhưng ở những điểm khác, ta chưa có phần nào bằng họ được. Vả lại, sự so sánh có lẽ không được vô tư, v́ lẽ nền văn minh của ta c̣n trẻ trung lắm. Trở lại ba thế kỷ về trước trong lịch sử Châu Âu, nhất là trong lịch sử nước Anh, chúng ta sẽ nhận thấy một t́nh trạng kém văn minh lắm. Đem so sánh ba thế kỷ nầy, kể luôn 150 năm tiến bộ về khoa học và vai tuồng thật là quan trọng trong thời kỳ văn minh của ta, với bốn ngàn năm gần như không thay đổi của nền văn minh Ai Cập cường thạnh, ta nhận biết liền sự văn minh của ta không có ǵ quan trọng. Trọn cả nền văn minh bốn ngàn năm ấy có biết bao cơ hội cho họ thực hiện những cuộc thí nghiệm và thu hoạch nhiều thành tích mà ta chưa có. Cho nên, đưa chúng ra so sánh với nền văn minh vĩ đại đă tiến đến cực điểm là quá đáng, v́ chúng ta mới bắt đầu văn minh thôi.

          Giống dân phụ thứ năm chúng ta c̣n xa mức tuyệt đỉnh của sự vinh quang rực rỡ của nó. Chúng nó đi đến mức ấy, nó sẽ nổi bật lên trên tất cả những nền văn minh khác, nhất là ở vài phương diện. Nó sẽ tạo đặc tính riêng và vài đặc tính có thể làm cho ta ít thỏa thích hơn những đặc tính của cuộc văn minh trước. Nhưng, tóm lại nó vẫn tiến tới, v́ những dân tộc nối tiếp nhau ra đời giống như nước triều dâng lên. Mỗi giống dân đến rồi rút lui và giống dân khác tiến tới một chút nữa. Tất cảcác giống dân ra đời, cùng tiến tới tột độ rồi tàn tạ. Đối với chúng ta, ấy là ngọn thủy triều đương lên, thế nên, trong vài phương diện, chúng ta chưa đi đến cái thế ổn định của vài cuộc văn minh cổ đă biểu lộ. Khốn nỗi ! Ta chưa mở được ḷng vị tha vong kỷ và sự tin chắc rằng đoàn thể là trọng hệ hơn chớ không phải cá nhân. Trong vài nền văn minh đă bị tiêu diệt, con người đă tiến đến một điểm, đối với ta dường như là một thứ ảo tưởng, nhưng trái lại ta sẽ mở được nhiều năng lực mà các dân  tộc cổ thời chưa có. Lúc sơ khởi trong lịch sử La Mă có một thời đại ngắn, theo lời của Macaulay là "không có ai lo cho đảng phái, tất cả đều lo cho quốc gia thôi". Đức Pythagore ngơ lời với dân chúng tại Taormine rằng :" Quốc gia tiêu biểu hơn cha mẹ, vợ con, và mọi người phải luôn luôn sẵn sàng đem tư tưởng, t́nh cảm và ư muốn của ḿnh phục vụ quyền lợi cho đoàn thể, cho quốc gia, cho hạnh phúc của mọi người". V́ hạnh phúc chung đó, mỗi người phải vui ḷng hy sinh quyền lợi cá nhân ḿnh. Tại Anh Quốc cũng thế, thời kỳ Nữ Hoàng Elizabeth trị v́ là một thời kỳ của t́nh cảm thống trị, có một phong trào hoạt động ái quốc chân chính. Tôi không muốn nói rằng trong xứ cổ Ai Cập và cổ Hy Lạp, hay xứ nào khác, mọi người đều có một tấm ḷng vị tha vong kỷ, nhưng mà những người nào được giáo dục hoàn toàn đều xét đời về một phương diện rộng răi hơn chúng ta hiện giờ. Họ vẫn nghĩ  đến quốc gia nhiều hơn là nghĩ đến sự sung sướng hay sự tiến hóa riêng của họ. Cũng sẽ đến phiên chúng ta tiến đến tŕnh độ đó khi thời giờ đến. Chúng ta sẽ phải hiểu rơ được những tư tưởng nầy hơn là những giống dân xưa đă hiểu và cũng sẽ t́m kiếm những áp dụng chúng nó mà các bậc tiền nhân chưa được biết. Cho nên, nếu ta có thể thấy lại cái tâm trạng ngày xưa của xứ Ai Cập nầy, ta sẽ hiểu rành rẽ hơn quyển Ánh Sáng Trên Đường Đạo. Trong khi tham cứu từng chương, học giả cố gắng có cho kỳ được thái độ trên đây th́ rất tốt, v́ nó sẽ giúp huynh đặt ḿnh vào địa vị của những kẻ hồi cổ thời, cũng đă chuyên tâm vào công việc tu luyện như ḿnh bây giờ vậy. Điều ấy, không lấy làm khó cho những người trong chúng ta đă luyện tập để nhớ lại những tiền kiếp của chúng ta, tôi c̣n giữ được kiếp chót của tôi ở Hy Lạp, nơi đó, tôi đă tham dự những pháp môn huyền bí Eleusis, cũng như một kiếp khác rất xa xôi, vào thời đại những Đại Pháp môn huyền bí Ai Cập đóng vai tuồng quan trọng mà vài tàng tích hiện c̣n trong Phái Tam Điểm Franc Maconnerie. Tôi học Đạo trong một Tu Viện.. Những kỷ niệm ấy giúp tôi khi đọc những trang sách như thế thu thập được nhiều sự hữu ích hơn là nếu tôi không có chúng nó. Những cảm xúc thường hay những sự hồi ức cho ta có cảm giác như sống lại trong bầu không khí đó, chúng là một hộ lực lớn lao. Quyển sách nầy dù là viết bằng chữ Ai Cập hay chữ Ấn Độ, là một bảo vật hi hữu trong văn học sử Thông Thiên Học, không có quyển sách nào giúp ích cho ta nhiều bằng nó khi chúng ta khảo cứu nó một cách thật chăm chỉ và tỉ mỉ. Như chúng tôi đă giải thích, quyển Ánh Sáng Trên Đường Đạo là quyển thứ nhứt trong ba quyển đă chiếm một địa vị quan trọng duy nhất trong văn học sử Thông Thiên Học, bởi v́ nó chứa đựng những lời giáo huấn của những Đấng đă đi trên Đường Đạo đem dạy lại cho những ai có ư nguyện bước vào con đường đó. Tôi c̣n nhớ lời của Đức Swami T. Subba Rao nói với chúng tôi một ngày kia rằng : " Những câu cách ngôn nầy tŕnh bày nhiều ư nghĩa chồng chất nhau. Nó có thể dùng nhiều lần cho nhiều tŕnh độ khác nhau. Trước tiên, nó hữu ích cho những kẻ có chí nguyện đang theo dơi con đường Nhập Môn. Kế đó, nó dùng cho những người có một tŕnh độ cao hơn, ấy là những người qua ngưỡng cửa của cuộc Đại Điểm Đạo lần thứ nhứt, đă đặt bước vào con Đường Đạo chánh thức. Sau cùng, khi vị Đệ Tử đă thành một vị Chơn Tiên, người ta lại nói với chúng tôi rằng một lần nữa : " Mấy câu cách ngôn  nầy có một ư nghĩa cao thâm huyền diệu hơn, chúng có thể dùng để d́u dắt bậc Siêu Nhân muốn tiến xa hơn và cao hơn nữa". Cho nên, đối với kẻ đọc sách, biết nhận thức được ư nghĩa hoàn toàn huyền bí của sách nầy th́ nó dắt chúng ta đi xa hơn tất cả các quyển khác. Những quyển sách nầy đặc biệt viết ra để thúc đẩy sự tiến hóa của những kẻ đi trên Đường Đạo, chúng tŕnh bày những tư tưởng mà nói một cách tổng quát người đời chưa sẵn ḷng chấp nhận. Chính trong những học giả, cũng có người c̣n phân vân về h́nh thức của giáo lư. Có một cách duy nhất t́m hiểu được giáo lư là thừa nhận nó và thử đem áp dụng vào đời sống của chúng ta. Quyển Dưới Chơn Thầy đă cảnh cáo ta rằng : "Những lời nầy cho là đúng và tốt đẹp th́ chưa đủ. Người nào muốn thành công phải làm đúng theo lời dạy của Chơn Sư, chăm chỉ nghe từng tiếng, theo dơi từng dấu nhỏ nhặt. Những lời đó cũng vẫn đúng với quyển sách này. Kẻ nào không chịu khép đời ḿnh  để sống trong khuôn khổ của giáo lư, luôn luôn chạm trán với những điểm làm cho bối rối không thể nào thừa nhận chúng nó. Nếu, trái lại biết t́m cách đem ra áp dụng vào đời sống của ḿnh th́ cái ư nghĩa thật của giáo lư có thể khởi sự phát lộ. Tất cảsức cố gắng chân thành để sống theo giáo lư đưa đến kết quả là trí ta sáng suốt để thấu triệt được lư sách và đó là cách duy nhất có thể nhận đúng chân giá trị của những lời châu ngọc vô giá ấy.

          Những sách thuộc loại nầy chứa đựng nhiều nghĩa khác hơn là nghĩa từng chữ. Chi nên, mỗi người thu thập sự hiểu biết theo những điều ḿnh đạt đến, nghĩa là tùy theo năng lực đồng hóa phần nào của sách và chỉ đạt được phần đó thôi.

          Chỉ đọc sách và khảo cứu nó cũng chưa đủ, cần phải lấy nó làm đề tài cho sự tham thiền. Hăy lấy những đoạn nào bề ngoài hơi khó hiểu, những câu ẩn nghĩa bí mật, huyền bí hay mâu thuẫn đem ra suy gẫm hay tham thiền. Nhờ đó, nó sẽ giúp huynh hiểu được nhiều hơn, mặc dù thường khi huynh kho ùdiễn tả tư tưởng ấy được. Trong khi tôi đă thử giải cho huynh biết cách thức mà tôi khảo sát mấy điểm khác nhau nầy và việc chúng nó đối với tôi, tôi có cảm tưởng rằng tôi không tỏ bày ư kiến một cách đầy đủ, tôi biết nhiều lúc tôi không sao t́m được danh từ nào giải thích trọn vẹn tư tưởng của tôi, nếu đem ra nói, tư tưởng ấy trở thành tầm thường, vô vị, tuy nhiên, tôi cảm biết trong ḷng tôi nhiều ư nghĩa cao siêu, có lẽ với Thể Trí của tôi. Mỗi tŕnh đo äđều như thế cả. Tất cả những điều chúng ta có thể nhận thức được bằng Thể Trí th́ nên thêm vô đó tất cả những điều nào chúng ta chỉ có thể tự hiểu lấy bằng Thượng Trí và Trực Giác. Dù chúng tôi có phô diễn, luôn luôn cũng có cái ǵ cao sâu vi diệu cứ tiếp tục đơm hoa trổ nụ trong ḷng chúng tôi. Con người là một biểu hiện của Đấng Vô Thủy Vô Chung và ngoài Đấng Vô Thủy Vô Chung ra, không ai có thể giúp chúng ta : đó là sự thật và đó là Chơn Lư mà tác giả quyển sách nầy ân cần nhắc nhở luôn.

 

                                                ** *

 


 

 

                                                                                                                        

                        CHƯƠNG THỨ HAI

                                         -----*****----- 

                              BỐN CÂU CÁCH NGÔN MỞ ĐẦU

 

                          Trước khi thấy được, mắt phải ráo lệ.

 

     A.B. -  Ấy là câu đầu của bốn câu cách ngôn xác định bốn đức tánh cần phải khai triển trước khi bước vào Đường Đạo chánh thức là năng lực thấy, nghe, nói và sau hết là đứng trước mặt Đức Chơn Sư. Nhờ những năng lực ấy giúp ta phụng sự nhân loại đắc lực dưới quyền điều khiển của Ngài. Câu cách ngôn nầy cũng như ba câu cách ngôn kế tiếp đều liên quan đến hai hạng đe ätử. Thuộc về hạng thứ nhứt là những kẻ đang dơi bước trên con đường Nhập Môn, tập cởi bỏ tất cả những ǵ, theo chúng ta hiểu, là thuộc về Phàm Nhơn. Những lời giáo huấn mở đầu nầy để chỉ cho chúng nó việc làm trước tiên là phải lo diệt trừ bản ngă ( Phàm Nhơn ). Thuộc về hạng thứ hai là những Đệ Tử đă được Điểm Đạo. Người ta đ̣i hỏi ở hạng nầy nhiều hơn : học phải cởi bỏ cá tánh của ḿnh hay là Chơn Nhơn c̣n bị chuyển kiếp luân hồi, hầu khi đi mút Đường Đạo, đời sống của họ phải hoàn toàn đặt dưới sự điều khiển của Chơn Thần. Cho nên, ta sẽ nhận thấy mỗi câu của bốn câu cách ngôn có thể thích dụng hoặc cho Phàm Nhơn, hoặc cho Chơn Nhơn. Sự hiểu biết những câu cách ngôn nầy tùy thuộc cách học giả đem thực hành trong đời sống của ḿnh. Ta cần phải chịu khó chú ư và nhớ lại những câu cách ngôn nầy có thể có tới hai phương diện để hiểu khác nhau. Nếu những lời giáo huấn trên đây được các Đấng Chơn Sưt rong Quần Tiên Hội đem ra dạy ta th́ những vị chuyên luyện tà thuật để ám hại người cũng dùng những lời giáo huấn y hệt như thế để dạy Đệ Tử của họ, có khi ta gọi là những anh em trong bóng tối. Có hai cách làm cho mắt có thể ráo lệ. Lư do thúc đẩy kẻ chí nguyện tiến bước chỉ định con đường nó theo dơi. Một trong những con đường ấy là con đường của kẻ muốn thành đệ tử của phái Bàng Môn, y sẽ giải thích câu cách ngôn như một lời dạy nên lănh đạm hoàn toàn đối với sự vui sướng cũng như đối với sự đau khổ. Sự lănh đạm được bằng cách làm cho chai ḷng và tránh tất cả mọi thiện cảm. Kẻ nào kiếm thế để làm cho mắt ráo lệ bằng cách diệt mất mọi cảm giác th́ đi đến gần con đường tăm tối của Tả Đạo. Trái lại, người theo Chánh Đạo th́ không được khóc nỗi đau khổ riêng của ḿnh. Không phải bản tánh thấp hèn của nó làm cho nó lay động, nhưng v́ nó rất chú trọng đến t́nh cảm của kẻ khác. Khó mà lănh đạm trước nỗi đau khổ của con người mà không phương hại đến ḿnh. Bảng kê dưới đây chứng minh sự tương phản của hai con đường :

 

 

---------------------------------------------------------------------------------

            Tả đạo                                               Chánh đạo

Khép chặt tấm ḷng không                 Mở mang năng lực cảm giác đến                  

một mảy phiền năo                          đỗi ứng đáp với tất cả những sự

                                                     rung động của kẻ khác.

----------------------------------------------------------------------------------

Dựng một bức tường bao                 Lật đổ mọi tường rào chia rẽ 

quanh  ḿnh đặng tránh                  không cho ta cảm động trước

mọi đau khổ                                    nỗi niềm đau khổ của kẻ khác

----------------------------------------------------------------------------------

Bóp nghẹt đời sống của nó              Mở mang đời sống của nó.

lại                                                 Con người t́m cách ḥa ḿnh

                                                    trong đời sống của đồng loại

----------------------------------------------------------------------------------

Dắt đến sự chết, sự tiêu diệt,           Dắt đến sự sống, sự trường sanh

cơi A Tỳ.                                          bất tử, cơi Niết Bàn.

----------------------------------------------------------------------------------

 

 

          Sự sai biệt chính yếu của hai phương pháp là phương pháp thứ nhứt không ngớt hướng về sự chia rẽ và sau cùng ở trong t́nh trạng cô lập tuyệt đối, trái lại, phương pháp thứ hai có một mục đích kiên cố về sự đoàn kết và đi đến một t́nh trạng hợp nhất hoàn toàn. Bên Chánh Đạo, kẻ chí nguyện trong khi chung đụng với ngoại giới, phải lần lượt loại trừ tất cả cái chi biểu lộ ra bằng sự đau khổ riêng của ḿnh, và làm lay chuyển con người nó với bao nỗi phiền muộn lo âu. Nó phải đạt đến một tŕnh độ mà mọi sự lo buồn về tư lợi không c̣n nữa. Hẳn nhiên, nó phải từ bỏ tất cả lối sống cá nhân riêng biệt tự do đặng làm thế nào cho thể t́nh cảm (Thể Vía) của nó trở thành một khí cụ độc hữu của Chơn Nhơn. Hay nói một cách khác là nó không c̣n ưa thích hay chán ghét, không c̣n ham muốn hay ước mong, không c̣n hy vọng hay lo sợ, tất cả đều phải tận diệt. Huynh chớ lầm lạc, đây không phải là tiêu diệt thể t́nh cảm, nhưng nó phải tự dưng ngưng hẳn, không ứng đáp riêng cho nó những cảm giác từ ngoại giới đưa vào. Chỉ cần diệt mất lối sống chia rẽ, c̣n thể t́nh cảm phải bảo tồn để dùng vào việc phụng sự nhân loại. Lẽ dĩ nhiên, sự cấu tạo của thể t́nh cảm chỉ cho con người Đệ Tử biết phải sửa đổi tánh t́nh của nó thế nào. Nơi người Đệ Tử thường th́ Cái Vía ( Thể t́nh cảm ) hay thay đổi màu sắc luôn luôn, nhưng khi nó được tinh luyện rồi và đệ tử dứt tuyệt mọi cuộc sống chia rẽ th́ Thể ấy trở thành một khí cụ không màu sắc và sáng chói, phản chiếu sự sống linh hoạt ở nội tâm. Nó không c̣n màu sắc riêng biệt mà chỉ lấy màu sắc của Chơn Nhơn truyền đạt qua. Lúc ấy, nó tựa như ánh trăng rọi xuống mặt nước, lóng lánh như xa cừ, phô bày một thứ rung động mà ta gượng cho là màu sắc. Sự biến đổi nầy thành tựu dần dần trong Thể Vía của người Đệ Tử. Khi mà càng ngày nó càng cố gắng thực hiện công việc khó khăn là cảm động trước mọi thống khổ của đồng loại th́ nó càng phải lănh đạm thờ ơ với mọi thống khổ của chính ḿnh nó phải gánh. Nó có thể đè nén dễ dàng t́nh cảm của ḿnh, nhưng mà phải xúc động trước t́nh cảm của kẻ khác và đồng thời phải giữ đừng cho xen t́nh ư riêng của ḿnh vào ; ấy là một trách vụ rất đổi khó khăn bắt buộc kẻ chí nguyện phải thi hành. Tuy nhiên, càng chuyên cần tập luyện nó càng nhận thấy rằng những xúc động ích kỷ tiêu lần và biến thành những xúc động vị tha. Đệ tử có một phương thế để thử xem ḿnh quả thật có ḷng thiện cảm hay không và tới bực nào ; ấy là huynh có sinh ḷng thiện cảm hay không, khi những nỗi khổ đau của thiên hạkhông c̣n lọt vào mắt huynh nữa. Huynh gặp một kẻ khốn khổ, huynh chứng kiến một hành động hung bạo, có lẽ làm cho ḷng huynh se thắt lại, nhưng huynh liệu có ḷng thương xót như thế khi người đó đă khuất mắt huynh ? Ḷng thiện cảm của ta không đáng giá bao nhiêu, nếu cần phải có cảnh năo ḷng đặng khêu gợi nó. Thử đưa một người đến đô thị lớn như thành phố Luân Đôn chẳng hạn, có thể những cảnh tượng thương tâm thảm mục mà y thấy bao bọc chung quanh ḿnh y, làm cho y xúc động vô cùng. Hăy cho y ở một chỗ khác, y sẽ chóng quên những nỗi thống khổ y đă chứng kiến và thấy ḿnh vẫn hoàn toàn sung sướng. Kẻ Đệ Tử phải tập sống cách nào mà như toàn thể sự đau khổ của nhân loại luôn luôn hiện ra trước mắt nó ; làm nhẹ bớt gánh nặng đau khổ chính là lư do thúc đẩy nó làm việc. Chưa ai đến tŕnh độ mà tiếng gào thét đau thương làm cho nó xúc động như trong quyển Tiếng Nói Vô Thinh  đă nói, trừ phi động lực của đời sống nó là lo giúp đỡ nhân sinh, dầu những sự đau khổ của nhân loại ở trước mắt nó hay không, bởi v́ đó mới quả thật la øđộng lực của Đệ Tử. Phương tiện tốt nhất thoát khỏi Phàm Nhơn, để trở nên lănh đạm đối với mọi niềm sung sướng hay đau khổ của riêng ḿnh, để mắt phải ráo lệ là để cho Cái Trí suy nghĩ đến niềm đau khổ của thế gian, và phương pháp phải theo hầu làm giảm bớt đau khổ ; như thế, điều nầy mới giúp ta thấy được cái bản ngă đúng vào chân vị trí của nó, kề bên bản ngă to lớn hơn mà tượng trưng là toàn thể nhân loại cô đơn nầy. Khi Đệ Tử được Điểm Đạo bắt đầu đạt được trạng thái Bồ Đề Tâm, th́ nó ráo lệ một cách khác nữa. Bấy giờ, nó mới bắt đầu hiểu đặng ư nghĩa của sự tiến hóa, và cảm biết rằng tiến hóa ở đây có nghĩa là sự phát triển của Ba Ngôi Cao ( Atma, Bouddhi, Manas ) ở con người. Nó khởi sự nh́n nhận giá trị và mục đích của tất cả mọi đau khổ và tất cả mọi phiền năo. Dần dần mắt nó ráo lệ v́ nhờ hiểu được sự ích lợi mà nỗi niềm đau khổ đă ban cho những kẻ gánh chịu và nghiệm thấy rằng nếu sự đau khổ đến cho một người nào đó là v́ sự cần thiết tuyệt đối cho sự phát triển cao siêu của Linh Hồn nó. Về mặt lư thuyết, con người có lẽ tránh được sự đau khổ nầy, nếu khi xưa nó biết cách hành động khôn ngoan, bởi v́ nếu sự đau khổ không do ở sự lầm lạc hiện tại th́ nó cũng là kết quả của nghiệp quả xưa. Nhưng xét về mặt thực tế th́ con người trước kia đă ăn ở sái quấy, thích chọn những bài học của sự thử thách ngày nay hơn là bài học Minh Triết, bởi v́ nó không chịu chọn lựa con đường êm đẹp hơn mà đi, thành thử hiện giờ nó đành chịu đau khổ và nhờ có đau khổ mới giúp nó đạt được sự Minh Triết và thúc giục sự tiến hóa của nó.

          Đệ tử am hiểu được tất cả điều nói trên v́ đă tiến tới một t́nh trạng mà ta có thể gọi là một sự thiện cảm hoàn toàn hợp nhất với nó, mà không c̣n sự hối tiếc nào. Khi đời sống cơi Bồ Đề chưa chiếu diệu đến Tâm Thức th́ sự hối tiếc có thể c̣n. Đến khi Bồ Đề Tâm phát sinh, th́ ḷng thiện cảm của Đệ Tử nẩy nở một cách lạ thường, sự hối tiếc lại tiêu mất. Càng tiến bước lên cao, và nh́n thấy chân trời mở rộng, Đệ Tử mắt ráo lệ, v́ đứng trước sự đau khổ khắc nghiệt của con người, nó phải tập làm sao sống lại trong cảnh khổ ấy để tự ḿnh cảm biết nỗi ḷng sâu xa đến bực nào, đồng thời nó nhận thức được mục đích và cứu cánh của sự đau khổ. Đệ tử tiến đến chỗ hoàn toàn chia sớt nỗi niềm đau khổ với nhân loại, nhưng không hề có một mảy may nào mong mỏi cho sự đau khổ được sửa đổi. Muốn đừng có sự ước ao thoát khỏi sự đau khổ trước khi nó kết thành quả th́ Tâm Bồ Đề phải chói rạng. Ấy là điều kiện mà người ta đă gọi là  Tâm Bồ Đề phát hiện.

       Luật Trời là Minh Triết, Thiên ư là toàn hảo và sự đau khổ chuẩn bị một cứu cánh hoàn thiện, v́ vậy, Đệ Tử triệt để vui vẻ và bằng ḷng số phận ḿnh, nó cam chịu đau khổ chớ không hề than van, không hề phiền muộn. Khi Đệ Tử đạt đến tŕnh độ ấy, Tâm Thức nó trở thành một phần tử của đời sống thế gian. Nếu nghĩ đến nó và xưng "Tôi" th́ cũng như  nó thuộc về  một phần  tử  của cái "Tôi" bao  hàm tất  cả  những  cái "Tôi" khác. Từ đó, đối với Đệ Tử, không có cái ǵ sống ở ngoài nó, hay phân cách nó. Nó đồng hóa với đời sống duy nhất vĩ đại nầy, mặc dù ở vào tŕnh độ nào. Mỗi khi đời sống ấy cần sự giúp đỡ, Đệ Tử mất hẳn cái quan niệm rất phổ thông của cơi Thế gian nầy là có nhiều người c̣n biệt lập ở ngoài. Đệ Tử ở trong tất cả và ở với tất cả. Việc thông hiểu được sự hợp nhất có ảnh hưởng sâu xa đến sự giúp đỡ của con người có thể thi thố cho đời. Nếu có trợ giúp ai, nó thông cảm được nỗi niềm đau khổ của người đó cũng như nỗi niềm của chính ḿnh nó, chớ không phải những sự khó khăn của một kẻ khác hơn nó. Nó thấy những sự đau khổ đó cũng như chính người trong cảnh ngộ thấy, và v́ vậy, thay v́ giúp đỡ người ở bên ngoài, nó lại giúp đỡ ở bên trong. Giữa hai cách giúp ấy, sự sai biệt rộng lớn vô cùng. Cách thứ nhứt là giúp tạm thời và ngẫu nhiên, cách thứ nh́ biểu lộ trong đời sống của con người một sự tiến triển về quyền năng. Đệ Tử chỉ có thể đạt đến tŕnh độ nầy là nhờ ở đào luyện được ḷng thiện cảm, tập đồng hóa với nỗi niềm vui vẻ và sự thống khổ của kẻ khác, tạo cho đời ḿnh thành một đời sống chung của tất cả mọi người; bằng chẳng vậy th́ khó mà diệt được tánh chia rẽ. Mắt phải ráo lệ, đối với Đệ Tử, chỉ có một ư nghĩa mà thôi, ấy là phải lănh đạm đối với những ǵ liên hệ đến Phàm Nhơn ḿnh, nhưng không được làm mất sự cảm xúc sâu sắc đối với tất cả những ǵ có ảnh hưởng đến những Linh Hồn khác.

       C. W. L. - Bà Chánh Hội Trưởng của chúng ta đă nói về bốn câu cách ngôn thứ nhứt của quyển sách nầy, khởi đầu bằng câu : " Trước khi thấy được, mắt phải ráo lệ" có thể bị giải thích sai lầm và v́ thế, các anh Bàng Môn cũng như chúng ta đều thừa nhận nó. Ho ïcho ư nghĩa của câu đó như  thế nầy : "Diệt tất cả mọi cảm xúc, bao ḿnh một lớp vỏ và loại ra ngoài những phiền năo và đau khổ của cuộc đời ". Đó mới thật là trái ngược với lời giáo huấn đem dạy các Đệ Tử bên Chánh Đạo, ho ïphải tập khai triển t́nh cảm cho đến một tŕnh độ có thể chia sớt một cách tuyệt đối nỗi niềm đau khổ của nhân loại. Người ta nói nhiều về các vị Bàng Môn Tả Đạo, nhưng tôi tưởng ít người hiểu về họ. Nhờ gặp được nhiều đại diện bên phái đó, tôi dám nói rằng : Tánh t́nh của họ và phương pháp của họ dùng không xa lạ ǵ với tôi cả. Trong bọn họ có vài người đáng để ư, nhưng không nên thân thiện. Danh từ Bàng Môn Tả Đạo để dùng cho nhiều hạng khác nhau. Thí dụ : người da đen ở Nam Phi Châu và quần đảo Antilles, có lẽ những thổ dân ở Úc Châu cũng vậy, rất giỏi luyện những phép tà thuật nhỏ mọn. Thật là đáng thương hại. Chính bọn thổ dân nầy nh́n nhận không có làm thương tổn đến người da trắng được. Trong vài trường hợp, đời sống của người da trắng bị họ khuấy rối rất khó chịu, nhưng phải nói thêm rằng tại cách ăn thói ở của mấy người nầy cho nên họ mới phá được. Muốn thành công, họ thường hay lợi dụng ḷng lo sợ của những người bị họ trù ẻo. Ảnh hưởng của tà thuật tuy yếu ớt nhưng cũng có chút kinh nghiệm, những thổ dân nầy có vài thứ thuốc, họ biết thôi miên, tóm lại, ho ïbiết cách sử dụng được vài quyền năng sai khiến những vị Ngũ Hành ở trên mặt đất và những vị khác cùng loại. Họ có thể làm cho một người kia mắc bịnh hoạn hoặc trọn gia đ́nh y hay là những thú vật trong bầy của y nuôi đau ốm, họ làm khô khan vườn tược, đồng ruộng và phá hoại mùa màn thất bát. Tuy nhiên, trong trường hợp sau nầy, họ hay dùng kèm thêm diêm tiêu để giúp sức cho tà thuật của họ. Một hạng khác, cao hơn, t́m luyện phép thần thông để mưu đồ lợi ích cho cá nhân ḿnh. Họ học được vài cương yếu của Huyền Bí Học và chính đôi khi, họ c̣n tiến khá xa trên con đường đó, nhưng họ giữ lấy một ḿnh quyền năng ấy đặng lợi dụng. Thường thường th́ ho ïnhờ phép tắc đó để làm giàu và tạo uy thế cho ḿnh và toại hưởng sung sướng suốt đời. Sau khi ĺa bỏ trần thế rồi, đôi khi, họ thử dùng phép tắc để tạo một đời sống như hồi c̣n sanh tiền, nhưng rất ít khi thành công nên kế hoạch của họ không thực hiện được. Sớm muộn ǵ, họ không c̣n cái chi cả, và họ biï rơi vào một t́nh trạng nguy khốn cực điểm. Một hạng Bàng Môn khác, và tiến hóa hơn, không mong cầu ǵ cho ḿnh hết, không màng tiền bạc, quyền năng hay thế lực hoặc những cái chi tương tợ, nhờ như thế, phép tắc của họ rất cao cường. Họ sống một cuộc đời trong sạch và có qui củ như trong huynh đệ chúng ta, nhưng họ chọn sự chia rẽ làm mục đích. Ho ïthích đời sống trên những cảnh cao siêu và tránh sự nhập vào Tâm ĐO