Giảng  lư

  DƯỚI CHƠN THẦY

 

 

                                  NGUYÊN TÁC CỦA:

                       ANNIE BESANT và C. W. LEADBEATER

  

                                                                

                    Dịch giả :  CAO NGÂN HÀ và BẠCH LIÊN

  

 

                         LỜI NÓI ĐẦU

 

 

Trong quyển sách này sưu tập những bài b́nh giảng của Ông C. W. Leadbeater - hiện giờ là Giám Mục - và của tôi về ba tác phẩm nổi tiếng, khuôn khổ tuy nhỏ bé, nhưng nội dung thật quan trọng. Cả hai chúng tôi ước mong nó sẽ hữu ích cho những người chí nguyện và ngay cả những người đă vượt qua giai đoạn đó, v́ người diễn giảng cao niên hơn thính giả và do kinh nghiệm, hiểu  biết nhiều  hơn về đời sống của người đệ tử.

Những cuộc đàm luận này chẳng phải chỉ diễn ra ở tại một chỗ mà thôi. Chúng tôi đă nói chuyện với các bạn chúng tôi trong nhiều lúc, và nhiều nơi khác nhau, nhất là ở Adyar, Luân Đôn (London) và Sydney. Rất nhiều chú thích đă được thính giả ghi lại. Tất cả những lời ghi chú có giá trị đều được sưu tập, và sắp xếp có thứ tự rồi tập trung lại sau khi loại bỏ những phần trùng hợp với nhau.

Rủi thay, v́ chỉ c̣n có một số rất ít những chú giải thuộc phần I của quyển Tiếng Nói Vô Thinh, cho nên chúng tôi lấy những chú giải của một vị Thân hữu, bạn đồng nghiệp của chúng tôi, là Ông Ernest Wood đă dùng trong một khóa học ở Sydney. Những chú giải này nhập với những lời b́nh giảng của Giám Mục Leadbeater về đoạn đó. Không t́m lại được một ghi chú nào về những lời b́nh giảng của tôi, mặc dù tôi đă nói nhiều về quyển Tiếng Nói Vô Thinh song những lời diễn giảng đó không c̣n lưu lại.

Tất cả những lời diễn giảng này đều chưa xuất bản, chỉ trừ vài bài diễn văn ngắn của Giám Mục Leadbeater nói với các sinh viên đă được chọn lựa về quyển Dưới Chơn Thầy. Một tác phẩm nhan đề Những lời b́nh giảng Dưới Chơn Thầy đă được xuất bản vài năm qua. Trong đó những lời chú thích của ông không được đúng như lời ông đă nói. Quyển ấy sẽ không in lại. Phần cốt yếu của quyển đó vẫn có trong quyển này, tất cả đều thu gọn lại rồi đem in.

Cầu xin những trang sách đây giúp cho vài huynh đệ trẻ tuổi của chúng ta hiểu biết rành rẽ những bài học vô giá này. Càng nghiên cứu, càng thực hành chúng nó th́ càng nhận thức được nhiều hơn.

 

 

                                                    ANNIE BESANT

 

 

 

 

                             NỘI DUNG       

 

                      GIẢNG LƯ DƯỚI CHƠN THẦY

 

                                                     *

                                                  *    *

 

                            PHẦN THỨ NHỨT: DẪN NHẬP

 

Chương:                                                                                   

I . Đường Đạo và những quyền lợi ở thế gian

II . Sự Điểm Đạo và khi sắp được Điểm Đạo

III . Quyển sách được viết ra cách nào

IV . Lời cầu nguyện đầu tiên

V . Thái độ của người đệ tử 

VI . Bốn con đường dự bị

VII. Bốn đức tánh cần thiết

 

                          PHẦN THỨ HAI: TÁNH PHÂN BIỆN

VIII. Những mục đích  thật và những mục đích

           không phải là thật

IX. Đời sống của ba thể 

X . Điều lành và điều dữ 

XI . Phải tuyệt đối ngay thật

XII .T́nh bác ái và sự sống thiêng liêng       

                                                                            

 

                          PHẦN THỨ BA: TÁNH ĐOẠN TUYỆT

 

XIII. Diệt trừ sự ham muốn

XIV.  Duy có một điều ham muốn tốt hơn hết

XV.  Những phép thần thông

XVI. Những sự ham muốn nhỏ nhen

XVII.  Hăy lo lắng những việc nào có can hệ với ḿnh

 

                        PHẦN THỨ TƯ: HẠNH KIỂM TỐT

XVIII.  Tự chủ trong lúc tư tưởng

XIX. Tự chủ trong lúc hành động

XX.  Đức khoan dung 

XXI. An phận

XXII. Đi thẳng đến mục đích duy nhất - Hay là chú định    

XXIII.  Ḷng tin cậy

 

                        PHẦN THỨ NĂM: L̉NG TỪ ÁI

XXI . Sự giải thoát cơi Niết Bàn và sự giải thoát khỏi ṿng sinh tử

XXV . Ḷng từ ái trong đời sống hằng ngày

XXVI . Sự nói hành

XXVII. Sự hung ác 

XXVIII. Thói dị đoan 

XXIX.  Phụng sự

 

 

                                                      *

                                                  *     *

 

 

                      

 

 

 

 

 

 

 

                       

 

 

                  PHẦN THỨ NHỨT

                                yyyy

 

                           DẪN NHẬP

 

 

                                          ¨¨¨¨

 

                        CHƯƠNG THỨ NHỨT

 

                                         yyyy

         

           ĐƯỜNG ĐẠO VÀ NHỮNG QUYỀN LỢI Ở THẾ GIAN

 

C. W. L.  Quyển Dưới Chơn Thầy là một trong ba quyển (hai quyển kia là Tiếng Nói Vô Thinh và Ánh Sáng Trên Đường Đạo) đặc biệt giúp cho việc bước vào đường Đạo dễ dàng. Hiện thời, giá trị của quyển Dưới Chơn Thầy đối với chúng ta thật là to tát v́ lẽ nó cực kỳ giản dị và đă được Đức Chưởng Giáo sắp lâm phàm đặc biệt thừa nhận. Nó chứa đựng những bài của Đức Chơn Sư dạy người đệ tử ấu thơ của Ngài là J. Krishnamurti, mới 13 tuổi, năm 1909 (Krishnamurti có tên Alcyone trong quyển Những Tiền Kiếp của Alcyone mới xuất bản đây, vào năm 1924).[1] V́ lúc đó Krish­namurti chưa thật giỏi tiếng Anh, mà bài học lại bằng Anh Ngữ, cho nên lời dạy và văn từ phải đặc biệt rơ ràng. Đức Chơn Sư Kouthoumi với tài năng thích ứng phi thường của Ngài, đă tŕnh bày mọi điều kiện để được Điểm Đạo lần thứ nhứt, bằng một ngữ pháp đơn giản tuyệt diệu. Đó là sự hấp  dẫn của quyển sách này.

Quyển Ánh Sáng Trên Đường Đạo xuất bản  năm 1885, và quyển Tiếng Nói Vô Thinh năm 1889. Mỗi tác phẩm đạo đức này đều  có những đặc tính riêng. Chúng ra đời lâu hơn và có tính cách thi vị hơn quyển Dưới Chơn Thầy, dù quyển này cũng có vài câu tuyệt đẹp : điều ấy phải như vậy, v́ tác giả là Đức Thầy Kouthou­mi. Ông Swami T. Subba Rao có nói với chúng tôi rằng quyển Ánh Sáng Trên Đường Đạo có nhiều nghĩa chồng chất lên nhau mà ư nghĩa thâm sâu nhất liên hệ đến bậc Điểm Đạo của Đức Văn Minh Đại Đế (Mahachohan) tŕnh độ cao hơn Đức Chơn Sư của chúng ta hiện nay một bậc. Quyển Tiếng Nói Vô Thinh dẫn chúng ta đến bậc Điểm Đạo của vị La hán  (Arhat). Quyển Dưới Chơn Thầy đặc biệt nói về sự Điểm Đạo lần thứ nhứt. Vậy chúng ta bắt đầu giảng lư quyển này.

Tất cả chúng ta thường nghe kể những điều cần thiết để được  thâu nhận vào đường Đạo, nhưng người ta sẽ nhắc nhở chúng ta những điều kiện cho tới ngày nào chúng ta thực hiện được tất cả những ǵ đă dạy trong những kinh sách như quyển này. Không khó ǵ mà biết thật đúng những điều phải làm; trên con đường chúng ta đi, chướng ngại nào mà chẳng do chúng ta tạo ra? Tuy nhiên những người tuân theo các huấn lệnh ấy tương đối ít lắm, v́ họ thường bị bản ngă của họ cản đường. Điều ǵ đă viết trong những quyển sách này, chính mỗi độc giả phải đem ra áp dụng riêng cho một ḿnh ḿnh. Vị Huấn Sư có thể giảng giải, chỉ dẫn nhiều cách thức khác nhau những điều phải thực hiện, nhưng mỗi người phải tự đi theo con đường riêng của ḿnh. Cũng giống như sự thao luyện đặng dự vào một cuộc chạy đua hay là biểu diễn thể dục, Huấn luyện viên có thể chỉ dạy kỹ lưỡng; thí sinh phải vận động bắp thịt ḿnh, ngoài y ra, trong đời này không có ai làm thế cho y điều đó.

Có hàng triệu người ở chung quanh chúng ta tự cho rằng ḿnh sống đúng theo những huấn giới của Tôn giáo ḿnh, nhưng thật ra rất ít người tuân theo cho đúng. Ngay cả những người có đức hạnh và đời sống thánh thiện thường cũng không triệt để tuân theo tất cả những huấn giới đưa ra cho họ. Trong vài trường hợp, những giáo lư Công truyền có tính cách hoặc không trọng yếu, hoặc không thích hợp, nhưng trong Huyền Bí Học không có huấn giới nào vô ích cả. Phải tuân theo thật đúng đắn tất cả những lời dạy. Điều này không có nghĩa là phải đạt tới mức hoàn hảo tuyệt đối mọi đức tánh trước khi được Chơn Sư thâu nhận. Phải là một vị Siêu Phàm mới đi đến tŕnh độ toàn thiện đó, những kẻ chí nguyện phải có những đức tánh ấy ở một mức độ hợp lư mới được, vả lại chúng phải xác thực chớ không được là những giả tưởng quí mến. Khi một giáo sư  Hóa Học nói với chúng ta rằng khi phối hợp vài chất Hóa Học theo cách nào đó, chúng ta sẽ có vài hiệu quả. Chúng ta biết  rằng những hiệu quả này sẽ sinh ra. Nếu chúng ta thay đổi tỷ lệ, chúng ta sẽ không có cái chúng ta chờ đợi, mà là cái khác. Trong lănh vực Đạo Đức h́nh như người ta cho rằng tuân theo huấn thị một cách mơ hồ và qua loa đă đủ lắm rồi. Trong Khoa Huyền Bí Học, thật khác hẳn : ấy là một Khoa Học, phải xem nó như thế. Dù rằng những điều kiện này đă kể cho chúng ta nghe nhiều lần rồi, phải mong sao cho nhiều người trước kia chưa thành công sẽ có thể bước vào Đường Đạo, sau khi đă học hỏi kỹ lưỡng những điều kiện này, t́m hiểu và tuân hành một cách hết sức đúng đắn những yêu sách. Cái lănh vực nội tâm này không phải xa vời, không phải mập mờ, không chắc chắn. Vài năm trước đây, dường như nó xa cách hơn, v́ những người mà chúng ta quen biết, được giao thiệp trực tiếp với các Đấng Chơn Sư rất ít. Một sinh viên có thể tự nói : "Phải rồi, chỉ có vài ba người có thiên tài đặc biệt, hoặc có diễm phúc lạ thường mới gặp được Chơn Sư, ngoài trường hợp đó, dường như cái đặc ân ấy không phải dành cho những người thường". Nhưng hiện giờ có nhiều người được giao thiệp trực tiếp với các Ngài, và cũng không phải vô lư mà tự nói: "Nếu những người khác thành công, tại sao tôi không làm được như họ?". Nếu ta thất bại, th́ chắc chắn lư do ở nơi ta. Đừng t́m nguyên nhân nào khác ở ngoài, vô ích. Nhất định không phải là lỗi tại Đức Thầy: Ngài luôn luôn hiện diện khi đệ tử sẵn sàng. Có vài người chí nguyện thất bại là tại một khuyết điểm nào đó ngăn cản; ở những người khác có lẽ v́ chưa mở mang đầy đủ các đức tánh. Nếu không có mấy khuyết điểm đó tất cả chúng ta sẽ thành công. Công việc thật đáng làm là hết sức bền ḷng cố gắng t́m xem coi ta thiếu sót cái chi rồi bồi bổ chỗ khuyết điểm.

Có một thế giới bên trong xác thực và quan trọng hơn thế giới bên ngoài mà chúng ta không ngớt chịu áp lực của nó. Ở đâu người ta cũng gặp những người tự cho rằng ḿnh rất bận rộn và họ biết rất rơ rằng họ đang theo đuổi công kia việc nọ. Tuy nhiên, sự thật là những người này đang làm việc trong hư ảo và bề ngoài. Ít ai hiểu biết sự hiện diện của một thế giới bên trong, thế giới tinh thần vô cùng quan trọng hơn thế giới bên ngoài không biết bao nhiêu lần.

Trên Đường Đạo, ta phải đóng vai tṛ của ta ở ngoài đời nhưng nếu ta làm bổn phận đó, cũng chỉ v́ mục đích phục vụ đời sống chân thật bên trong mà thôi. Một diễn viên đóng tṛ trên sân khấu v́ y có đời sống khác phải sống, một đời sống liên tục và kết hợp nhau. Có thể y thay đổi vai tṛ trong nhiều lúc khác nhau; ta cũng giống như y, ta đầu thai nhiều lần và lấy nhiều xác thể khác nhau. Người diễn viên không ngớt sống đời sống chân thật của con người và nghệ sĩ; và chính v́ đời sống chân thật này mà y quyết đóng tṛ thật khéo trong đời sống tạm thời trên sân khấu. Ta cũng thế, ta muốn thành công trong kiếp sống vật chất tạm thời dưới Thế gian, chính v́ Sự Thật vĩ đại bên trong mà đời sống hiện thời chỉ là một phần nhỏ nhít. Hiểu điều đó rồi, chúng ta mới nhận thức được sự trọng yếu tương đối của đời sống bên ngoài: giá trị duy nhất của nó là giúp ta đóng vai tṛ thật hay, dù nó là thế nào chăng nữa. Bản chất của vai tṛ cùng tất cả những ǵ xảy ra cho chúng ta trên sân khấu trần gian này đều không mấy quan trọng. Người diễn viên có thể đóng mọi vai tṛ buồn thảm hoặc những sự khó khăn giả tạo, nhưng y không màng đến chúng nó. Chẳng hạn mỗi buổi tối, y có thể đóng vai bị giết trong cuộc đấu gươm, đấu súng. Sự chết giả này có thể làm thiệt hại y chăng? Điều quan hệ duy nhất làm cho y thích ư là: đóng tṛ cho thật xuất sắc.

Chúng ta phải hiểu một cách dễ dàng rằng thế giới bao quanh chúng ta là một thế giới giả h́nh, giả tạo và bản tánh những sự kinh nghiệm cho chúng ta không có chi là quan trọng. Mọi việc bên ngoài xảy đến cho chúng ta là nghiệp quả của chúng ta, nguyên nhân phát sinh vốn thuộc về mấy kiếp trước và hiện giờ không thế sửa đổi được. Vậy th́ bận  tâm với những biến cố thật vô ích; chúng đến do sự qui định của nghiệp báo quá khứ, nên chúng ta phải nhận lănh một cách kiên nhẫn. Nhiều người không làm như vậy được, họ để cho quả báo gây ra cho họ những sự đau khổ, buồn thảm và lo âu quá độ. Điều phải làm là luôn luôn cố gắng nhận lănh bài học do Luật Nhân Quả mang đến rồi xua đuổi nó ra khỏi Cái Trí, được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Cũng như "Con Ong và Đóa Hoa" theo cách nói của người Ấn Độ, người anh em của chúng ta. Cách trả quả của mỗi người tạo thành tánh khí của y trong tương lai: chỉ có điều này mới là quan hệ thôi. Ta nên dùng quả báo để khai mở tánh can đảm, kiên nhẫn và những đức tánh  khác nữa, rồi xua đuổi nó ra khỏi Cái Trí.

Thật không phải dễ dàng mà thấy được như thế, v́ chung quanh chúng ta cả ngàn người đều cho cái bi kịch này là hệ trọng  và xem nó như đời sống chân thật duy nhất. Những điều họ nói về chúng ta và họ làm cho chúng ta, khiến chúng ta có phần khó chịu, nhưng trên đường chúng ta đi có một chướng ngại hết sức nghiêm trọng hơn (mà ta không nghĩ đến): đó là cái áp lực liên tục không ngừng và vô cùng rộng lớn của dư luận quần chúng. Nó thật là ghê gớm dễ sợ, bởi v́ chỉ có một người biết chân lư sống giữa hàng triệu người vô minh. Họ tự nói rằng: "Chúng ta hăy mau mau thu góp của cải, tiền bạc và lưu tâm đến dư luận quần chúng đối với chúng ta, đó là điều cốt yếu của đời sống". Biết bao tư tưởng rải ra v́ ư nghĩ của những kẻ khao khát danh vọng Trần gian, những kẻ khẩn khoản cầu cạnh được mời dự vào những tiệc tùng, những cuộc khiêu vũ, những kẻ t́m cách biên tên Hầu Tước này, Bá Tước nọ trên bản danh sách của những cuộc viếng thăm của họ. Trong những vấn đề đạo đức chúng ta cũng bị một biển cả bao vây, v́ những người quảng đại th́ rất ít, mà những người khác th́ rất đông đảo. Những ảo tưởng của xă hội cũng dẫy đầy, chẳng hạn tánh "quá đoan trang của người Anh", họ cho là khiếm nhă, không lịch sự trong khi chỉ nghe nói qua loa về t́nh dục. Do đó trẻ  em thiếu  sự hiểu biết sơ đẳng, chúng trưởng thành trong sự nguy hiểm và đôi khi vướng phải tai họa bất ngờ, v́ tật xấu là con sông tuôn chảy không ngừng và kẻ dốt dễ bị sẩy chân. Phong tục thời cổ Hy Lạp và La Mă được xem như là không được đoan chính, tuy nhiên kư ức thuở ấy vẫn c̣n trong trí nhớ tôi khiến tôi phải nói rằng tư tưởng của thời kỳ cổ điển  đó ít bợn nhơ hơn hiện thời tại Âu Châu.

Chúng ta là người biết chút ít hơn kẻ khác về trạng thái bên trong của sự vật, chúng ta phải chống lại trở lực thật sự đáng sợ này và tự nhủ: "Không! Không có ǵ hết. Tất cả mấy điều đó không có thật và chúng ta nguyện cầu xin được dắt từ cơi giả đến cơi chân". Sự Chân thật là sự sống ẩn tàng, đời sống trường cửu, đời sống mà theo danh từ trong Thánh Kinh gọi là đời sống ẩn khuất "Với Đấng Christ trong ḷng Đức Chúa Trời". Luôn luôn, đừng bao giờ quên ư tưởng ấy và chỉ cho ngoại giới như là điều quan trọng phụ thuộc thôi. Điều này không phải dễ làm, nhưng đó chính là điều chúng ta phải thực hiện. Một trong các Đức Thầy của chúng ta có nói rằng: "Người nào muốn theo Chúng Ta th́ phải bỏ thế giới của y để sang qua thế giới của Chúng Ta". Điều đó có nghĩa là phải bỏ đời sống thường nhật ở Thế gian để sống cuộc đời ẩn dật của người tu sĩ, nhưng mà phải hoàn thành mọi nhiệm vụ giao phó cho ta một cách nhiệt thành hơn trước trong tấn kịch kỳ lạ của cuộc sống; nhưng mà người chí nguyện cần phải từ bỏ tư cách  tầm thường  của y  để tập  lấy tư cách của Đức Thầy.

Những ai đă thành công trong sự cố gắng đó, một ngày kia, sẽ  được một Chơn  Sư thâu nhận làm đệ tử.  Khi tư tưởng của đệ tử đă thành một phần tư tưởng của Đức Thầy, th́ tṛ có thể lấy tư tưởng của Thầy mà kiểm soát lại chính tư tưởng của ḿnh. Tư  tưởng của Đức Thầy không bao giờ chịu ảnh hưởng của quần chúng. Như thế đệ tử có thể biết chính xác ư nghĩ của Đức Thầy về một vấn đề nào đó. Chẳng bao lâu thói quen ấy làm cho y hiểu được quan điểm mới đó, mặc dầu y sẽ luôn luôn không ngớt kinh ngạc. Vài điều  trước kia người đệ tử cho là chánh yếu nay đă mất tính cách quan trọng của chúng nó, và trở nên tầm thường; c̣n những điều mà trước kia y nghĩ rằng không đáng kể nay lại vô cùng quan trọng, bởi v́ dù lớn lao hay bé nhỏ, tất cả đều ảnh hưởng đến đời sống hữu dụng của chúng ta. Tất cả những ǵ ảnh hưởng đến sự hữu dụng ấy đều quan trọng: đó là lúc chúng ta chạm trán với Thực tế.

Áp lực của hoàn cảnh gây ra cho cái Trí, trên cơi Trung Giới và cơi Thượng Giới (Trí Tuệ) không có ǵ là cao thượng. Ta hăy để nó ngoài tai và chỉ lắng nghe những âm thanh từ cơi cao, nghe tiếng nói và tư tưởng của Đức Thầy. Chúng ta không có ǵ ngạc nhiên tại sao ngày xưa bên Ấn Độ và các nước khác những người quyết tâm sống đời sống tinh thần, luôn luôn bắt đầu từ bỏ cuộc sống thường nhật, đi trú ẩn trong hang động hay rừng già cô tịch. Như thế họ được lợi trong việc tránh khỏi luồng áp lực của dư luận vô minh và được tự do theo đuổi chí nguyện của ḿnh. Nhiều vị Thánh Thiên Chúa Giáo cũng từ bỏ những hoạt động ở Thế gian để sống ẩn dật hay làm những vị tu sĩ, hoặc kết hợp những người cùng chí hướng với ḿnh. Sự lợi ích của việc lánh Trần c̣n lớn lao hơn đối với ai được diễm phúc sống trong hào quang của Đức Thầy hoặc một đệ tử cao cấp của Ngài. Những làn rung động của vừng hào quang này luôn luôn tác động trên các thể của người đệ tử,  điều chỉnh chúng, làm rơi những thành phần vật chất bất hảo và nuôi dưỡng chúng với những yếu tố mà chúng cần dùng. Người đệ tử phải không ngớt chăm lo việc khai mở một đức tánh nhất định, như đức Bác ái chẳng hạn. Nếu để y luyện tập một ḿnh, y chỉ thực hiện một cách gián đoạn v́ cứ măi quên; nhưng hào quang của Bề Trên giữ y lại trước sự hiện diện của những tư tưởng và t́nh cảm khuôn mẫu mà y muốn tạo nên trong tâm y măi măi. Kết quả đạt được giống như sự điều chỉnh chi thể xiêu vẹo của đứa trẻ: người ta để chi thể đó trong một khí cụ cho đến lúc nó nở nang và lấy lại h́nh dạng b́nh thường. Ở trong hào quang của Đức Thầy, người đệ tử không thể phát sinh  một tư  tưởng xấu, dù y muốn nghĩ đến nó, điều đó cũng không thể xảy ra được. Trong vị thế đó, chúng ta mỉm cười khi xem xét tư tưởng chúng ta ngày hôm qua và chúng ta tự nói rằng: "Không bao giờ tôi có sự cảm xúc này; nó đă tan như giấc mộng". Nhưng ngày mai, khi xa Đức Thầy, có thể chúng ta phải tự phấn đấu quyết liệt mới giữ được tư cách cao thượng mà chúng ta nhận thấy quá dễ dàng trước sự hiện diện của Chơn Sư.

Trong thời đại hiện tại, những người chí nguyện bước vào Đường Đạo phải cố gắng luyện tập trong đời sống hoạt động của họ để đạt được tư cách cần thiết đó, bởi v́ họ được kêu gọi để giúp đỡ nhân loại không phải bằng sự tham thiền hoặc chỉ bằng tư tưởng mà thôi, như một vị ẩn sĩ hay tu sĩ, mà họ phải nhận nhiều công việc khác nhau. Đó là một ư tưởng cực đẹp, một đặc ân lớn lao, nhưng mà khó, khó lắm vậy. Hậu quả của sự khó khăn này: ấy là sự thành công rất hiếm. Thường thường người ta bằng ḷng xem giáo lư Thông Thiên Học giống như một người Công Giáo bậc trung giữ  Đạo của họ, nghĩa là xem nó như một đề tài tuyệt diệu để đàm thoại trong ngày chúa nhật, chớ không phải một ư tưởng phải tuân theo mỗi ngày, từ sáng đến tối. Người sinh viên tự hiến ḿnh một cách nghiêm chỉnh cho đời sống nội tâm không thể ở trong hư ảo; y phải suy luận hợp lư và phải thực tế, y phải không ngớt áp dụng lư tưởng của y  vào đời sống hằng ngày. Sự kiên tâm này khó đạt được. Không phải người ta ít sẵn sàng cố gắng phụng sự lư tưởng Thông Thiên Học : nếu họ có thể giúp đỡ Đức Thầy  hoàn  thành một công việc nhất định cho Ngài, họ sẽ làm, dù phải hy sinh tánh mạng. Hăy nhớ lời của Thánh August­in: "Lắm kẻ muốn chết v́ Chúa, chớ ít ai chịu sống cho Ngài". Chịu  khổ  nhục, tuẫn tiết là ư tưởng trọng đại, anh hùng, là hành vi cao thượng. Nhưng người chấp nhận điều đó biết ḿnh thực hiện được một sự cố gắng phi thường và sự tin chắc này nâng đỡ y, giúp y chịu được sự đau đớn khổ sở; trong chốc lát y làm tṛn nhiệm vụ hy sinh cao cả ấy. Hiện nay bổn phận phải thi hành nặng nề hơn nhiều. Chúng ta không thể duy tŕ mức độ anh dũng này khi những sự lo lắng  nhỏ nhặt cứ măi hiện đến và bao vây chúng ta. Thật khó giữ được tánh t́nh một mực trong khi ngày này qua ngày kia ta phải trông  nom những người nản chí, họ không muốn làm những ǵ mà chúng ta thấy đó là bổn phận của họ. Sống v́ Chúa trong mọi chuyện nhỏ mọn là điều phiền phức khó khăn. Và đúng thế, bởi những chuyện dường như nhỏ mọn cho nên mới khó theo con Đường Đạo.

Ta hăy đọc ba quyển sách này; hăy theo dơi từng lời giáo huấn và xem coi ta có thể thực hiện chúng tới mức độ nào. Nhiều người đă làm điều đó rồi và đă bước vào Đường Đạo. Tại sao chúng ta không thành công như họ? Sự thành công bắt buộc phải thắng phục bản ngă; nó bắt buộc chúng ta phải tự điều khiển ḿnh, nghĩ suy đến những sự việc và nơi nào có cỏ xấu mọc lên, chúng ta hăy nhổ nó. Bề sâu của rễ và sự khổ đau mà chúng ta phải chịu đựng không có ǵ đáng kể. Phải làm cho nó sạch đi. Công việc này thật khó khăn! Nhưng những người đă lên được vài bậc cao trên Đường Đạo quả quyết với chúng ta rằng làm như thế đáng công lắm, đáng công vô cùng, đáng làm một sự cố gắng, nhiều hay ít, hoặc một lần một, hoặc dù phải lập đi lập lại một trăm lần  đi chăng nữa.

 

                                                *

                                             *    *

 

 

 

 

 

                          CHƯƠNG THỨ HAI

 

                                            

             SỰ ĐIỂM ĐẠO VÀ KHI  SẮP ĐƯỢC ĐIỂM ĐẠO

 

 

C. W. L.  Tên quyển sách này đă được Bà Chánh Hội Trưởng (Annie Besant) của chúng ta chọn trong ba, bốn mươi tên khác được đề nghị. Lời đề tặng này cũng vốn của Bà viết cho chúng ta:

 

Xin hiến dâng cho những người đến gơ cửa.

 

Lời tượng trưng này thật rơ ràng: "Anh hăy gơ cửa, người ta sẽ mở cho anh; anh hăy đi t́m rồi anh sẽ gặp". Trong bài tựa Tiến Sĩ  Annie Besant có nói rằng:

 

Tôi được cái đặc quyền như một người chị cả, viết vài lời giới  thiệu quyển sách nhỏ này, tác phẩm đầu tiên của một đứa em c̣n thơ, kỳ thật xác phàm em nhỏ, chớ không phải linh hồn em nhỏ đâu.

 

Đó là điểm rất quan trọng. Trong đời sống hằng ngày, ta c̣n nghĩ  đến cơi Trần và kiếp sống hiện tại nên ta xét đoán tuổi theo thể xác, nhưng về mặt tiến hóa huyền bí, chúng ta xem xét tuổi theo Chơn Ngă, của Linh hồn chúng ta. Phải tránh sự xét đoán dựa theo bề ngoài, dù hầu hết mọi người trên Thế gian đều làm như vậy. Linh hồn trưởng thành một cách liên tục và khi nó tiến cao, nó thường bắt đầu biểu lộ sự tiến hóa của nó qua trí thông minh, sự cảm xúc và năng lực thần bí, dù cho xác thân hăy c̣n trẻ. Alcyone chắc chắn đă chứng tỏ điều đó qua sự tiến triển mau chóng của em. Em tuân hành đúng y những lời huấn thị, cho đến đỗi em thực hiện trong vài tháng những điều ǵ mà người thường cần phải để nhiều năm mới hoàn thành, v́ đối với hầu hết những người chí nguyện, sự tiến hóa này bao hàm sự thay đổi toàn thể tánh t́nh.

Từ đây, những trường hợp như thế sẽ gia tăng v́ Đức Chưởng Giáo sắp lâm phàm. Những vị đệ tử chính của Ngài phải là những người trẻ tuổi và cường tráng, chắc chắn có vài vị không lớn tuổi hơn Ngài. V́ bởi chẳng bao lâu nữa Ngài sẽ đến, cho nên những người được chỉ định vào công việc đó hiện nay phải trẻ tuổi. Chắc chắn trong những đứa trẻ hiện nay sống với chúng ta, có những em sẽ giữ vai tṛ tiên phong, bởi v́ trong số các em được diễm phúc đó có những em sẽ sinh vào một hoàn cảnh thuận tiện cho sự học hỏi của chúng, nghĩa là trong những gia đ́nh Thông Thiên Học.

Chuẩn bị cho sự bất ngờ như thế, chúng ta phải giữ sao cho bất cứ đứa trẻ nào chịu ảnh hưởng của chúng ta phải nghe nói việc Đức Chưởng Giáo sẽ lâm phàm hầu nó biết cái khả năng mở ra trước mặt nó; nó sẽ nắm lấy cơ hội hay không, nhưng nó phải được báo tin trước. Thật đáng buồn cho bậc cha mẹ nào phải nghe đứa con trai hay đứa con gái của ḿnh trách móc như sau: "Nếu cha mẹ nói cho con biết mấy việc này lúc con c̣n bé thơ th́ con có thể nắm lấy cơ hội; nhưng cha mẹ đă để con trưởng thành mà không mảy may hiểu biết ǵ về điều đó; cha mẹ để cho con sống theo thế tục, nên khi cơ hội đến con đă bỏ qua". Chúng ta phải đưa cơ hội, như vậy chúng ta đă làm xong bổn phận, v́ chúng ta không được ép buộc ai hết, ngay cả việc hoạch định một chương tŕnh cho tương lai để chờ linh hồn khác, có thể là cao cả, tuân hành.

 

Những lời giáo huấn trong sách vốn của Sư Phụ em truyền dạy, khi Ngài chuẩn bị cho em được Điểm Đạo.

 

Danh từ Điểm Đạo thường được dùng với một ư nghĩa tổng quát, nhưng ở đây nó là một danh từ chính xác và chuyên môn. Trong những lúc đầu tiên chính là Bà Blavatsky cũng dùng nó một cách sơ xuất. V́ thuật ngữ  của chúng ta ngày nay được xác định rơ hơn, nên danh từ Điểm Đạo phải dành riêng cho những cuộc Đại Điểm Đạo, cho Năm Cấp Bậc trên Đường Đạo Chánh thức theo nghĩa cổ kính. Trong mấy tác phẩm đầu tiên của chúng ta, chúng ta nói về Con Đường Nhập Môn, Con Đường Đạo Thật Sự và Thời Kỳ chính thức như là ba cấp bậc biểu thị sự tiến hóa của con người. Con Đường Nhập Môn là Thời Kỳ Chuẩn Bị, nó đến trước một cuộc Điểm Đạo (là lúc con người "Nhập Lưu") và nó sẽ chấm dứt khi vị đệ tử đắc quả Chơn Tiên. Bốn chục năm qua chúng ta đă nói về sự Điểm Đạo trong Hội Thông Thiên Học; vả lại danh từ này đă dùng cho những nghi lễ của Hội Tam Điểm (Masonie) và trong những nghi lễ khác. Ta phải cẩn  thận, đừng nhầm lẫn các cuộc Điểm Đạo trên với những cuộc Đại Điểm Đạo của con đường Huyền Bí Học.

Như người ta đă nói lúc đầu, thời kỳ chuẩn bị để được Điểm Đạo chia ra làm nhiều giai đoạn tập sự liên hệ đến bốn đức tánh cần thiết được kể trong sách này là: Phân Biện, Đoạn Tuyệt, Hạnh Kiểm Tốt và Ḷng Từ Ái.

Gọi các đức tánh này là cấp bậc th́ không đúng cũng như nói về các cuộc Điểm Đạo đem từ cấp bậc này qua cấp bậc kia kế tiếp nhau. Bốn đức tánh cần thiết đó không cần phải mở mang theo thứ tự chỉ định, thứ tự đă được kể ra trong các bản văn Đông phương cổ kính, mà bổn phận chúng ta chắc chắn là phải hoạch đắc chúng một lượt. Đối với người này một đức tánh nào đó có thể dễ dàng hơn đối với người kia.

Đức tánh Phân Biện được kể ra đầu tiên, v́ nói tóm lại sự bước vào  Đường  Đạo của con người tùy thuộc vào nó. Các  Phật tử  gọi đức tánh  Phân Biện  là Manodvaravajjana hay là "Sự mở cửa Cái Trí." Nói cách khác, lần đầu tiên Cái Trí con người mở ra đặng biết rằng chỉ có sự kiện tinh thần mới là chơn thật, c̣n đời sống theo thế tục thường t́nh chỉ làm mất th́ giờ thôi. Người Ấn Độ gọi đức tánh này là Viveka có nghĩa là Phân Biện. Người Công Giáo gọi nó là sự  Hoán Cải (Conversi­on), một danh từ khác rất có ư vị, bởi v́ nó nhập lại ư nghĩa của sự trở về và sự  gặp gỡ. Hai danh từ này do chữ La Tinh Verto là tôi quay lại và Cum là với.

Nó có nghĩa là con người từ trước đến nay đi theo con đường riêng của ḿnh, không hề nghĩ đến Thiên ư; bây giờ biết được phương hướng của Thiên ư đă qui định cho ḍng tiến hóa nên tự quay lại để tuân theo. Trong nhiều ḍng Thiên Chúa Giáo, ư nghĩa của danh từ Hoán Cải bị biến tính : nó chỉ là trạng thái của chứng giựt gân hay loạn thần kinh; tuy nhiên, người ta c̣n t́m thấy ở danh từ đó ư niệm quay về và tuân theo Thiên ư. Ấy cũng là tư tưởng của vị Sứ Đồ Thiên Chúa Giáo khi Ngài nói rằng: "Các ngươi hăy thương mến những việc ở trên trời, chớ đừng quyến  luyến những việc dưới Thế gian".

Nếu Đường Đạo có nhiều cấp bậc kế tiếp th́ trong sự giao tiếp riêng tư giữa đệ tử và Đức Thầy chuẩn bị cho y được Điểm Đạo cũng có nhiều mức độ khác nhau được xác định. Chỉ có Quần Tiên Hội thừa lệnh Đấng Duy Nhất Chí Tôn Cầm Quyền Điểm Đạo là Đấng Chúa Tể, và nhân danh Ngài, mới được phép Điểm Đạo. Nhưng sự liên hệ giữa đệ tử và Sư Phụ của y vẫn có tính cách cá nhân. Ban đầu, người ta có thể chấp nhận làm Đệ Tử Nhập Môn, kế đó làm Đệ Tử Thiệt Thọ rồi bậc thứ ba làm Con Đức Thầy. Đó là những sự liên lạc riêng tư, ta không được lầm lộn nó với những cuộc Điểm Đạo do Quần Tiên Hội tấn phong.

Sự Điểm Đạo lần thứ Nhứt là một cấp bậc chấp nhận con người làm một nhân viên của Quần Tiên Hội. Từ trước đến giờ người chí nguyện chưa thật sự đặt chân trên con Đường Đạo, nhưng y chuẩn bị cho công việc  đó. Sự Điểm Đạo này không phải là một sự  tấn phong độc đoán; nó là sự chứng nhận một giai đoạn tiến hóa đă đạt được, giai đoạn mà ngày xưa người ta gọi là hợp nhất Bản Ngă Cao Siêu với Bản Ngă thấp hèn, sự liên hiệp giữa Chơn Nhơn và Phàm Nhơn. Ai muốn làm thí sinh để được Điểm Đạo lần thứ Nhứt th́ phải hoạch đắc những đức tánh cần thiết đă kể ra trong quyển này và y phải làm cho Phàm Nhơn thành ra sự biểu hiện của Chơn Nhơn. Không c̣n một Phàm Nhơn nào có thể bắt buộc Chơn Nhơn phải kính nể và có những ư muốn chống đối với những ư muốn của Chơn Nhơn c̣n mắc vào ṿng luân hồi từ  kiếp này qua kiếp kia.

Sự thay đổi xảy ra lúc bây giờ được tŕnh bày trong những đồ h́nh của quyển Con người hữu h́nh và vô h́nh. Thể Vía của người dă man hiện ra những màu sắc biểu lộ tất cả những t́nh dục thấp hèn; chu vi nó không đều đặn v́ con người không kiểm soát được nó. Nhân Thể (hay Thượng Trí) và Hạ Trí không liên lạc nhau. Thượng Trí dường như trống rỗng, không màu sắc; c̣n Hạ Trí th́ mở mang chút ít, nhưng chỉ mới bắt đầu liên lạc với Cái Vía. Thể Vía của người dă man dẫy đầy những cảm xúc và những dục t́nh  phức tạp không liên hệ ǵ với trí khôn. Chúng không khiến y suy nghĩ; y không biết suy nghĩ là ǵ. Những sự đam mê hiện diện và lôi cuốn y.

Trái lại, trong người tiến hóa, tất cả những thể này đều phối hợp chặt chẽ với nhau. Nhân Thể đầy đủ chớ không trống rỗng; tất cả những màu sắc khác nhau biểu lộ những đức tánh cao thượng đă được khai mở trong Thể này và Nhân Thể bắt đầu chiếu hào quang ra tứ phía để giúp đỡ kẻ khác. Hạ Trí cũng biểu lộ những màu sắc như thế, ít dày đặc hơn một chút nhưng vẫn đẹp; nó tiêu biểu cho Nhân Thể ở cơi thấp. Đến lượt Thể Vía, nó phản ảnh Hạ Trí song có hơi đậm và dày hơn, v́ cảnh giới của Cái Vía thấp hơn.

Phàm Ngă của người dă man tự biểu lộ đủ thứ cảm xúc và dục t́nh mà Chơn Nhơn chắc chắn không tán đồng; nhưng ở người tiến hóa, chỉ có những cảm xúc mà Chơn Nhơn muốn có mà thôi. Y chọn lựa những cảm xúc thay v́ chịu làm tṛ chơi cho chúng. Y nói: "T́nh thương là một điều rất đẹp; tôi muốn ḷng tôi rạt rào mến thương. Ḷng Sùng Đạo là một điều rất đẹp, tôi khao khát được ḷng Sùng Tín. Ḷng Thiện Cảm đẹp biết bao! Tôi muốn ḷng ḿnh đầy Thiện Cảm." Và y thực hiện điều ấy với tầm mắt mở rộng và có ư thức. Như thế những cảm xúc được đặt dưới sự kiểm soát của Hạ Trí là sự biểu hiện của Nhân Thể; như vậy chúng ta gần đạt đến chỗ hiệp nhất hoàn toàn Chơn Nhơn và Phàm Nhơn.

Không nên tưởng có sự hiện diện của hai nhân vật trong con người. Không hề có một Phàm Nhơn nào hiện ra như một người độc lập, nhưng Chơn Nhơn cho tách rời một phần nhỏ nhít của Ngài để vào Phàm Nhơn đặng kinh nghiệm những làn rung động của những cơi thấp. Rồi Phàm Nhơn trở nên linh động hơn Chơn Nhơn nhiều v́ nó ở trong giai đoạn mà nó có thể đáp ứng với những sự rung động đó; cho nên, nó quên rằng nó thuộc về Chơn Nhơn; nó dấn thân vào cuộc đời v́ việc riêng của nó và hành động theo ư nó hơn là dưới sự điều khiển của Chơn Nhơn. Tuy nhiên, trải qua nhiều kiếp luân hồi, Chơn Nhơn trở nên mạnh mẽ. Thế rồi con người mới nhận ra Phàm Nhơn chỉ là sự biểu hiện của chính ḿnh và ḿnh là Chơn Nhơn c̣n phải luân hồi. Và mỗi lần Ngài muốn chỉ huy, thay v́ vâng lời th́ Phàm Nhơn vơ vẫn đi lạc đường và cần được kiềm chế. Ta có bổn phận phải đào luyện Phàm Nhơn thế nào để  cho nó thành ra sự biểu  hiện của Chơn Nhơn và chỉ của Chơn Nhơn thôi. Đó chính là điều mà Ông Sinnett gọi là "Thề nguyền trung thành với Chơn Nhơn." Trong quyển Tiếng Nói Vô Thinh có khuyên ta rằng: Người đệ tử phải hủy diệt Thể Nguyệt Tinh: tức là Thể Vía. Điều này không có nghĩa là sát hại Thể Vía, nhưng Cái Vía của chúng ta chỉ hiện hữu như là một sự biểu hiện của cái ǵ ở trên  cao hơn  nó và thay v́ có những dục t́nh và những  cảm xúc riêng biệt, nó sẽ chỉ phản chiếu những h́nh ảnh do Chơn Nhơn chọn lựa mà thôi.

Điều kiện này phải đạt được trước khi được phép tŕnh diện để được Điểm Đạo lần thứ Nhứt. Con người phải có sự kiểm soát Xác Thân, Cái Vía và Cái Trí của ḿnh; chúng phải là tôi tớ của Chơn Nhơn. Cái kỹ luật này đ̣i hỏi ở người thường một sự cố gắng lớn lao. Nhiều người nói: "Tôi không làm nổi điều đó đâu. Đừng nói với tôi điều đó, vô  ích". Như vậy là đem tŕnh bày cho y một lư tưởng quá cao siêu một lần một. Trái lại, điều đó không phải là một sự cố gắng quá sức đối với những người đă nhiều năm tham thiền và suy gẫm về những vấn đề ấy. Thật ra, không phải dễ mà tiêu diệt lần hồi từ cái này đến cái kia không biết bao nhiêu dục t́nh và sự ham muốn, để khắc phục Cái Vía và Cái Trí. Đó là công việc khó nhọc nhưng hết sức đáng cho con người ra công làm. Kết quả đạt được so với sự cố gắng sẽ vô cùng lớn lao hơn, dù đă cố gắng mănh liệt đến đâu. Tự dọn ḿnh đặng có thể phụng sự một cách thật hữu hiệu Đức Chưởng Giáo là một sự khích lệ, một sự kích thích phụ vào công việc khó nhọc này. Những người được Điểm Đạo không phải v́ sự  ích  lợi riêng cho cá nhân họ, hoặc để tránh sự mệt nhọc và đau khổ ở Thế gian, mà để họ có khả năng cộng tác với Thiên Cơ cao cả.

Trong đời sống con người, có vài sự thay đổi vô cùng quan trọng hơn tất cả những cái khác. Điều thứ nhất xảy ra lúc con người có cá tính, thoát kiếp thú và chuyển kiếp làm người để bắt đầu thực hiện Chơn Nhơn. Điều quan trọng thứ hai là được nhận vào hàng Chơn Tiên; khi được Điểm Đạo lần thứ Năm, con người mới rời bỏ hàng ngũ nhân loại để bước vào giai đoạn siêu nhân. Đó là mục đích dự định cho tất cả mọi người; đó là mục tiêu mà chúng ta phải cố gắng đạt được trong dăy địa cầu hiện nay. Khi thời kỳ này chấm dứt, người nào đă hoàn tất điều ǵ mà Trời đă muốn cho nhân loại, đă tuyệt đối tuân theo Thiên Ư về những điều kiện liên hệ với y th́ sẽ được thoát kiếp làm người. Nhiều người trong chúng ta có thể đạt được mục tiêu đó trước thời gian kết thúc rất lâu.

Trong khoảng thời gian giữa hai sự thay đổi này, có một việc thứ ba rất quan trọng, đó là: "Sự Nhập Lưu," khi được Điểm đạo lần thứ Nhứt. Thể thức được đọc khi thu nhận thí sinh vào Quần Tiên Hội có mấy lời này: "Bây giờ đây, luôn luôn con vẫn được an toàn; con đă nhập lưu; cầu chúc cho con, không bao lâu đây, sẽ qua tới bờ bên  kia". Người Thiên Chúa Giáo gọi người Tân Đạo Đồ là người được "Cứu Rỗi" hay được an toàn. Điều đó có nghĩa là, trong triều lưu tiến hóa hiện tại, chắc chắn y không bị ở lại đàng sau; chắc chắn y không bị mất hàng ngũ trong ngày "Phán Xét" của cuộc Tuần Hoàn sau, như một cậu học tṛ bê trễ quá nên không theo kịp chúng bạn trong lớp.

Người được Điểm Đạo lần thứ Nhứt, phải qua cuộc Điểm Đạo lần thứ Nh́, lần thứ Ba và lần thứ Tư trước khi đến tŕnh độ Chơn Tiên, tức là được Điểm Đạo lần thứ Năm, và khi đạt được quả vị này Ngài hiệp nhất được Chơn Thần với Chơn Nhơn, cũng như trước đây Ngài hiệp nhất Chơn Nhơn với Phàm Nhơn. Khi con người hoàn toàn hiệp nhất Chơn Nhơn với Phàm Nhơn rồi th́ Phàm Nhơn không c̣n nữa, trừ phi nó là sự biểu hiện của Chơn Nhơn; bây giờ c̣n một việc tương tự như thế chờ đợi người Đạo Đồ một lần nữa, đó là làm cho Chơn Nhơn thành ra sự biểu hiện của Chơn Thần. C̣n một giai đoạn khác giống như thế đang mở rộng ở phương trời xa thẳm chăng? Chúng ta không biết điều đó. Tuy nhiên chắc chắn khi đạt đến quả vị Chơn Tiên chúng ta sẽ thấy mở ra trước mắt một viễn ảnh hướng thượng vinh  diệu hơn nhiều.

Người ta thường hỏi sự cuối cùng của cuộc tiến hóa đang mở ra trước mắt chúng ta sẽ ra sao? Riêng tôi, tôi không biết nó sẽ chấm dứt hay không. Một hôm, một Đại Triết Gia có nói: "Không thể nào quan niệm được sự tiến hóa có mức cuối cùng, mà cũng không thể nào quan niệm được sự tiến không có mức cuối cùng; nhưng trong hai lẽ đó phải có một cái đúng". Có người nói về nhập vào Đấng Tối Cao: Chúng ta không biết ǵ về điều này. Chúng ta chỉ biết rằng Tâm Thức của chúng ta tiếp tục mở rộng; và phía trước nó, có nhiều mức độ mới lạ nối tiếp nhau, cao hơn tŕnh độ chúng ta. Chúng ta biết rằng có thể tiếp xúc với cơi Bồ Đề và Tâm Thức chúng ta mở ra rộng lớn vô cùng, chúng ta vẫn chính là chúng ta, đồng thời chúng ta thành ra những  người khác và cao cả hơn.

Kinh nghiệm này không hề cho chúng ta cái cảm giác rằng chúng ta đă mất cá tính rồi. Nhưng chúng ta có cảm giác đă mở rộng nó đến mức có thể gia thêm vào năng lực cảm xúc của chúng ta sự cảm xúc của những kẻ khác. Ai có thể đạt đến mức đó trong lúc tham thiền th́ nên tiếp tục việc ấy. Nhờ sự khai triển không ngừng, Tâm Thức không ngớt mở rộng ra cho đến lúc bao trùm chẳng những nhân vật cực kỳ cao thượng mà cho tới những nhân vật thấp thỏi hơn nó; tuy nhiên, những nhân vật cực kỳ cao thượng v́ dũng mănh hơn và sử dụng được một năng lực ghê gớm, nên cảm biết trước hơn mấy người kia. Một sự khai triển Tâm Thức như thế vẫn tăng dần; người ta phải mở một con đường xuyên qua tất cả những cảnh thấp của cơi Bồ Đề. Rồi chẳng bao lâu, người ta tập mở Kim Thân là Thể Bồ Đề. Ấy là một thể mà con người có thể tùy ư sử dụng trên cao độ phi thường này, nơi đó các bầu Thế giới chỉ là một, nơi đó con người có thể vượt qua không gian mà không phải đi qua theo nghĩa thông thường như ta hiểu chữ này.

V́ nhiều người trong chúng ta đă kinh nghiệm sự kiện ấy, nên chúng ta có quyền cho rằng trong tương lai Tâm Thức này cũng khai mở như thế. Chúng ta đă đạt được sự hiệp nhất mà không có cảm giác mất cá tính, cũng không bị ch́m đắm trong biển cả sáng ngời, như lời của thi sĩ diễn tả. Trái lại, dường như cái biển cả sáng ngời nó tuôn tràn vào giọt nước.

Đúng thật là một quả quyết mâu thuẩn, nhưng cái đó là cảm giác đă nhận thức của người đă mở Bồ Đề Tâm; cái Tâm Thức của giọt nước mở rộng ra và thành Tâm Thức của biển cả. Đó là sự kiện đối với chúng ta như thế. Tại sao không giả sử rằng ngay bây giờ không có cái ǵ thay đổi trong phương thức đó? Ta không thể quan niệm được sự nhập vào một sự sống khác làm cho chúng ta mất Tâm Thức mà chúng ta phải dày công lắm mới hoạch đắc được. Tôi tin rằng Tâm Thức này sẽ mở mang cho đến ngày chúng ta hiệp nhất với Đức Thượng Đế, nhưng chỉ trong ư nghĩa mà Đấng Christ đă nói: "Các con là những vị Thượng Đế; tất cả các con là con của Đấng Tối Cao."

Chúng ta có thể nh́n lại cái quá khứ xa xăm của sự tiến hóa và chúng ta cũng có thể thấy được tương lai xa thăm thẳm ở phía trước. Do đó chúng ta có thể tin chắc vào tương lai, nó tiêu biểu hàng triệu năm hoạt động hữu hiệu trên những mức độ tuyệt diệu, nơi đó sự quang vinh, uy lực và t́nh bác ái không thể quan niệm nổi ở  dưới Thế  gian này. Chúng ta hăy xem xét vấn đề trên quan điểm chánh lư. Chúng ta hy vọng hiểu biết cách nào? Nếu hiện nay chúng ta có thể hiểu biết được mức cuối cùng của mấy điều đó th́ nó quả là tầm thường lắm, không cân xứng với tất cả những giai đoạn xảy ra trước nó.

Trí tuệ của chúng ta c̣n hạn hẹp, chúng ta không biết được giới hạn của nó ở đâu; phải thấy sự phát triển cao siêu, người ta mới bắt đầu hiểu rằng cái trí khôn mà con người rất hănh diện thật chẳng ra ǵ cả, nó chỉ là một khởi điểm, là hạt giống của cái cây tương lai. Đem so sánh với trí khôn mai sau th́ hiện nay con người chỉ có Cái Trí của đứa trẻ con; quả thật là trí khôn của đứa trẻ con đầy hứa hẹn, v́ nó đă hoàn thành nhiều công việc và có hy vọng nó sẽ hoàn thành nhiều hơn nữa. Nhưng, so sánh với Cái Trí của những Đấng Cao Cả th́ nó chỉ là Cái Trí của một đứa bé thơ thôi; như vậy nó không thể vươn lên đến chỗ thật cao mà cũng không thể xuống sâu đến chỗ thật thâm diệu, nên chúng ta không thể bảo nó hiểu được chỗ khởi thủy và chỗ cuối cùng. Về phần tôi, tôi thú nhận ngay với tất cả sự thành thật rằng tôi không biết được mục đích của Đấng Tối Cao. Tôi chỉ biết một điều là Ngài có thật.

Nhà Siêu H́nh Học và Triết gia đă suy nghiệm thuần lư về vấn đề này, sự cố gắng làm phát triển rất nhiều Hạ Trí và Thượng Trí của họ. Những người nào thích tưởng tượng cứ suy tưởng, không có hại chi cả; nhưng tôi tưởng, họ phải hiểu rơ rằng đó chỉ là những điều tưởng tượng. Các nhà Triết học không nên biến đổi những lư thuyết của họ thành ra hệ thống và mong mỏi chúng ta chấp nhận v́ có lẽ đúng là họ đă bỏ qua nhiều yếu tố căn bản. Riêng tôi, tôi không suy luận thuần lư, khi cảm thấy rằng sự huy hoàng và sự vinh quang đang chờ chúng ta đă đủ, để thỏa măn những khát vọng của chúng ta rồi. "Những điều ǵ mà mắt không thấy được, tai chẳng nghe được và cũng không sắp đặt sẵn trong ḷng người, đó là những điều mà trời đă chuẩn bị cho những người mà Ngài Thương".[2]

Đó là chính sự thật hôm nay mà cũng là sự thật hồi hai ngàn năm trước.

 

 

                                              *

                                           *    *

 

 

 

 

 

 

 

                          CHƯƠNG THỨ BA

 

                                                  

        QUYỂN SÁCH ĐƯỢC VIẾT RA BẰNG CÁCH NÀO ?

 

C. W. L.  Lời tựa của Tiến sĩ Besant (hồi tháng 12 năm 1910), giải thích  kế  đó, cách Alcyone đă viết quyển sách.

 

Và em viết thuộc ḷng lại mấy lời này một cách chậm chạp và khó khăn, v́ năm trước em chưa giỏi tiếng Anh  như bây giờ.

Một phần lớn cuốn sách vốn lập lại y nguyên lời của Chơn Sư, c̣n câu nào không phải lời của Ngài th́ cũng là tư tưởng của Ngài do em diễn tả lại. Có hai câu bỏ sót, Ngài chữa lại. Trong hai chỗ khác, em quên một chữ, Ngài thêm vô. Trừ ra mấy điều đó, tác phẩm này hoàn toàn của Alcyone, ấy là món quà đầu tiên của em hiến cho đời.

 

Riêng tôi, tôi có thuật lại câu chuyện xảy ra như thế nào trong  quyển Chơn Sư  và Thánh Đạo.

Cũng khá dễ mà thuật lại quyển sách nhỏ ấy được viết trong trường hợp nào. Mỗi đêm tôi có bổn phận phải dắt đứa trẻ này ở trong Cái Vía của nó đến nhà Đức Thầy, để Ngài giáo huấn nó. Mỗi lần, Ngài để ra trong khoảng mười lăm phút đặng giảng dạy nó rồi khi mỗi bài chấm dứt Ngài tóm tắt những điểm quan trọng mà Ngài đă giảng, hoặc bằng một câu, hoặc bằng nhiều câu. Như thế Ngài làm ra một toát yếu rất dễ để em học thuộc ḷng. Sáng mai, em phải nhớ lại rồi chép ra. Quyển Dưới Chơn Thầy gồm những câu tóm tắt lời giảng dạy của Đức Thầy bằng những từ ngữ riêng của Ngài dùng. Krishnamurti chép lại hơi khó khăn những lời này, v́ hồi đó em chưa giỏi tiếng Anh. Em thuộc ḷng tất cả những bài này nên không lo ngại về số phần của những chú thích mà em đă ghi chép. Nhưng sau đó ít lâu, Krishnamurti đi Bénarès với bà Hội Trưởng của chúng ta, ở đó, em viết thơ về Adyar cho tôi, yêu cầu tôi thu thập và gởi cho em tất cả những câu ghi chú những lời Đức Thầy đă dạy em. Tôi cố gắng xếp đặt lại thật rơ ràng những lời ghi chú này và đánh máy ra.

Đối với tôi, dường như một phần lớn những lời ghi chú đó chính là lời của Đức Thầy. Tôi muốn thật chắc chắn không có sự sai lạc trong khi chép nên tôi đă đem dâng lên Đức Thầy Kouthoumi những bản đánh máy và cầu xin Ngài vui ḷng đọc lại tất cả. Ngài đọc và đổi một hoặc hai chữ ở chỗ này, chỗ kia, thêm vài chữ để liên kết và giải thích, và vài câu khác mà tôi nhớ có nghe Ngài đă nói. Rồi Ngài nói: "Phải, như vậy đúng; cái này được"; nhưng Ngài nói thêm: "Chúng ta hăy đem mấy tờ này tŕnh lên Đức Di Lạc". Và Đức Thầy với tôi cùng đi, Ngài cầm bản thảo và tŕnh lên Đức Chưởng Giáo. Đức Chưởng Giáo đọc và tán thành. Chính Ngài nói: "Huynh phải làm cho nó thành một quyển sách nhỏ xinh đẹp đặng giới thiệu Alcyone cho đời". Chúng tôi không hề có ư nghĩ giới thiệu Alcyone với Thế gian; và chúng tôi tưởng không đáng cho nhiều luồng tư tưởng tập trung vào một đứa bé mới mười ba tuổi đầu c̣n cần sự học hỏi và sự giáo hóa. Nhưng trong giới huyền bí, chúng tôi phải làm những ǵ người ta nói với chúng tôi, v́ vậy quyển sách này được giao cho nhà in ngay buổi sáng hôm sau.

Tất cả những sự phiền phức mà chúng tôi đă tiên kiến khi quyển sách nhỏ này được xuất bản sớm, đă xảy ra. Tuy nhiên Đức Chưởng Giáo hữu lư và chúng tôi đă lầm, v́ cái tốt đẹp do quyển sách đó mang lại đă vượt xa vô hạn những nỗi ưu phiền do nó đă gây ra cho chúng tôi. Thật thế, có hàng ngàn người viết thư cho chúng tôi biết rằng đời sống của họ đă thay đổi hoàn toàn và họ thấy mọi vật đều khác hẳn, chỉ v́ đă đọc quyển sách ấy. Quyển Dưới Chơn Thầy đă được dịch ra hai mươi bảy thứ tiếng, xuất bản khoảng bốn mươi lần, hoặc hơn nữa và có trên một trăm ngàn quyển đă in ra. Qua trung  gian của quyển sách này một công tŕnh tuyệt diệu đă hoàn thành. Và trên tất cả, nó được Đức Chưởng Giáo sắp lâm phàm đặc biệt cho phép ấn hành. Điều này đă tăng thêm giá trị của nó, bởi v́ qua nội dung của quyển sách nhỏ này người ta có thể suy diễn được phần nào giáo lư của Đức Chưởng Giáo.

 

 

                                              *

                                           *    *

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                         CHƯƠNG THỨ TƯ

 

                                           

                       LỜI CẦU NGUY&#