M Ụ C  L Ụ C

BÀI DIỄN THUYẾT I .   THẾ NÀO LÀ YOGA ?

1. Vũ trụ là ǵ ?

2. Sự khai mở tâm thức.

3. Chơn Ngă duy nhất.

4. Làm thế nào để phát triển Chơn Ngă một cách nhanh chóng ?

5. Yoga là một khoa học.

6. Hai phần trong con người.

7. Các trạng thái của Trí tuệ.

8. Samadhi.

9. Về sách Yoga.

10. Vài định nghĩa.

11. Thượng Đế ở ngoài và ở trong ta.

12. Những Biến đổi của Tâm thức và những Rung động của Vật chất.

13. Trí thức.

14. Các giai đoạn của Trí thức.

15. Tâm thức hướng ra ngoài hay xoay vào trong.

16. Đám mây.

BÀI DIỄN THUYẾT II .  CÁC MÔN PHÁI YOGA Ở ẤN ĐỘ

1. Sự liên quan của Yoga với các môn phái triết học Ấn.

2 . Trí thức.

3 . Thể Trí.

4 . Cái Trí và cái Ngă.

BÀI DIỄN THUYẾT III .  YOGA LÀ MỘT KHOA HỌC

1. Những phương pháp Yoga.

2. T́m cái Ngă bởi cái Ngă.

3. T́m cái Ngă bằng cái Vô Ngă.

4. Yoga và Đạo lư.

5. Sự cấu tạo các trạng thái cái Trí.

6. Vui sướng và Đau khổ.

BÀI DIỄN THUYẾT IV

YOGA TRÊN PHƯƠNG DIỆN THỰC TẾ

1. Sự ngăn chận các trạng thái của cái Trí.

2. Tham thiền hữu chủng và vô chủng.

3. Sự sử dụng chân ngôn.

4. Sự định trí.

5. Các trở ngại.

6. Những khả năng về Yoga.

7. Ra đi và Trở về.

8. Tinh luyện các thể.

9. Bọn giữ cửa.

10.  Sự chuẩn bị.

11. Đoạn Kết.


 

ĐƯỜNG VÀO YOGA 
AN  INTRODUCTION  TO  YOGA
Tác giả   ANNIE  BESANT   Dịch giả   Vũ thị Dung


 LỜI  TỰA

Những bài diễn thuyết trong quyển sách nầy nhằm mục đích phác họa đại cương của khoa Yoga để chuẩn bị sinh viên nghiên cứu và thực tập Giáo lư Patanjali , một tác phẩm quan trọng nhất về Yoga. Với sự cộng tác của bạn tôi là Bhagavan Das, tôi đă dịch giáo lư nầy cùng các lời b́nh luận của Vyasa, kèm một bản chú giải khác viết theo ánh sáng Thông Thiên Học.

Để công việc chuẩn bị nầy được rơ ràng, tôi sẽ trích dẫn nhiều đoạn trong giáo lư của Patanjali. Tuy nói rằng các bài diễn thuyết nầy dành cho sinh viên, chớ chúng nó cũng có thể đem lại cho các độc giả một vài kiến thức về khoa Yoga, Khoa học của các Khoa học, và khuyến khích một vài người khác lưu tâm nghiên cứu khoa quan trọng nầy.

                                                            ANNIE BESANT 
 


  

BÀI  DIỄN  THUYẾT   I

 


THẾ NÀO LÀ YOGA ?

Trong buổi nói chuyện đầu tiên nầy, chúng ta t́m hiểu khoa Yoga một cách tổng quát, xác định vị trí của nó trong trật tự thiên nhiên, và vạch rơ các đặc tính và mục đích của nó trong cơ tiến hóa của nhân loại.                                      

         VŨ TRỤ LÀ G̀ ?

Trước hết, ta hăy nh́n thế giới xung quanh chúng ta. Lịch sử của nó nói lên những ǵ ? Nó hiện ra như một đại cảnh linh động, trong đó con người hoạt động không ngừng, sự việc xuất hiện liên tiếp, nhưng sự thật, đó chẳng qua là các tṛ múa men của những bóng mập mờ. Các dân tộc, các vua chúa, các chính trị gia, các quan lớn quan nhỏ, các đạo binh hùng hậu, tất cả chỉ là nhân ảnh. C̣n các sự việc như là chiến tranh và cách mạng, hưng thịnh và suy vong của các quốc gia th́ xa sự thật hơn nữa. Dù các sử gia có khảo cứu sâu rộng đến mức nào cũng vậy, dù tâm trí của họ bao quát đủ mọi lănh vực từ nền móng kinh tế, tổ chức xă hội đến các khuynh hướng tư tưởng th́ họ cũng chỉ lẩn quẩn giữa những h́nh, những bóng phóng ra do các sự thật vô h́nh. Cơi đời là do ảo ảnh dựng lên và những giá trị mà ta gán cho nó, đều sai lạc. Biết bao sự việc được người đời quí trọng nhưng lại không có một giá trị ǵ dưới mắt của các nhà huyền học. Những hạt kim cương chói ḷa chẳng qua là những mảnh kiếng vụn đối với người hiểu biết.

Ngai vàng, điện ngọc, quyền thế, vinh quang của người đời không có một nghĩa lư ǵ đối với ai đă thoáng thấy Chơn Ngă uy nghi. Vậy th́ cái ǵ là thật, cái ǵ là quí ? Câu trả lời của chúng ta sẽ khác hẳn câu trả lời của người đời.

Vũ trụ có là v́ Chơn Ngă.

Đấng Tạo hóa lập ra Vũ trụ không phải để cho chúng ta góp công tô điểm hay chiếm đoạt những điều mong ước, cũng không phải để cho người đời đẹp tai, vui mắt. Đành rằng Vũ trụ là một kỳ công với ṿm trời xanh thẳm, với núi cao trắng tuyết, với thung lũng xinh tươi hoa lá, với trùng dương bát ngát lúc an tĩnh dịu dàng, khi ba đào rào rạt, nhưng các sự ấy sở dĩ có không phải chính cho chúng nó mà v́ sự ích lợi của chúng đối với Chơn Ngă : tất cả ở chúng nhằm giúp Chơn Ngă biểu hiện.

Mục đích duy nhất của cơi đời tuyệt mỹ với các nỗi vui buồn là giúp Chơn Ngă biểu lộ quyền năng của Nó. Từ tinh vân đến Thượng Đế, tất cả sở dĩ có là v́  Chơn Ngă. Hạt bụi li ti ở cơi Trần, vị Đại Thiên Thần cao cả ở Thiên giới, cọng cây mọc ở kẹt đá, ngôi sao chiếu trên trời cao, tất cả sở dĩ có là để cho những mảnh nhỏ của cái Ngă ẩn trong muôn vàn sắc tướng có thể thực hiện bản tính duy nhất của chúng và biểu lộ các quyền năng của chúng xuyên qua vật chất.

Ở hạt bụi nhỏ nhoi cũng như trong vị Thần cao cả, đều có một nguyên lư duy nhất : Chơn Ngă. Ấy là các Jivatmas, các Điểm linh quang sống động; chúng là Mamamsaha , là một phần của Ta như Đức Krhisna đă gọi. Vũ trụ có là v́ chúng. V́ chúng mà mặt trời mọc, mà sóng cuộn, gió thổi, mưa sa : có vậy, Chơn Ngă mới lần lần ư thức được ḿnh đang biểu hiện trong vật chất, đang ẩn ḿnh trong Vũ trụ.  

SỰ KHAI MỞ TÂM THỨC

Một trong các ư niệm quí báu mà Thông Thiên Học không ngừng nhắc đến là các sự việc vẫn lập đi lập lại măi theo một trật tự nhất định, trong các cuộc tuần hoàn lớn hay nhỏ. Nhờ vậy,khi ta hiểu được một cuộc tuần hoàn là ta sẽ hiểu được các cuộc tuần hoàn khác. Sự xây dựng Vũ trụ và sự xây dựng con người đều theo những qui luật y hệt nhau. Những luật qui định sự khai mở quyền năng của cái Ngă trong Vũ trụ từ tinh vân đến Thượng Đế cũng là những định luật chi phối sự phát triển tâm thức ở con người. Nếu bạn hiểu các định luật ấy trong cái nầy th́ bạn sẽ hiểu được trong cái kia. Nắm vững chúng trong cái lớn, bạn sẽ hiểu được cái nhỏ dễ dàng.

Sự tiến hóa từ viên đá đến Thượng Đế tiếp diễn trong một thời gian dài như vô tận. Trong phạm vi nhân loại, thời gian đăng đẳng ấy thu lại trong một cuộc tuần hoàn ngắn, ngắn đến đỗi như không có. Ở mỗi cá nhân, trong một cuộc tuần hoàn c̣n ngắn hơn nữa, một sự tiến hóa tương tự diễn tiến nhanh chóng nhờ các sinh lực tạo được trong quá khứ. Các sinh lực nầy biểu hiện và thức động lần lần trong cuộc tiến hóa và mỗi lúc đều được tăng cường. Khởi đầu, chúng nó phát triển, củng cố và kiện toàn trong loài kim thạch; rồi khi trở nên quá thanh cao đối với giới kim thạch, chúng sang loài thảo mộc. Ở loài nầy, chúng nó cũng phát triển tính chất thiêng liêng thêm măi cho đến lúc chúng nó trở nên quá dũng mănh đối với loài nầy th́ sang loài cầm thú. Chúng nó tiếp tục phát triển măi và đồng hóa các kinh nghiệm đă thu thập được ở loài nầy, và đến một lúc nào đó, chúng vượt qua khỏi tầm mức thú cầm để tiến sang nhân loại. Trong con người, chúng vẫn tăng trưởng nhanh chóng để rồi cũng phá vỡ giới hạn con người và tiến từ hàng nhân loại sang bậc siêu nhân. Sự diễn tiến cuối cùng nầy là Yoga.

Con người tăng trưởng như thế nào ? Ở quá khứ, nhân loại trên quả địa cầu nầy đă tiến hóa trong một thời gian rất dài ở nhiều dăy khác, tiến hóa như tôi đă nói, từ kim thạch sang thảo mộc, từ thảo mộc sang cầm thú, từ cầm thú đến con người và khi thành người, nhân loại được di chuyển từ mặt trăng sang qua bầu chúng ta đang ở mà chúng ta gọi là trái đất. Ở đây, chúng ta có đằng sau chúng ta tất cả sinh lực của một quá tŕnh tiến hóa rất dài, nhờ vậy mà khi chu kỳ tiến hóa ngắn ngủi hơn là Yoga bắt đầu, th́ một sức mạnh chất chứa từ lâu thúc đẩy chúng ta, nên chúng ta tiến rất mau. Chúng ta phải liên kết Yoga của chúng ta với sự khai triển tâm thức tổng quát qua các giai đoạn của nó., nếu không, chúng ta không sao hiểu nó được. Là v́ sự tiến hóa tâm thức trong Vũ trụ cũng giống hệt các định luật của Yoga, các nguyên tắc qui định việc khai triển tâm thức trong cuộc đại tiến hóa của nhân loại cũng là những nguyên tắc qui định Yoga nhằm khai mở nhanh chóng tâm thức của mỗi người. V́ vậy, trái với nhiều người tưởng, Yoga không có ǵ mới mẻ cả. Sự tiến hóa luôn luôn có tính cách duy nhất ngay từ lúc khởi thủy, với các giai đoạn giống nhau, với các kết quả y nhau. Dù bạn nghiên cứu sự khai mở tâm thức trong Vũ trụ, trong toàn thể nhân loại hay trong một cá nhân, những qui luật bạn phải học là những qui luật chung. Trong Yoga, bạn tập áp dụng các qui luật ấy để phát triển tâm thức của bạn. Tất cả định luật đều là một, mặc dù có vẻ khác nhau ở mỗi giai đoạn tiến hóa.

Khi bạn nh́n Yoga như thế, nó không c̣n xa lạ nữa. Trái lại, trong lúc bạn tập mở mang tâm thức, bạn sẽ t́m hiểu luôn sự tiến hóa tương ứng của các h́nh thể, và bạn sẽ hết ngạc nhiên khi được biết rằng một ngày kia, bạn sẽ vượt giới hạn con người để bước vào hàng tiên thánh trong một cơi mà bản tính thiêng liêng sẽ bộc lộ rơ ràng hơn.    

CHƠN NGĂ DUY NHẤT

Chơn Ngă ở con người và Đại Ngă trong Vũ trụ là một. Các khí lực vô biên biểu hiện trong trời đất đều có ở bạn trong trạng thái tiềm tàng như những mầm non. Ngài, Đấng Tối Cao, Ngài không c̣n tiến hóa nữa. Ở Ngài, không có cái ǵ tăng cái ǵ giảm. Các Jivatmas, các Điểm linh quang ở con người, là một phần của Ngài, và chúng nó cố phát triển quyền năng sẵn có của chúng trong vật chất lúc gặp hoàn cảnh thuận tiện. Khi bạn ư thức rơ ràng sự duy nhất của vạn thù, bạn sẽ thấy Yoga là một điều có thể thực hiện được.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHÁT TRIỂN CHƠN NGĂ

MỘT CÁCH NHANH CHÓNG ?

Hiện nay, các bạn là những người có học và biết suy tư. Như thế, bạn đă tiến qua một quăng đường dài từ hạt bụi  là h́nh thể đầu tiên của Đấng Thánh Linh  đến Thánh điện thờ Ngài là h́nh thể bây giờ của bạn. Đấng Thánh Linh ngủ ở kim thạch, thức động ở thảo mộc và cầm thú, và đến con người th́ tiến tới một mức rất cao mà người vô minh tưởng là tột đỉnh. Đến đây bạn há dừng chân sao ? Tại sao bạn lại không tiến nữa ? Tâm thức của bạn há không thể khai mở thêm để đạt quả vị tiên thánh sao ?

Bạn cần ư thức rơ rằng, các định luật tiến hóa của sắc tướng và các định luật phát triển tâm thức ở Vũ trụ và ở con người đều giống nhau, và chính các định luật nầy giúp nhà yogui khai mở các quyền năng ẩn tàng của họ. Có thế, bạn sẽ không nhất thiết phải rút vào núi, vào hang, hoặc phải ẩn trong rừng sâu hay sa mạc mới có thể hợp nhất với Chơn Ngă, v́ Chơn Ngă lúc nào cũng hiện diện trong bạn cũng như ngoài bạn. Đôi khi, v́ mục đích riêng biệt nào đó, sự ẩn dật cũng hữu ích, và thỉnh thoảng, chúng ta cũng nên lánh xa các nơi phồn hoa náo nhiệt. Dù sao, chúng ta phải ghi nhớ rằng Thượng Đế dựng nên Vũ trụ là để khai mở quyền năng của Chơn Ngă, vậy chính tại đó, nhà yogui mới t́m được môi trường thích hợp nhất gồm đầy đủ yếu tố cần thiết được dự trù bởi minh triết thiêng liêng. Nếu mục đích ở cơi đời là để mở mang Chơn ngă th́ tại sao ta lại trốn nó ? Hăy đọc Đấng Krishna trong quyển kinh quan trọng nhất về Yoga là quyển Bhagavad Gita , Ngài dạy đạo ngay ở băi chiến trường chớ không phải trên đỉnh núi, và Ngài dạy cho một chiến sĩ đang xông pha trên mặt trận chớ không phải một tu sĩ ẩn dật trong rừng sâu. Yoga phải được tập ngay ở băi chiến trường. Những ai không đối phó nổi với cuộc đời th́ cũng không đủ sức đương đầu với các khó khăn của Yoga. Nếu bạn thảm bại trước ngoại cảnh th́ làm sao bạn có thể chiến thắng các khó khăn nội tâm ? Nếu bạn chùn chân trước phiền năo nhỏ nhặt của cuộc đời, làm sao bạn có thể mong ước vượt qua các nỗi khó khăn mà các nhà yogui hằng gặp ở mỗi bước đường ? Lầm lạc thật nhiều cho những ai nghĩ rằng muốn đạt đạo th́ phải xa lánh cuộc đời, và muốn được b́nh an th́ phải ẩn dật ở một nơi hẻo lánh.

Thực ra, ở quá khứ bạn đă tập Yoga một cách vô tâm, tập ngay từ lúc bạn chưa có một tâm thức riêng biệt, tự ư thức được nó. Vậy th́ nguyên tắc đầu tiên phải nhớ kỹ, Yoga chẳng qua là một cách mở mang tâm thức có phương pháp và nhanh chóng.

Do vậy, chúng ta có thể định nghĩa Yoga như là sự áp dụng hợp lư những định luật mở mang tâm thức vào trường hợp cá nhân. Phương pháp Yoga chỉ có thế : bạn t́m hiểu các định luật khai mở tâm thức của Vũ trụ rồi bạn áp dụng vào trường hợp riêng của chính bạn. Bạn không thể áp dụng nó cho một người nào khác mà chỉ để riêng ḿnh thôi. Đó là một nguyên tắc chính yếu. Vậy định nghĩa của tôi cần được bổ túc như sau : Yoga là sự áp dụng hợp lư những định luật mở mang tâm thức cho mỗi trường hợp cá nhân.

YOGA LÀ MỘT KHOA HỌC

Nguyên lư thứ hai cần nhớ : Yoga là một khoa học. Quả thế, Yoga là một khoa học chớ không phải là mộng ảo hay một mớ kiến thức tưởng tượng, mù mờ. Nó là một khoa học thực dụng, một hệ thống định luật rơ ràng và mạch lạc nhằm một mục đích nhất định. Nó căn cứ trên các định luật của khoa tâm lư về sự mở mang toàn thể tâm thức của con người ở các cơi và áp dụng chúng nó vào các trường hợp riêng. Sự áp dụng hợp lư các định luật về sự mở mang tâm thức nầy cũng theo đúng các nguyên tắc được áp dụng hằng ngày ở các địa hạt khác nhau của khoa học. Chung quanh bạn, bạn có dịp thấy khi trí thông minh hợp tác với thiên nhiên th́ nhiều cuộc diễn tiến thiên nhiên được gia tốc một cách phi thường. Chúng ta thường phân biệt giữa sự tăng trưởng nhân tạo và sự tăng trưởng thiên nhiên không phải là không có lư, v́ trí thông minh con người có thể hướng dẫn sự diễn tiến các định luật thiên nhiên. Khi chúng ta đề cập đến Yoga, chúng ta cũng ở trong địa hạt khoa học thực dụng y như người làm vườn hay người chăn nuôi áp dụng các định luật thiên nhiên trong việc chọn giống. Họ không thể vượt qua các định luật thiên nhiên và cũng không thể chống lại được. Họ phải tuân theo các định luật chi phối sự tiến hóa vạn vật, nhưng họ có thể thực hiện trong một vài năm một công việc mà tạo hóa phải mất cả ngàn năm mới làm xong. Bằng cách nào ?  Bằng cách sử dụng trí thông minh của con người để chọn các định luật thích ứng và giải trừ các định luật chống đối. Như vậy, trí thông minh giúp chúng ta sử dụng hợp lư các quyền năng thiêng liêng tổng quát vào những mục tiêu riêng.

Hăy xem người nuôi chim bồ câu. Từ chim cu xanh họ đă tạo được một giống bồ câu lông xù và đuôi rẽ quạt. Họ làm sao mà được thế ?  Họ chọn từ đợt chim nầy đến đợt chim khác những con có đặc điểm y muốn. Đoạn y pha giống, tạo những cơ hội thuận tiện, lựa đi lựa lại như thế măi cho đến khi y được cái giống đặc biệt y muốn tạo thành. Nếu trí thông minh không tiếp tục hướng dẫn, cứ bỏ mặc chúng th́ các con bồ câu nầy sẽ trở lại giống đầu tiên.

Hăy xem người trồng tỉa. Với loại hoa hồng dại, họ đă tạo đủ thứ hoa hồng nhà rất đẹp. Hồng năm cánh ở hàng rào, sản phẩm của thiên nhiên, nay đă trở thành hoa hồng nhiều cánh. Họ đă làm sao ? Họ lấy phấn hoa của cây nầy đặt vào nhụy cái của cây kia, nghĩa là họ làm công việc của con ong, con bướm, nhưng họ chọn cây nào có những đặc điểm vừa ư và chọn đi, chọn lại măi như thế cho đến khi nào họ sản xuất được một giống hồng đẹp. Hồng nầy khác hẳn hồng dại, khác cho đến nỗi bạn phải theo dơi từ đầu mới biết được nguyên lai.

Sự áp dụng của định luật tâm lư trong khoa Yoga cũng thế. Yoga là sự áp dụng vào trường hợp cá nhân các qui tắc mà chúng ta được biết về sự khai mở tâm thức chúng ta ngay trong cơi đời, v́ cơi đời là một kỳ công của Thượng Đế, rất thích hợp với mục đích nầy. Do vậy, nhà yogui một khi đă chọn mục tiêu th́ t́m được ở cơi đời tất cả những ǵ ông cần để thực tập Yoga và hiểu biết Chơn Ngă một cách nhanh chóng. Định luật th́ nhiều, ông có thể lựa cái nào cần, bỏ qua những cái không hữu ích, áp dụng cái thiết yếu và nhờ thế, ông có thể đạt những kết quả mà thiên nhiên phải mất rất nhiều thời gian mới thực hiện được.

Như vậy, Yoga không quá sức bạn. Một vài lối thực tập Yoga bậc thấp, một vài cách áp dụng đơn giản những qui luật mở mang tâm thức sẽ giúp ích bạn ở cơi nầy và ở nhiều cơi khác nữa. Là v́ bạn sẽ gia tốc sự tăng trưởng của bạn khi bạn biết lợi dụng các quyền lực mà thiên nhiên ban cho bạn và giải trừ các điều kiện  vô ích hay có hại cho bước tiến của bạn. Nếu bạn quan niệm Yoga như thế thay v́ đọc một vài đoạn sách Phạn ngữ dịch sai th́ Yoga sẽ trở nên một điều hữu ích và thực tế, và bạn sẽ thấy rằng muốn trở nên một nhà yogui, bạn không cần đợi một kiếp lai sinh. 

 HAI PHẦN TRONG CON NGƯỜI

Có nhiều từ ngữ dùng trong khoa Yoga cần được biết rơ. Bởi v́ khoa nầy nhằm một mục đích đặc biệt và nghiên cứu con người dưới một khía cạnh khác thường, nên ở con người nó chỉ biết có hai phần : phần trí và phần thể. Dù sao con người cũng là một đơn vị, đơn vị tâm thức. Đó là một điều phải hiểu rơ. Trong các lớp vỏ chỉ có một con người mà thôi, vậy người ThôngThiên Học cần kiểm chính các ư niệm của ḿnh khi khởi đầu học Yoga. Để hiểu sự cấu tạo con người, Thông Thiên Học phân chia con người ra nhiều thành phần, và sự phân chia nầy rất cần và rất đúng. Chúng ta nói đến thể xác, thể vía và thể trí hay Sthula-sarira, Sukshma-sarira, Karana-sarira và v.v. . . Đôi khi, chúng ta cũng chia con người ra Anna-maya-kosa, Prana-maya-kosa, Mano-maya-kosa v.v. . . Nếu chúng ta chia con người ra nhiều thành phần như thế là để t́m hiểu cho rành rẽ, nhưng v́ chia như vậy, chúng ta thường quên hẳn con người đi mà chỉ lưu ư đến các thành phần nầy.

Yoga có tính cách vừa thực tế vừa tâm lư. Tôi không chỉ trích sự phân chia thường thấy ở các môn học bởi sự phân chia ấy rất cần, nhưng v́ mục đích thực tế, Yoga chỉ xem con người có hai phần : phần trí và phần thể, nghĩa là một đơn vị tâm thức trong một bộ vỏ bao quanh. Hai phần nầy không phải cái Ngă và cái Vô Ngă. Là v́ trong Yoga, Chơn Ngă có nghĩa là tâm thức cộng những chất liệu mà nó không thể phân biệt là khác nó, c̣n Vô ngă là những ǵ nó có thể bỏ qua một bên.

Con người không phải là Chơn Ngă thuần túy hay tâm thức thuần túy, là Samvid. Trong Vũ trụ cụ thể, tâm thức luôn luôn hiện ra trong những lớp vỏ lắm khi rất tinh vi. V́ vậy, đơn vị tâm thức bao giờ cũng kết liền với vật chất, và Jivatma hay Chơn Thần luôn luôn gồm thêm một phần vật chất.

Để được rơ ràng, khoa Yoga dùng hai từ ngữ để tŕnh bày sự cấu tạo con người, ấy là Prana và Pradhana : sinh khí và vật chất. Prana không phải chỉ là sinh khí của xác thân, mà là toàn thể sinh lực của Vũ trụ hay nói một cách khác, là phần sống của Vũ trụ.

Thần Indra nói : Ta là Prana. Prana đây là toàn thể sinh lực, là tâm thức, là trí tuệ. Pradhana có nghĩa là vật chất. Đối với nhà yogui, cái vỏ là những chất liệu của ngoại cảnh thuộc về con người họ, nhưng họ cố tách rời khỏi nó và phân cách nó khỏi tâm thức họ.

Sự phân chia nầy rất quan trọng và hữu ích nếu bạn hiểu nó tận gốc. Lẽ dĩ nhiên, khi bạn nh́n vấn đề trong toàn thể, bạn sẽ thấy Prana (sự Sống cao cả hay Chơn Ngă) luôn luôn hiện diện trong mọi vật, và các vỏ, các thể cũng hiện diện ở mọi mức độ, dưới những h́nh thức khác nhau. Tuy nhiên, theo quan điểm Yoga thực hành th́ Prana hay Chơn Ngă là những ǵ mà con người c̣n xem như là chính ḿnh, cả những cái vỏ vật chất mà tâm thức chưa thể tách ra được. Đối với nhà yogui, đơn vị ấy là Chơn Ngă, bởi vậy nó có thể xem như là một định lượng có thể biến đổi. Nhà yogui tập vứt bỏ lần lần các thể và mỗi lần thế ấy ông nói : Tôi không phải cái nầy. Như vậy, ông lần lần tiến lên cái điểm cao nhất, nơi đó, tâm thức chỉ c̣n nằm trong một lớp vỏ duy nhất, một nguyên tử vật chất duy nhất là Chơn Thần. Trên phương diện Yoga thực tập, con người hành động, con người ư thức gồm những ǵ chưa thể tách ra khỏi phần vật chất bao bọc nó hay liên hệ đến nó. Từ thể chỉ dùng để gọi những ǵ mà nhà yogui lần lần để qua một bên và nói Tôi không phải là cái nầy, cái nầy là của tôi. Ở khoa Yoga, chúng ta gặp một loạt từ ngữ thường được lập đi lập lại măi. Vyasa nói : Tất cả trạng thái của trí tuệ đều có ở mỗi cơi , và khi ta quan niệm con người như thế, chúng ta sẽ có thể dùng một loạt từ ngữ ấy nhưng với ư nghĩa mỗi lúc mỗi tinh vi hơn. Tất cả đều tương đối và cũng là thật ở mỗi giai đoạn tiến hóa.

Với mức độ tiến hóa hiện tại, nhiều người nhận thức rơ ràng rằng xác thân vật chất là cái thể duy nhất mà chúng ta có thể nói nó không phải là tôi. V́ vậy, trong khoa Yoga thực tập, những từ ngữ dùng để gọi các trạng thái tâm thức hay các trạng thái trí tuệ được áp dụng trước tiên để diễn tả tâm thức thức tỉnh trong thể xác. Đó là trạng thái thấp nhất và khi từ đó, bạn tiến lên lần lần, những từ ngữ sẽ có một ư nghĩa khác để gọi các trạng thái trí tuệ mới và cũng dễ nhận đối với các trạng thái thấp hơn. Nếu bạn muốn áp dụng đứng đắn các từ ngữ dùng để diễn tả tâm thức, bạn nên phân tích kỹ lưỡng tâm thức bạn  để t́m ra phần nào là tâm thức và phần nào là phần vật chất c̣n kết liền với nó mà bạn chưa thể tách ra. 

CÁC TRẠNG THÁI CỦA CÁI TRÍ

Chúng ta t́m hiểu vấn đề một cách rành mạch hơn. Thường chúng ta nói đến bốn trạng thái tâm thức : tâm thức thức tỉnh hay Jagrat , tâm thức mơ mộng hay Svapna, tâm thức ngủ say hay Sushupti, và sau cùng một tâm thức cao hơn : Turiya. Các tâm thức nầy liên quan đến thể xác như thế nào ?

Jagrat là tâm thức thường mà bạn và tôi đang sử dụng. Nếu tâm thức tác động trong thể tinh vi hay thể vía mà ghi được các kinh nghiệm của nó ở khối óc, đó là Svapna. Svapna linh động và gần sự thật hơn là Jagrat. Khi tâm thức tác động trong một thể tinh vi hơn nữa là thể trí mà không thể ghi các kinh nghiệm của nó vào khối óc, đó là Sushupti. Trong trạng thái nầy, tâm thức chú trọng vào bên trong nó chớ không phải vào sự vật bên ngoài. Sau cùng, nếu nó tách hẳn khỏi khối óc đến đỗi người ta không thể gọi nó trở lại bằng những phương tiện thường th́ nó được gọi là Turiya : trạng thái xuất thần. Bốn trạng thái ấy tương ứng với bốn cơi, và nếu chúng mở mang đầy đủ, tâm thức sẽ tiến rất cao. Jagrat tương ứng với cơi Trần, Svapna tương ứng với cơi Trung giới, Sushupti tương ứng với cơi Thượng giới, và Turiya tương ứng với cơi Bồ Đề.

Dù ở cơi nào đi nữa, chúng ta phải dùng các từ ngữ ấy để diễn tả tâm thức tác động trong giới hạn của cơi đó. V́ vậy, trong những sách Yoga các từ ngữ ấy lại có những định nghĩa khác, khiến chúng ta gặp nhiều khó khăn nếu không biết rằng ư nghĩa của chữ ấy có tính cách tương đối. Cho nên, Svapna không phải lúc nào cũng thế đối với mọi người. Sushupti cũng vậy. Nhất là chữ Samadhi, mà chốc nữa tôi sẽ giải thích. Chữ nầy được dùng nhiều cách với nhiều ư nghĩa khác nhau. Vậy làm sao chúng ta khỏi bị bối rối ? Chúng ta phải biết khởi điểm và khi khởi điểm được biết rồi, th́ sự việc kế tiếp lúc nào cũng thế. Các bạn ai ai cũng biết tâm thức thức tỉnh trong thể xác. Bạn hăy phân tích nó rồi bạn sẽ thấy bốn trạng thái rơ ràng. Các trạng thái ấy cũng xảy ra như vậy ở mỗi cơi.

Làm sao chúng ta có thể phân biệt được các trạng thái nầy ? Chúng ta hăy quan sát tâm thức thức tỉnh và t́m hiểu bốn trạng thái của nó. Ví dụ tôi cầm một quyển sách và đọc. Khi tôi đọc chữ, mắt tôi liên quan đến cái tâm thức hướng ra cơi vật chất bên ngoài. Đó là trạng thái Jagrat. Nếu xuyên qua các chữ, tôi t́m hiểu ư nghĩa của các chữ đó th́ tôi tiến sang trạng thái Svapna của tâm thức thức tỉnh, nó vượt qua cái h́nh thức bên ngoài để t́m sự sống bên trong. Kế đó, tôi t́m hiểu tâm trí của tác giả để hai tâm trí gặp nhau, đó là trạng thái Sushupti. Nếu từ sự tiếp xúc nầy, tôi tiến sâu vào tâm thức của tác giả và sống ở đó th́ tôi đạt được trạng thái Turiya.

Đây là một ví dụ khác. Tôi nh́n vào cái đồng hồ : tôi ở trong trạng thái Jagrat. Tôi nhắm mắt để tạo h́nh ảnh của đồng hồ : tôi ở trong Svapna. Tôi nhớ lại nhiều cái đồng hồ khác và tạo ra một đồng hồ lư tưởng : tôi ở trong Sushupti. Nếu sau cùng, tôi sang qua ư niệm trừu tượng về thời gian : tôi ở trong Turiya. Các giai đoạn nầy là các trạng thái của tâm thức ở cơi Trần v́ trí tôi hoạt động trong xác thân.

Hiểu như thế, các trạng thái của tâm thức trở nên thực tế và dễ hiểu thay v́ chỉ là những lời nói suông. 

SAMADHI

Trong Yoga Sutras , c̣n nhiều chữ quan trọng khác mà chúng ta bắt buộc phải dùng thường để tránh những lời dài ḍng vô ích, vậy chúng cần được giải thích rơ ràng.

Có người nói : Yoga là Samadhi.

Samadhi là một trạng thái, trong đó, tâm thức ĺa hẳn thể xác khiến thể xác trở nên bất động.  Ấy là trạng thái xuất thần, trong đó trí vẫn hoàn toàn sáng suốt mặc dù thể xác hết cảm xúc. Khi từ trạng thái nầy, cái trí trở lại xác thân th́ nó mang về các kinh nghiệm đă thu thập được trong cơi siêu h́nh và c̣n nhớ rơ khi nó nhập vào khối óc xác thịt. Đối với bất cứ người nào trong trạng thái Samadhi cũng thế, họ cũng sáng suốt mặc dù thể xác không c̣n cảm xúc. Nếu người nào xuất thần mà hoạt động ở cơi Trung giới th́ Samadhi của người ấy thuộc cơi nầy; nếu tâm thức của người hoạt động ở cơi Thượng giới th́ Samadhi hoạt động ở cơi đó. Tóm lại, người nào có thể ĺa bỏ xác thân và để nó bất động trong lúc trí tuệ hoàn toàn sáng suốt, người ấy đạt được trạng thái Samadhi.

Câu Yoga là Samadhi hàm súc nhiều sự kiện rất quan trọng. Tỉ như bạn chỉ có thể tiến vào cơi Trung giới mà thôi trong lúc bạn ngủ th́ tâm thức bạn ở trong trạng thái Svapna như chúng ta đă biết. Nhưng khi bạn dần dần mở mang quyền năng của bạn th́ các sự kiện của cơi Trung giới bắt đầu hiện ra trong tâm thức thức tỉnh của thể xác, và khi nào chúng nó trở nên rơ ràng cũng như các sự việc của cơi Trần th́ chúng nó trở nên đối tượng của tâm thức thể xác. Chừng đó, đối với bạn, cơi Trung giới không c̣n thuộc về Svapna mà thuộc về Jagrat, vậy bạn có hai cơi ở trong trạng thái Jagrat của bạn : cơi Trần và cơi Trung giới, c̣n cơi Thượng giới th́ vẫn ở trong Svapna. Thể của bạn bây giờ là do hai thể xác và vía họp lại. Khi bạn tiến lên nữa th́ cơi Thượng giới sẽ hiện đến, và cơi Trần, cơi Trung giới và cơi Thượng giới sẽ nằm trong tâm thức thức tỉnh của bạn và thuộc trạng thái Jagrat của bạn. Ba cơi nầy họp thành một, ba thể tương ứng cũng là một để nhận thức và hành động. Chừng đó ba thể của người thường trở thành một đối với nhà yogui. Khi bạn thực hiện được điều nầy, nếu bạn muốn thấy một cơi nào th́ bạn phải chú ư vào cơi đó sẽ thấy rơ. Nếu bạn chú ư vào cơi Trần th́ hai cơi Trung giới và Thượng giới trở nên lờ mờ. Trái lại, nếu bạn chú ư vào cơi Trung giới th́ cơi Trần và cơi Thượng giới sẽ lờ mờ v́ ở ngoài ṿng tập trung của cái trí. Bạn hiểu điều nầy rơ ràng khi bạn lưu ư rằng khi tôi đặt tầm mắt của tôi ở giữa pḥng th́ hai hàng cột hai bên không thể hiện ra rơ trước mắt tôi. Nếu tôi chú mục vào một cây cột, tôi thấy cây cột ấy rơ c̣n h́nh bạn th́ mờ. Bạn nên nhớ rằng các nhà yogui đă tách rời được các thể của họ trong lúc các thể nầy, nơi bạn, vẫn c̣n là một thành phần của bạn. Như vậy, những chi bạn chưa có thể rời bỏ th́ nhà yogui đă rời bỏ được nên chúng trở thành những cái vỏ đối với họ. Vậy khi, một tu sĩ tiến cao, những cái vỏ thấp của họ họp làm một mà họ rời bỏ lúc nào cũng được.

  Yoga là Samadhi . Đó là khả năng ĺa khỏi những cái gọi là thể để chú định vào trong. Đó là nghĩa của Samadhi. Khi con người ở trong trạng thái nầy rồi không cách nào có thể gọi y trở lại cơi y đă rời bỏ (1). Điều nầy cũng giải thích cho bạn câu trong Giáo lư bí truyền nói rằng vị Chơn Tiên bắt đầu Samadhi của Ngài ở cơi Niết Bàn. Khi vị Jivanmukta tiến vào trạng thái Samadhi th́ Ngài bắt đầu ở cơi Niết Bàn. Tất cả các cơi dưới đối với Ngài chỉ là một, Ngài khởi đầu Samadhi ở một cơi mà ít ai đến được. Ngài khởi đầu tại đó rồi lần lần vươn lên các cơi cao hơn nữa trong Vũ trụ. Cũng thời Samadhi, mà lúc th́ dùng để gọi trạng thái của tâm thức khi nó tiến từ cơi Niết Bàn là cơi thứ năm sang ở các cơi cao rộng hơn như trường hợp của vị Jivanmukta. 

VỀ SÁCH YOGA

Một điều chẳng may cho những ai không biết tiếng Phạn là các tác phẩm về Yoga dịch ra tiếng Anh rất ít. Đành rằng các đại cương về Yoga đều có trong sách Upanishads và Bhagavad Gita mà một phần đă được dịch, nhưng các sách nầy chỉ giải thích Yoga một cách tổng quát chớ không giảng dạy các chi tiết cần thiết. Ngay như quyển Bhagavad Gita tuy dạy các hạnh hi sinh, b́nh thản v. v. . . nhưng cũng không chỉ phải làm cách nào để tiến mau đến mục đích.

Các sách đặc biệt về Yoga là Upanishads (được gọi là một trăm lẻ tám) nhưng chỉ một số ít sách nầy được dịch.

Kế đó là các Tantras có rất nhiều. Người Anh không ưa các sách nầy, nhưng họ lầm v́ các sách nầy chứa đựng tất cả khoa huyền môn. Tuy nhiên, chúng nó được chia làm ba phần, một phần về bạch thuật, một phần về hắc thuật  (tà thuật ) và một phần nữa giữa hai thuật chánh và tà mà chúng ta có thể gọi là xám . Các thuật nầy là những phương pháp nhằm tạo tâm trạng siêu thức bằng ư chí.

Một sự căng thẳng thần kinh cao độ ( phát sinh bởi sự lo âu hay bệnh hoạn) có thể gây sự loạn óc. Một sự căng thẳng như thế tạo ra do ư chí có thể làm cho con người nhận được các rung động siêu vật chất. Đi vào giấc ngủ không có ǵ lạ nhưng nhập vào Samadhi là một quyền năng vô giá. Phương pháp vẫn tương tự, nhưng một đằng th́ do những lối thông thường, một đằng th́ do ư chí được rèn luyện. Nhà yogui đă sử dụng được quyền năng của ư chí và biết sử dụng nó để đạt được những kết quả trù định. Sự hiểu biết nầy bấy lâu nay

(1)  Một người Yogui Ấn Độ được một số người Anh t́m thấy trong rừng ở trạng thái Samadhi. Các người nầy đánh đập ông dữ tợn ông mới trở về thể xác, nhưng rồi ông cũng từ bỏ nó v́ ông chết.

được gọi là huyền thuật, một khoa học quan trọng nhất ở thời xưa. Sách Tantras chứa đựng tất cả khoa ấy. Khía cạnh huyền bí về con người và về thiên nhiên, những nguyên tắc chỉ dẫn con người tự đổi mới, tất cả những điều nầy đều có trong Tantras. Nhưng sách nầy lại có một nhược điểm. Chúng nó rất nguy hiểm cho những ai tập theo chúng mà không có thầy và nhiều người bị đau nặng là v́ vậy. Do đó, Tantras không được quí trọng ở Âu châu cũng như tại  Ấn Độ. Một số lớn sách huyền môn lưu hành bên Mỹ là những đoạn dịch trong các Tantras. Sách nầy c̣n có một khó khăn khác: nó dùng tên của một cơ quan trong thể xác để gọi một trung tâm của thể vía hay thể trí. Nó làm thế v́ trung tâm của các thể đều liên lạc với nhau từ thể nầy đến thể nọ. Do các từ ngữ đều nói về thể xác, nếu bạn không hiểu rơ để áp dụng nó đúng chỗ th́ bạn sẽ đi sai đường và trở nên bệnh hoạn. Ví dụ một Sutra dạy rằng, nếu bạn tham thiền về một phần nào đó của cái lưỡi, bạn sẽ thấy được cơi Trung giới. Điều đó có nghĩa là khi bạn tham thiền về hạch mũi nằm phía trên lưỡi th́ bạn sẽ nh́n thấy cơi Trung giới. Như vậy, từ ngữ để gọi một trung tâm nầy lại được áp dụng sai cho một trung tâm khác. Lối đó được gọi là lối mà mắt  và nhằm ngăn cản học viên đừng theo sách vở mà áp dụng những cách luyện tập nguy hiểm. Người ta có thể tham thiền suốt đời về cái lưỡi mà chẳng có một kết quả nào, và nếu họ chú định vào một trung tâm nào đó của thể xác, nhiều tai hại có thể xảy ra.

Người ta c̣n dạy tham thiền về cái rún. Đó có nghĩa là tham thiền về tùng Thái dương, v́ rún và tùng Thái dương liên quan mật thiết. Nhưng tham thiền về tùng Thái dương có thể đưa đến bệnh loạn thần kinh không sao chữa được. Những ai đă biết số nạn nhân của lối luyện tập nầy ở Ân Độ, sẽ nh́n nhận không nên tập luyện một ḿnh khi không có thầy giải thích cái nào nên tập, cái nào nên không.

Một tác phẩm khác của Yoga là Giáo lư của Patanjali . Đó là một quyển có giá trị nhưng tôi e nó không giúp ích được nhiều nếu học viên không được hướng dẫn. Lư do chính yếu là giáo lư nầy chỉ là những đầu đề tổng quát và những lời giải thích, b́nh luận th́ rất nhiều nhưng chỉ có một phần được dịch (2); hơn nữa, các lời b́nh luận chỉ lập lại những chữ khó hiểu mà không giải thích, do đó, học viên không được giúp đỡ hữu hiệu. 

VÀI ĐỊNH NGHĨA 

Một vài từ ngữ v́ được dùng thường nên cần phải giải thích để tránh sự lầm lộn. Đó là những chữ : phát triển, diễn biến, khoa tâm linh và thần bí học.

Từ phát triển áp dụng cho tâm thức, diễn biến  áp dụng cho h́nh thể. Theo Herbert Spencer, diễn biến chỉ cái đồng tính trở nên cái dị tính, cái đơn thuần trở nên cái phức tạp. Nói tâm thức phát triển chớ thực ra đối với linh hồn hay tâm thức, không có vấn đề tăng trưởng hay tinh luyện. Nó hoàn thiện trong mọi lúc, và nếu nó biến chuyển là v́ nó t́m cách biểu hiện ra ngoài. Thượng Đế trong bạn không c̣n

(2) Ông I.K. Taimni nay đă có dịch và giảng lư toàn bộ trong quyển Khoa học Yoga.

tiến hóa nữa, nhưng Ngài cố biểu lộ quyền năng của Ngài xuyên qua vật chất mà Ngài tự bao bọc lấy ḿnh và vật chất diễn biến để phụng sự Ngài hữu hiệu. Ngài chỉ biểu hiện bản thể của Ngài mà thôi. V́ vậy, nhà thần bí học Ambrose nói : Bạn thế nào th́ hăy trở thành như vậy. Lời nói có vẻ mâu thuẩn nhưng hàm chứa một chân lư quan trọng : ở bên trong bạn như thế nào, bạn hăy trở thành như vậy ở bên ngoài. Đó là mục đích của Yoga. Khoa Tâm Linh dạy thực hiện Đấng Duy Nhất, Yoga và Thần bí học cũng nhằm đạt mục đích hợp nhất; nhưng một đằng th́ bằng trí huệ, một đằng th́ bằng t́nh cảm.(3)
( 3)
Yoga thật sự là sự hợp nhất với Đại Ngă bằng nhiều cách. Đây là một nghĩa hẹp theo quan niệm của Patanjali.

Hăy xem nhà thần bí. Họ định tâm vào vị họ tôn thờ đến quên hẳn họ, và trong sự an lạc tuyệt vời của t́nh thương và ḷng sùng kính, họ ĺa ngoại cảnh, đắm ḿnh trong đối tượng của t́nh thương và được đưa lên Thượng Đế bởi một luồng t́nh cảm dạt dào. Họ không biết v́ sao họ đạt được cái trạng thái cao đẹp đó. Họ chỉ biết có Thượng Đế và thương yêu Thượng Đế nồng nàn. Đó là sự an lạc và sự vinh quang của nhà thần bí.

Người yogui không hành động như vậy. Họ bước từ bước một và ư thức rơ ràng những điều họ làm. Họ làm việc với tinh thần khoa học chớ không phải theo t́nh cảm. V́ thế, những ai không lưu ư đến khoa học, v́ thấy nó khô khan hay buồn chán th́ chưa mở được cái phần thích hợp với Yoga trong bản chất họ. Người yogui có thể dùng ḷng sùng tín như một phương tiện như Patanjali đă giải thích. Ngài tŕnh bày nhiều phương tiện cần áp dụng, trong đó ḷng sùng tín Isvara là một. Đối với họ, nhà khoa học, sùng tín Isvara không phải là mục đích mà là phương tiện nhằm đạt sự định trí. Bạn thấy rơ ở đây sự cách biệt giữa hai bên. Sùng tín Isvara là con đường của nhà thần bí dẫn đến sự hợp nhất. C̣n người yogui, họ xem ḷng sùng tín ấy như một phương tiện định trí, theo đường lối khoa học của họ. Sự so sánh trên giải thích rất rơ sự khác biệt giữa thần bí và Yoga. Một đàng xem ḷng sùng tín như một con đường dẫn đến Đấng họ kính yêu, một đàng dùng nó để đạt sự định trí. Đối với nhà thần bí, Thượng Đế là mục tiêu, là nguồn an lạc, do đó, họ cố tiến đến Ngài, để ḥa hợp với Ngài. C̣n nhà yogui sở dĩ họ chú định vào Thượng Đế là v́ đó là một cách thức định tâm. Một người sử dụng ḷng tôn kính Thượng Đế như một phương tiện để đạt mục tiêu, một người xem Thượng Đế là mục tiêu mà họ cố tiến đến bằng ḷng sùng kính. 

THƯỢNG ĐẾ Ở NGOÀI VÀ Ở TRONG TA 

Đến đây, chúng ta đề cập tới một vấn đề khác : sự liên quan giữa Thượng Đế bên trong và Thượng Đế bên ngoài chúng ta. Đối với người yogui, bằng chứng duy nhất về sự hiện diện của Thượng Đế là sự tự chứng của Chơn Ngă, và muốn t́m bằng chứng ấy, con người phải tiêu diệt mọi giới hạn bao quanh tâm thức để đạt một tâm thức thuần túy ngoại trừ một tấm màn mỏng làm bằng chất của cơi Niết Bàn. Chừng đó, chúng ta mới ư thức sự hiện tại của Thượng Đế. Trong kinh Upanishad có câu : Bằng chứng duy nhất là bằng chứng của Chơn Ngă, điều nầy khác hẳn phương pháp của người Tây phương họ cố chứng minh Thượng Đế bằng lư luận. Người Ấn Độ sẽ nói với bạn rằng sự hiện diện của Thượng Đế không thể chứng minh bằng một luận cứ nào cả. Ngài ở trên cao, ở bên ngoài lư luận, và tuy lư luận có thể hướng dẫn con người, nó không thể chứng minh sự hiện diện của Ngài. Chỉ có một cách giúp bạn biết Ngài là bạn hăy tiến sâu vào ḷng bạn. Ở đó bạn sẽ t́m được Ngài, đồng thời bạn cũng sẽ thấy Ngài ở bên ngoài nữa. Yoga là phương pháp vứt khỏi tâm thức những ǵ không phải là Thượng Đế, (ngoại trừ cái màn duy nhất bằng nguyên tử Niết Bàn) để biết một cách chắc chắn rằng Ngài có. Theo người Ấn Độ, đó mới là ḷng tin mà ḷng tin nầy vượt qua lư luận và thường bị xem như là sự dại khờ. Ḷng tin vượt khỏi lư trí và được xác nhận bởi Chơn Ngă mà lư trí chỉ là một hiện tượng hời hợt bên ngoài. Nó phát ra từ đáy ḷng do một sự xác tín thâm sâu mà không lời lẽ nào có thể làm tăng hay giảm được.

Đó là một niềm tin tuyệt đối. Mục đích của Yoga là giúp bạn đạt tới cái Chơn Ngă đó, đạt không phải bằng một tia chớp của trực giác mà bằng một sự tiếp xúc chắc chắn, thường trực, bền bĩ, và khi đạt tới Chơn Ngă rồi th́ con người không c̣n tự hỏi Thượng Đế có hay không. 
    
NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA TÂM THỨC

VÀ NHỮNG RUNG ĐỘNG CỦA VẬT CHẤT

Bây giờ chúng ta hăy t́m hiểu tâm thức  là Chơn Ngă  và các vỏ bên ngoài của nó mà Chơn Ngă thường đồng hóa với chính ḿnh. Đặc tính của tâm thức là biến đổi và tin chắc ở sự thực tại của nó. Niềm tin ấy không bao giờ thay đổi, ngoài ra tất cả đều biến đổi và chính sự biến đổi nầy tạo nên tâm thức. Thế th́ tâm thức biến đổi măi quanh một ư niệm bất biến. Sự biến đổi nầy là sự biến đổi trạng thái chớ vị trí th́ bao giờ cũng thế.

Ngoài ra, một sự biến đổi tâm thức c̣n gây nên một sự rung động tương ứng ở môi trường vật chất của nó. Vật chất có ba đặc tính  điều ḥa, động và tĩnh : sattva, rajas và tamas . Điều ḥa là những rung động nhịp nhàng, những làn sóng đều đặn, nó vượt trên tĩnh và động.

Một câu hỏi thường được đặt ra : làm sao hai thứ khác loại như vật chất và tinh thần mà có thể ảnh hưởng lẫn nhau được ? Có thể nào chúng ta bắc một chiếc cầu qua cái vực mà Tyndall nói không bao giờ có thể nối liền ? Có thể được. Người Ấn  đă vượt qua, hay nói đúng hơn, họ chứng tỏ vực đó không có. Đối với họ, tinh thần và vật chất là hai biến tượng của cái Duy Nhất. Hơn nữa, khi phân tích sự liên quan giữa tâm thức và vật chất, họ thấy rằng trong Vũ trụ, Thượng Đế đă ban cho vật chất một đặc tính là mỗi lần tâm thức biến đổi th́ nó biến đổi theo. Không có một biến đổi nào trong tâm thức dù vi tế đến đâu mà lại không tạo một rung động tương ứng ở vật chất. Cũng không có một rung động nào ở vật chất mà không gây một biến đổi tương ứng ở tâm thức. Đó là hành động quan trọng đầu tiên của Thượng Đế mà khi tŕnh bày sự cấu tạo của nguyên tử, kinh sách Aán Độ có nêu ư nghĩa trong từ ngữ Tanmatra, là chừng mực của cái đó, tiết điệu của tâm thức.

Như vậy, khi tâm thức tác động trong vật chất, nó bắt buộc vật chất phúc đáp cho nó bằng rung động. Thế là giữa Chơn Ngă và các thể của nó, có một tương quan bất di bất dịch : một bên là biến đổi của tâm thức, một bên là rung động của vật chất và trái lại. Nhờ vậy mà cái Ngă biết được cái Vô Ngă.

Sự tương quan nầy được khai thác trong Raja Yoga và Hatha Yoga. Raja Yoga cố kiểm soát các biến đổi của tâm thức để nhờ đó mà chủ trị các thể vật chất. Hatha Yoga trái lại, nhằm kiểm soát các thể vật chất hầu tạo trong tâm thức những biến đổi mong muốn. Nhược điểm của Hatha Yoga là tác động của nó không vượt qua khỏi cơi Trung giới. Hơn nữa, v́ vật chất có phần cứng rắn, các cố gắng quá lớn của hành giả có thể làm suy nhược một vài cơ quan chính mà tác động rất cần để tạo những biến đổi cần thiết trong tâm thức. Hatha Yoga c̣n cố dùng ư chí kiểm soát trở lại những cơ quan mà tâm thức thức tỉnh đă đặt dưới sự chăm nom của tiềm thức và không c̣n quan tâm đến nữa. Điều đó giúp ngừa bệnh nhưng không đạt được những mục đích cao hơn. Ngoài ra, khi nó tác động trên các trung tâm thần kinh liên hệ đến tâm thức hằng ngày, nhất là khi nó nhằm vào những bộ phận tương ứng với siêu tâm thức, nó trở nên nguy hiểm và có thể đưa đến sự tê liệt thay v́ mở mang.

Chúng ta không sao biết được ngoại cảnh nếu không có sự tương quan nói trên. Một sự biến đổi xảy ra trong tâm thức luôn tạo một biến đổi ở các thể, nhờ vậy tâm thức trở nên mẫn cảm hơn đối với ngoại cảnh và cũng nhờ đó mà tầm hiểu biết của nó đối với ngoại cảnh sẽ mở rộng thêm. Như vậy, chúng ta có thể nói nhờ có sự tương quan giữa hai phương diện của Đức Thượng Đế duy nhất mà chúng ta biết được cảnh vật bên ngoài một ngày một sâu rộng. 

TRÍ THỨC 

Thế nào là trí thức ? Theo quan điểm Yoga, trí thức là toàn thể tâm thức cá nhân. Nó gồm luôn các hoạt động mà Tâm lư học Tây phương loại ra khỏi trí thức. Yoga chỉ có thể có được trên căn bản tâm lư Đông phương.

Tâm thức cá nhân nầy ra sao ? Trước hết, nó biết ngoại vật, kế đó, nó ham muốn, cuối cùng, nó cố chiếm đoạt. Đó là ba phương diện của tâm thức : hiểu biết, ham muốn và hoạt động. Ở cơi Trần vật chất, hoạt động chiếm ưu thế cạnh bên ham muốn và hiểu biết. Ở cơi Trung giới, ưu thế về phần ham muốn, c̣n hoạt động và hiểu biết là phụ thuộc. Ở cơi Thượng giới, tư tưởng lại quan trọng hơn hai phần kia. Ở cơi Bồ Đề, lư trí thuần túy chiếm ưu thế. Ba đức tính luôn luôn hiện diện bên nhau nhưng một cái th́ trội hẳn lên. Đối với vật chất lệ thuộc, cũng thế. Các thứ chất liệu cấu thành những thể của bạn đều có các đặc tính : tĩnh, động và điều ḥa; và lối hoạt động của các thể tùy ở số lượng của mỗi thứ chất liệu ấy trong mỗi thể. Để luyện tập Yoga, bạn phải cấu tạo các thể của bạn thế nào cho chúng nó hoạt động được điều ḥa thay v́ quá động hay quá tĩnh. 

  CÁC GIAI ĐOẠN CỦA TRÍ THỨC

Theo Patanjali, sự biến chuyển của trí thức gồm năm giai đoạn và Vyasa b́nh luận thêm rằng các giai đoạn đó đều có trong mỗi cơi.

Trong giai đoạn đầu, cái trí lau chau không ngừng (Kshipta); ấy là cái trí chập chờn của nhân loại ở buổi sơ khai hay của trẻ con luôn luôn dao động. Giai đoạn ấy tương ứng với hoạt động ở cơi Trần vật chất.

Tiếp theo là giai đoạn do dự, mập mờ (Mudha) của tuổi trẻ bồng bột, xung động, nhưng biết được cái nhược điểm của ḿnh. Trạng thái nầy cao hơn trạng thái lau chau của trẻ con và tương ứng với hoạt động của cơi Trung giới.

Kế đó là trạng thái bận rộn, đam mê (Vikshipta) của những người bị lôi cuốn bởi ái dục như t́nh yêu hay tham vọng. Họ không c̣n băn khoăn, do dự mà có một mục đích rơ ràng. Họ bị chủ trị bởi một ư tưởng cuồng si hay anh dũng. Tùy bản chất của ư tưởng, đê hèn hay cao đẹp, chân hay giả, mà con người trở thành điên cuồng hay thánh thiện. Dù sao, họ bị lôi cuốn mạnh mẽ và không có một lư luận nào có thể cản giữ họ. Ví dụ, nếu họ nói họ làm bằng kiếng đi nữa th́ họ vẫn khăng khăng tin rằng họ rất mong manh mà không ǵ lay chuyển niềm tin ấy được.. Ngoài ư tưởng sai lạc ấy c̣n có những ư tưởng cao đẹp tạo nên những bậc anh hùng hay tử đạo. Trong các trường hợp nầy, con người hi sinh tất cả cho ư tưởng mà họ c̣n quí trọng hơn sự sống. Họ bị chủ trị, ám ảnh đến đỗi họ chấp nhận cái chết một cách rất dễ dàng. Trạng thái nầy được xem như là rất gần Yoga v́ tâm trí được chú định một cách vững vàng dù chỉ với một ư tưởng duy nhất. Nó tương ứng với hoạt động ở Hạ trí. Đến đây hành giả trở nên già giặn và sẵn sàng tiến lên sự Sống thật. Khi con người bị ám ảnh bởi một ư tưởng cao đẹp, họ tiến gần đến Yoga v́ họ vượt trên mọi cám dỗ của cuộc đời, nhưng chỉ khi nào họ chủ trị được ư tưởng đó thay v́ bị ám ảnh, họ sẽ thu đạt được nhiều kết quả hơn. Giai đoạn nầy tương ứng với hoạt động ở cơi Thượng trí, đó là giai đoạn thứ tư gọi là Ekagrata.

Giai đoạn thứ năm là giai đoạn Niruddha của những người sống với Chơn Ngă. Khi một người đă vượt trên những tư tưởng thường t́nh để theo đuổi một lư tưởng cao đẹp và có thể chọn lựa hoặc vứt bỏ theo quyết định của ư chí sáng suốt th́ họ đă tuân mệnh lệnh của Chơn Ngă. Giai đoạn nầy tương ứng với hoạt động ở cơi Bồ Đề.

Ở giai đoạn thứ ba Vikshipta, khi con người bị một ư tưởng ám ảnh th́ họ học bài học phân biện (Viveka) giữa ngoại cảnh và nội tâm., giữa cái chân và cái giả. Bài học nầy học xong, họ tiến vào giai đoạn thứ tư  Ekagrata để chọn một ư tưởng duy nhất là sự sống trường tồn. Và khi họ chú định vào ư tưởng đó th́ họ học hạnh buông xả (Vairagya). Họ vượt lên khỏi các dục vọng nhằm hưởng lạc thú ở cơi nầy hay ở cơi khác. Sau đó họ bước vào giai đoạn thứ năm để đặt ḿnh dưới sự hướng dẫn của Chơn Ngă. Muốn đạt mục đích nầy, họ phải thực tập sáu hạnh gọi là Shatsampatti, sáu hạnh nầy liên quan tới trạng thái ư chí của tâm thức cũng như Viveka và Vairagya liên quan đến trạng thái Minh triết và Hoạt động.

Muốn biết bạn đă sẵn sàng thực tập Yoga chưa th́ bạn nên quan sát tâm trí bạn để nhận định các giai đoạn của nó. Nếu bạn c̣n ở vào hai giai đoạn đầu th́ bạn chưa sẵn sàng. Vào tuổi thơ ấu hay tuổi trẻ, người ta chưa gặp Yoga được kể cả người c̣n bận rộn với cuộc đời. Khi bạn chỉ c̣n có một ư tưởng mà thôi th́ bạn gần đủ điều kiện rồi. Sau đó khi tự ḿnh, bạn có thể lựa chọn một ư tưởng và quyết tâm thực hiện nó, th́ bạn có thể lần lần tiến đến sự tự chủ hoàn toàn và chấm dứt được mọi sự dao động của tâm trí. Khi đạt đến mức độ đó th́ bạn thực hiện trạng thái Samadhi tương đối dễ dàng. 

TÂM THỨC HƯỚNG RA NGOÀI

HAY XOAY VÀO TRONG

Samadhi có hai loại : một th́ hướng ra ngoài, một th́ xoay vào trong. Loại đầu luôn luôn đến trước và bạn đạt trạng thái Samadhi  của tâm thức thức tỉnh hướng ra ngoài nầy khi bạn vượt ra khỏi các sự vật để tiến lên các nguyên lư căn bản của chúng và thoáng thấy được sự sống trường tồn. Darwin đạt được trạng thái ấy và khi ông ư thức luật tiến hóa. Đó là Samadhi hướng ra ngoài hay Samadhi của thể xác. Samadhi nầy được gọi là Samprajnata Samadhi hay Samadhi với tâm thức, nhưng tôi nghĩ tốt hơn nên gọi nó là  Samadhi với tâm thức hướng ra ngoài, nghĩa là tâm thức hiểu biết sự vật chung quanh. Khi các sự vật nầy không c̣n, nghĩa là khi tâm thức rút khỏi các thể th́ con người đạt được Asamprajnata Samadhi hay Samadhi không tâm thức. Tôi thích gọi nó là tâm thức xoay vào trong v́ chỉ khi nào con người xoay vào trong th́ mới đạt được tâm thức nầy.

Hai trạng thái Samadhi đều có ở mỗi cơi, cái nầy tiếp nối cái kia. Ở giai đoạn  đầu, cái trí tập trung mạnh mẽ vào sự vật rồi xuyên qua h́nh tướng, nó tiến thêm vào nguyên lư thâm sâu. Kế đó, tâm thức rút khỏi các thể của nó và quay vào bên trong chính nó ở một cái vỏ khác mà nó chưa được biết. Lúc đó, trong chốc lát, tâm thức chỉ biết có nó chớ không c̣n liên hệ đến bên ngoài. Tiếp theo đó là đám mây nghĩa là sự cảm thức trở lại một cái chi bên ngoài, nhưng sự cảm thức nầy mù mờ khác hẳn cảm thức hằng có bấy lâu. Thế rồi cái vỏ mới bắt đầu tác động và chừng đó con người cảm thức được sự vật của cơi kế trên tương ứng với cái vỏ đó. Đó là cuộc luân chuyển của trạng thái Samadhi : Samprajnata Samadhi, Asamprajnata Samadhi, Megha (đám mây) rồi trở lên Samprajnata Samadhi của cơi kế trên. 

 ĐÁM MÂY 

Đám mây nói đây là Dharma Megha : đám mây của công lư hay của tôn giáo. Các nhà b́nh luận ít khi giải thích nó. Họ chỉ nói rằng những quả tốt tạo ra ở dĩ văng tụ tập trên con người và rơi xuống như một đám mưa ân huệ. Chúng ta cố giải thích rơ ràng hơn.

Từ ngữ mây thường được dùng ở Thần bí học Tây phương. Mây trên núi, Mây trên Đền Thánh, Mây trên Ngai từ ái là những lời mà sinh viên huyền bí học đều biết. Những kinh nghiệm được diễn tả khi th́ thông thường được nhiều người biết, khi th́ rất cao, khó hiểu. Khi từ giai đoạn thông thường tâm thức dần dần rút vào một cái vỏ mà nó chưa hề biết, và khi cái vỏ ấy tác động, bạn cảm thấy lờ mờ rằng có một cái ǵ mới lạ bên ngoài. Bạn như bị vây quanh bởi một đám sương mù; bạn biết bạn không bị cô lập nhưng bạn không thể phân biệt điều chi cả. Bạn hăy b́nh tĩnh, hăy kiên nhẫn và đợi chờ. Hăy để tâm thức bạn lơ lửng như vậy. Không bao lâu mây sẽ tan dần, và trước đôi mắt ngạc nhiên của bạn, một cơi mới hiện ra lúc đầu chỉ một phần nhỏ, sau th́ trong tất cả sự huy hoàng của nó.

Kinh nghiệm ấy lập đi lập lại nhiều lần cho đến khi nào tâm thức bạn chú định được vào cơi Bồ Đề. Tuy nhiên, cái vỏ huy hoàng nầy cũng tan dần khi tâm thức bạn rút ra khỏi nó để tiến vào một vầng mây thật sự, vầng mây của Thánh điện bao phủ Đấng Tối Cao và cũng che giấu Chơn Ngă bạn. Bạn có cảm giác rằng sự sống lần lần rút ra khỏi bạn, rằng không có một cái ǵ vững chắc dưới chân bạn, bạn như bị treo lơ lửng trên không, giữa bóng tối dày đặc, trong một sự cô đơn khôn tả. Bạn hăy cố chịu đựng v́ những nỗi ghê sợ đó rồi cũng sẽ qua. Sự vĩnh cửu sẽ cứu vớt bạn. Thượng Đế sẽ hiện rực rỡ trong sự vắng lặng. Người Hébreux nói : Hăy im lặng và biết Ta là Thượng Đế. Trong sự vắng lặng, một tiếng nói sẽ trổi lên ấy là Tiếng nói của Chơn Ngă. Trong sự an tĩnh đó, một sự Sống sẽ hiện ra, ấy là sự Sống của Chơn Ngă. Trong sự rỗng không đó, một sự Đầy Đặn sẽ được cảm thấy, ấy là sự Đầy Đặn của Chơn Ngă. Trong sự tối tăm đó, một ánh sáng sẽ chói lên, ấy là Aùnh sáng của Chơn Ngă. Thế rồi đám mây sẽ tan và sự vinh quang của Chơn ngă sẽ bừng lên. Cái huy hoàng xa vời mà bạn đă thoáng thấy trước kia nay đă trở nên một sự thật thường tồn. Sau cùng, biết được Chơn Ngă và ư thức được bạn là một với Nó, bạn sẽ bước vào một cơi B́nh An mà chỉ Chơn Ngă mới có được mà thôi.  


                            B À I   D I Ễ N   T H U Y Ế T  II

CÁC MÔN PHÁI YOGA Ở ẤN ĐỘ

Sinh viên Tâm lư học, khi đă biết Phạn ngữ th́ nh́n nhận rằng tiếng nầy rất quí báu cho những ai muốn khảo cứu khoa Tâm lư một cách chính xác. Tiếng Phạn là một thứ tiếng khéo léo, uyển chuyển nên rất hợp cho sự tŕnh bày các vấn đề tâm lư khó khăn. Chỉ với h́nh thức của nó, biết bao lần, một chữ có thể đưa ra một nghĩa bóng, một lời giải thích hay một sự liên hệ. Theo cách cấu tạo của nó, một chữ có thể khiến bạn liên tưởng đến nhiều sự kiện. Trong tiếng Phạn, ngữ căn th́ ít nhưng chuyển từ th́ rất nhiều.

Yoga có nghĩa là to join (liên kết), jug , và ngữ căn nầy được thấy trong nhiều thứ tiếng như trong tiếng Anh chẳng hạn, qua sự trung gian của tiếng La tinh jugare, junger (nối liền) . Một loạt chữ xuất xứ từ ngữ căn nầy như junction, conjunction, disjunction (nối liền, tiếp nối, đứt đoạn) v. v. . . . Chữ Anh Yoke cũng do ngữ căn ấy mà ra. Nhờ vậy, xuyên qua những chữ, những sự kiện liên hệ đến ngữ căn ấy bạn có thể nhận định ư nghĩa của chữ Yoga và tác dụng rộng lớn của nó trong sự diễn tả tư tưởng; ngoài ra, các chuyển từ của nó c̣n hướng dẫn bạn đến ư nghĩa thâm sâu của nó. Ở nhiều thứ tiếng khác như tiếng Pháp, chúng ta có chữ rapport (liên hệ) và chữ nầy cũng rất thông dụng trong Anh ngữ. Being en rapport  là một thành ngữ Pháp được gia nhập mật thiết vào tiếng Anh nên được dùng hằng ngày giữa chúng ta. Dưới nhiều khía cạnh, chữ nầy rất giống chữ Yoga và có nghĩa là liên hệ, bước vào, nhập vào, v.v. . .  Các ư tưởng nầy đều nằm trong phạm vi Yoga.

Khi bằng tiếng Phạn, Shri Krishna nói : Yoga là sự quân b́nh, Ngài nói một điều rất hiển nhiên v́ Yoga bao hàm cái nghĩa quân b́nh, kết hợp (samvata). Vậy lời nói của Ngài rất đơn giản rơ ràng v́ Ngài chỉ nói lên ư nghĩa của một chữ thông thường mà thôi, chớ không có ǵ sâu sắc. C̣n một câu khác cũng thế. Câu nầy dùng để giải thích một sutra mà tôi có nêu lên tuần trước, và nó rất đơn giản và rơ ràng đối với người Ấn : Yoga là Samadhi. Đối với người không biết tiếng Phạn, câu nầy có vẻ mù mờ và cần giải thích từng chữ một. Nhưng người thông hiểu tiếng Phạn th́ biết hai chữ Phạn ấy liên hệ với nhau chặt chẽ. Bởi v́ Yoga là kết hợp, c̣n chữ Samadhi phát xuất từ ngữ căn dha , là đặt vào, và hai chữ sam và a , có nghĩa kết hợp hoàn toàn . Vậy Samadhi là đặt vào trạng thái kết hợp hoàn toàn,  nói cách khác, Samadhi là tập trung tư tưởng, là định trí, là tránh mọi sự tản mác. Như vậy, trên cả hai phương diện ngôn ngữ và thực tế, Yoga và Samadhi kết liền nhau. Khi nhà b́nh luận Vyasa nói : Yoga là sự định trí , Ngài tŕnh bày một ư niệm rất rơ ràng và chính xác về nội dung chữ ấy. Chữ Samadhi lần lần được dùng để gọi sự xuất thần (kết quả của sự