trang nhà l trang sách l bản tin l thiền học l tiểu sử l trang thơ l h́nh ảnh l bài vở



Thuở xưa trên ngưỡng cửa Thánh Điện DELPHES có khắc câu châm ngôn nầy : “Ngươi hăy biết ngươi rồi ngươi sẽ biết vũ trụ và các vị Thượng Đế”.

Muốn biết được ḿnh xin mời quí vị ghé thăm trang thiền học

 


 

Những điều tôi hiểu biết về

BÁT- NHĂ  BA- LA MẬT- ĐA

TÂM KINH

(Prajna Paramita Hridaya Sutra)
       Tác giả:
  BẠCH LIÊN


mục lục l chú thich l cuối trang l đầu trang l chương 1 2 3 4
Xin vào phần mục lục để t́m tiểu mục muốn đọc
 

Mục Lục

Chú thích

Vài lời nói đầu

 

CHƯƠNG THỨ NHỨT

Vài lời về Tiểu sử của Đức Long Thụ, câu chuyện Đức Long Thụ được Long    Vương mời xuống Thủy Cung có thật hay không ?

Ư nghĩa của Danh từ RỒNG.

Bát Nhă Ba La Mật Đa là ǵ ?

Cuốn Kinh Bát Nhă Ba La Mật Đa dạy cái chi ?

Bờ bên kia là bờ bên nào ?

Ba bản của cuốn Kinh Bát Nhă Ba La Mật Đa . . .

Prajna Paramita Hridaya là ǵ ?

Bản dịch chữ Hán. Những chỗ sai biệt trong các bản chép ra. Một nghi vấn trong bản Tâm Kinh = Đức Bodhisattva Avalokiteshvara là ai ?

Ư nghĩa của Bodhisattva Avalokiteshvara theo Phật Giáo Tây Tạng.

Năm vị Thiền Na    Phật.

Năm vị Thiền Na    Bồ Tát.

CHƯƠNG THỨ NH̀

Những bản Tâm Kinh chữ Phạn, chữ Anh và chữ Pháp.

1 bản của Ziogon - Tịnh Nghiêm.

2 bản của Kanamatsu – Kim Tùng và Ôta - Đại Điền.

1 bản chữ Phạn – Sanscrit Text of Hridaya Sutra.

1 bản dịch chữ Pháp của Jean Marquès Rivière.

1 bản dịch chữ Pháp của Tỳ Kheo Van Toe và Bác sĩ Dr Dwight  Goddard.

CHƯƠNG THỨ BA

Tại sao tôi lấy bản dài Tâm Kinh. Ư kiến của tôi về ba đoạn trong Tâm Kinh.

Đoạn Nhứt

Phải chăng có nhiều bản Tâm Kinh và bản nào là Bản Chánh hay là đáng tin cậy. Bản Tâm Kinh của ông Anh Trạch Sakurazawa. Theo ư ông Anh Trạch th́ Đức Quán Tự Tại Bồ Tát là ai ?

Đoạn Nh́

1.- Uẩn là ǵ ?

2.- Tại sao Ngũ Uẩn trống không ?

3.- V́ cớ nào sắc bất dị không, không bất dị sắc.

                                1.- Uẩn là ǵ ?

Ư nghĩa của chữ Khanda của Phât Giáo khác với ư nghĩa chữ Skandha của Pắc Phạn.

Ngũ Uẩn trói buộc ai ? Ngũ Uẩn là ba Thể = Thân, Vía, Trí của con người theo Huyền bí học. Ngũ Uẩn trói buộc cách nào ?

2.- Tại sao Ngũ Uẩn trống không ?

Nguyên tử Hồng trần vốn trống không. Điện là ǵ ? Các vật cứng rắn vẫn trống không ?

Nguyên tử làm cái Vía và cái Trí vẫn trống không.

Cội rễ của Vật chất hay là Hổn Nguơn Nhứt Khí.

Hổn Nguơn Nhứt Khí vẫn trống không mà lại cực kỳ cứng rắn. Tỷ trọng của Hổn Nguơn Nhứt Khí. Một tấc khối của Hổn Nguơn Nhứt Khí nặng 214 tỉ kilô.

Nguyên tử - Một bầu tiểu Vũ Trụ đầy sự huyền diệu. Bài của Bác sĩ O’Brien.

                                3.- V́ cớ nào sắc bất dị không ?

a/ Sắc tức là Không ?

     Không tức là Sắc ?

b/ Sắc chẳng khác Không – Không chẳng khác Sắc, trúng có phân nửa.

Đoạn Ba

Một đoạn kinh làm cho nhiều người hiểu lầm về cái trống không tuyệt đối. Tại sao vô thủy vô chung ?

Câu nói tuyệt đối nầy dùng vào chỗ nào mới đúng.

Mắc vào ṿng tương đối.

Tại sao trong Kinh lại nói một cách tuyệt đối ?

Có chỗ nào chứng minh những lời giải thích trên đây chăng ?

2 chỗ trong Tâm Kinh – 2 chỗ trong cuốn Trung Luận. Tại sao Thần Chú Bát Nhă Ba La Mật Đa là Đại Minh Chú – Vô Thượng Chú.

CHƯƠNG THỨ TƯ

1.- Có Linh Hồn hay không có Linh Hồn.

2.- Sự hiểu lầm Tâm Kinh.

3.- Trên không gian không có chỗ nào gọi là trống không tuyệt đối.

4.- Ư nghĩa của Danh từ Phật.

5.- Chớ nên làm nô lệ Kinh sách.

KẾT LUẬN. 

chú thích

 

mục lục l chú thich l cuối trang l đầu trang l chương 1 2 3 4

Vài lời nói đầu.
 

Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Prajna Paramita Hridaya sutra) là tinh hoa (essence) của Bộ Kinh Bát Nhă Bát Nhă Ba La Mật Đa (Prajna Paramita). Tôi xin nói liền không có chữ Maha trước hai chữ Prajna Paramita.

Mà Bộ Bát Nhă Ba La Mật Đa (Prajna Paramita) vốn thuộc về hệ thống Madhyamika, tức là con đường Trung Đạo do Đức Long Thụ Nâgârjuna lập ra. Hệ thống Madhyamika là một trong những triều lưu tư tưởng có những quan niệm về Tôn giáo và Triết học tân kỳ, phát sanh từ Bắc Tôn.

Hệ thống Madhyamika chủ trương thuyết Sunyata (Sun da ta) Bắc phạn có nghĩa là “Trống Không” (vide, vacuité) 1. Tất cả quan niệm Sun da ta đều được giải bày tỉ mỉ trong Bộ Trung Luận (Madhyamika Çastra) của Đức Long Thụ Nâgârjuna.

Thế nên tôi tưởng muốn thật hiểu cái Trống Rỗng trong Tâm Kinh th́ phải biết quan niệm Sun da ta trong bộ Trung Luận.

Nếu chỉ có đọc “Tâm kinh” thôi th́ chưa đủ. Tâm Kinh chỉ nói phớt qua cái “Trống Không” mà thôi.

Người ta thường gọi Hệ thống Madhyamika là Tam Luận Tông bởi v́ tất cả của hệ thống giáo lư này đều chứa đựng trong ba cuốn sau đây :

1 – Trung Luận : Madhyamika Çastra.

2 - Thập Nhị Môn Luận : Dvadaça  Çastra.

3 – Bát Nhă Ba La Mật Đa  Kinh Luận : Prajna Paramita Sutra Çastra.

Nhưng tôi xin lưu ư quí bạn về điểm nầy. Con đường Trung Đạo của Đức Long Thụ Nâgârjuna khác hẳn con đường “Trung Đạo hay là Đạo Bát Chánh của Phật đă dạy và c̣n khó hiểu hơn nhiều lắm.

Thật ra có mấy ai biết rằng khi hằng ngày ḿnh tụng niệm Tâm Kinh th́ ḿnh đă theo phái Tam Luận Tông Madhyamika mà không dè vô t́nh ḿnh đă phủ nhận Tứ Diệu Đề và Bát Chánh Đạo rồi chăng ?

Tuy nhiên mỗi vị Phật tử có quyền tự do đi theo con đường của ḿnh đă chọn lựa, nhưng thiết tưởng không một ai có thể đi theo hai con đường một lượt được bao giờ, cũng như lời tục đă nói “bắt cá hai tay”.

Luôn luôn tôi vẫn kính trọng quyền tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của mỗi người.

Ở đây tôi chỉ tŕnh bày những điều tôi hiểu biết về Tâm Kinh, mong rằng chúng nó giúp ích được quí bạn phần nào trong việc t́m hiểu Chơn lư Đại thừa như Đức Long Thụ đă nói trong chương XXIV của quyển Trung Luận Madhyamika Çastra - chỉ có thế thôi.

                                                                      -----------

Tinh hoa kinh Bát Nhă

Chơn lư ở đâu nào ?

Gội rửa ḷng trong sạch

Bồ Đề quả vị cao.

Viết xong tại Châu Đốc ngày rằm tháng Tư âm lịch năm Ất Tỵ (15 Mai 1965) nhằm lễ Phật Đản năm 2509.

BẠCH LIÊN


mục lục l chú thich l cuối trang l đầu trang l chương 1 2 3 4

 

CHƯƠNG THỨ NHỨT

 

VÁI LỜI VỀ TIỂU SỬ  CỦA ĐỨC LONG THỤ NÂGÂRJUNA.

-+-+-+-+-

Trước khi bàn về Tâm kinh tôi tưởng nên nói vài lời về tiểu sử của Đức Long Thụ Nâgârjuna v́ hậu thế cho Ngài là tác giả Bộ Kinh Bát Nhă Ba La Mật Đa (Prajna Paramita).

------------

Người ta không biết nhiều về đời sống của Đức Long Thụ Nâgârjuna. Người ta tưởng Ngài sanh ra vào lối cuối thế kỷ thứ hai 2 tức là năm 200 tại Vidarbha (ngày nay là Bérar) thuộc về miền Nam Ấn Độ. Hiện giờ tại biên giới xứ Népal có một cái động mà tục truyền rằng khi xưa Đức Long Thụ đă vào đó tu luyện nhiều năm.

Ngài lập ra Hệ thống Triết học Madhyamika tức là Trường Trung Đạo mà đời sau thường gọi là Tam Luận Tông, tới bây giờ hăy c̣n bên Tây Tạng.

Những bộ sách trứ danh của Ngài viết là :

1/ Madhyamika Çastra  = Trung Luận.

2/ Dvadaça Nikaya Çastra = Thập Nhị Môn Luận.

3/ Prajna Paramita Sutra Çastra = Bát Nhă Ba La Mật Đa Kinh Luận.

4/ Vigarbha Vyavartani = Hồi Tránh Luận dịch ra Pháp văn Pour écarter les vaines discussions, traduit et annoté par Susumu Yamaguchi. (Extrait du Journal Asiatique Juillet Septembre 1929).

5/ Mahayana Vimçaka.

6/ Mahâcintyâ Çastra.

7/ Panca Krama, v.v. . .

 

CÂU CHUYỆN ĐỨC LONG THỤ ĐƯỢC LONG VƯƠNG

MỜI XUỐNG THỦY CUNG CÓ THẬT HAY KHÔNG ?

 

Đức Long Thụ (Nâgârjuna) là Tổ sư thứ 14 ở Ấn Độ. Ngài với hai vị nữa là  : Aryadéva và Asanga 3 , người ta gọi là ba ngôi sao sáng  trong Phật Giáo.

Tục truyền rằng Naga Thần Rắn, Tàu gọi là Long Vương mời Đức Long Thụ Nâgârjuna xuống Thủy Cung truyền dạy phép tắc và trao cho quyển kinh Bát Nhă – Bát Nhă Ba La Mật Đa !

Chuyện này có thật hay không ? Mỗi người đều có quyền tự do tín ngưỡng. Tôi tin rằng : lời nói đó bóng dáng v́ thật sự là dưới nước không có Long Cung mà cũng không có Long Vương, cũng như dưới đất không có Thập Điện, không có Diêm Vương hay là Quỉ Sứ Dạ Xoa chi cả.

Tuy nhiên ở dưới biển hay là trong những sông rạch, ao hồ, khắp mọi nơi trên địa cầu đều có những Tiểu Thần (Esprits de la nature) lo làm phận sự của họ dưới quyền chỉ huy trực tiếp của các vị Thiên Thần cho đúng với Thiên Cơ. Họ không có liên lạc với con người trên trần gian.

 

Ư NGHĨA CỦA DANH TỪ RỒNG.

                                                                       

Từ ngàn xưa các nhà Đạo đức đều biết Rồng hay Rắn là tượng trưng Đức Minh Triết và những vị đă được Điểm đạo.

“Rồng Minh Triết” (Dragon de Sagesse) là biểu tượng của Đức Thượng Đế. Nhưng người ta cũng dùng danh từ “Rồng Minh Triết” (Dragon de Sagesse) để xưng tụng Đức Ngọc Đế và các Đấng Thiên Tôn từ Kim Tinh (Vénus) xuống Trái Đất đặng giúp đỡ sự tiến hóa của Nhân Loại, lúc phân nửa giống dân thứ ba, giống  Lê Mu Ri Den (Lémuriens) mới ra đời, kể ra 16 triệu rưởi năm rồi.

Biểu tượng con Rồng truyền tới muôn đời sau.

Thuở xưa các vị giáo sĩ ở Ba bi lôn (Babylone : Ba Tỷ Luân), ở Ai Cập, những vị Tế Sư (Druides) ở nước Pháp cổ thời là xứ Gaule, những nhà tu hành Phê Ni Xien (Phéniciens) . . . đều gọi ḿnh là ḍng giống của những Rồng hay là những Rắn, tức là đệ tử của những vị đă được Điểm đạo, hay là Nhân viên của Quần Tiên Hội (Fraternité Blanche , Fraternité des Adeptes).

Hiện giờ tại Mễ Tây Cơ (Mexique) và nhiều bộ lạc, nhứt là bên Nam Mỹ Châu người ta c̣n gặp di tích của Biểu Tượng con Rồng, bởi v́ Biểu Tượng này là một trong những Biểu Tượng Đại Đồng ám chỉ những vị Thánh Sư đầu tiên của Nhân Loại.

Như vậy ta không lấy làm lạ mà thấy chuyện Tàu nói các vị Hoàng Đế Trung Nguyên thuở xưa là Thiên Tử (con của Trời) tướng tinh của các Ngài là những Rồng Vàng (Huỳnh Long) và tất cả chúng ta quen thuộc với những danh từ Long Thể, Long Tu, Long Cổn, Long Bào, Long Nhan, Long Án, Long Sàng, Long Xa v.v. . .

Nhưng sự thật là có Rồng Ở Đâu mà đi đầu thai làm người.

 

  QUÂN KỲ CỦA MỘT BỘ LẠC CỦA GIỐNG DÂN TÔN TÉC (Toltèque).

 

Giống Tôn Téc (Toltèque) là nhánh thứ Ba của giống Ắt Lăn (Atlantes). Giống Ắt Lăn là tổ tiên giống da đỏ và da vàng bây giờ.

Thuở xưa có một bộ lạc của giống Tôn Téc khi ra trận th́ vác một cái cán có một con rắn bằng vàng quấn chung quanh; ấy là Quân kỳ của họ.

Người A Ri Den (Aryen) tổ tiên của giống da trắng bây giờ gọi họ là bộ lạc Rắn (Naga). Vịn theo những lư lẽ trên đây, chúng ta có thể nói rằng : Cuốn Bát Nhă Ba La Mật Đa vốn của những vị đắc đạo ở châu Ắt Lăn Tích (Atlantide) thuở xưa . . . truyền lại cho Đức Long Thụ Nâgârjuna. Nếu quả thật như vậy th́ cuốn kinh này viết bằng chữ Ắt Lăn (Atlantes) và Đức Long Thụ Nâgârjuna dịch ra chữ Phạn v́ Ngài có học chữ Ắt Lăn.

Nhưng đây chỉ là một giả thuyết thôi.

 

Bây giờ xin nói về Bát Nhă Ba La Mật Đa.

 

BÁT NHĂ BA LA MẬT ĐA LÀ G̀ ?

 

Trước hết ta phải hiểu nghĩa hai chữ Bát-Nhă Ba-La-Mật-Đa.

Bát Nhă Ba La Mật Đa vốn do hai chữ Prajna Paramita âm ra. Đứng riêng từng chữ :

Prajna có nghĩa là Trí huệ (Sagesse).

Paramita (Bắc Phạn) có nghĩa là Đức tánh (vertus). C̣n theo Nam Phạn là Parami, và có nghĩa là Hoàn thiện (perfection); hai nghĩa khác nhau rất xa. Nhập lại th́ ra chữ Prajna Paramita có hai nghĩa :

Một là : Trí huệ cao siêu tột bực, toàn giác. (Sagesse parfaite).

Hai là  : Trí huệ đưa qua tới bờ bên kia  (Sagesse permettant d’ atteindre l’autre rive).

 

CUỐN BÁT NHĂ BA LA MẬT ĐA DẠY CÁI CHI ?

 

Cuốn Bát Nhă Ba La Mật Đa (Prajna Paramita) giải về Paramartha Satya.

Paramartha nghĩa là Chơn lư (Vérité).

Satya : Chơn thật (Vraie).

Tức là Chơn thật tuyệt đối. Tàu dịch là Thắng nghĩa đế.

Nó cũng có nghĩa là : Tâm thức của Hiền nhân giúp Ngài thắng phục được ảo ảnh (Conscience du Sagesse qui lui permet de vaincre l’illusion).

Trong Tâm Kinh đoạn ba có câu : … Vượt qua những ảo ảnh sai lầm, Ngài đạt được cảnh Niết Bàn cùng tột (…allant au delà  des visions non réelles et perverties, il atteint le Nirvan final). Bản dịch của ông Jean Marquès Rivière.

 

BỜ BÊN KIA LÀ BỜ NÀO ?

 

Đây là lời nói bóng dáng. Người ta thí dụ : bờ bên này là cơi Trần, chỗ sanh sống của những người c̣n mắc vào ṿng Luân hồi nghiệp chướng. Bờ bên kia là cơi Niết Bàn, trường tiến hóa của những vị Siêu phàm nhập thánh. Chính giữa bờ bên này và bờ bên kia là một con sông, ấy là đường Đạo. Người đệ tử bước vào cửa Đạo cũng như bước xuống thuyền qua sông, anh không c̣n thuộc về cơi Trần nữa. Khi qua đến bờ bên kia, anh đă thành chánh quả làm một vị Siêu phàm được giải thoát, không c̣n cái chi học hỏi trên Dăy Địa Cầu này.

Khi Điểm đạo lần thứ nhứt cho thí sanh, Đức Bồ Tát có nói câu này với anh : “Con đă vào ḍng sông (nhập lưu), chúc con mau tới Bến” (Tu es entré dans le courant, puisses tu bientôt atteindre l’autre rive).

(Les Maitres et le Sentier par Leadbeater, page 137. Chơn Sư và Đường Đạo trang 137).

 

BA BẢN CỦA BỘ BÁT NHĂ BA LA MẬT ĐA

(PRAJNA PARAMITA ÇASTRA)

 

Cuốn Bát Nhă Ba La Mật Đa (Prajna Paramita Çastra) in ra làm 3 bản :

1-    Một bản đầy đủ gồm 200.000 slokas - Thất Lộ Ca Câu kệ.

2-    Một bản bực trung gồm 10.000 slokas - Thất Lộ Ca.

3-    Một bản toát yếu gọi là Prajna Paramita Hridaya Sutra.

 

PRAJNA PARAMITA HRIDAYA SUTRA LÀ G̀ ?

 

Hridaya : essence – nghĩa là Tinh hoa.

Prajna Paramita Hridaya Sutra là Tinh hoa của cuốn Kinh Prajna Paramita Hridaya – (Bát Nhă Ba La Mật Đa) Tàu dịch là Tâm Kinh, chớ không phải cuốn Kinh giải về cái Tâm.

 

BẢN DỊCH CHỮ HÁN.

 

Ông Lệ Thần Trần Trọng Kim có nói trong cuốn Phật Giáo của ông như vầy:

“Kinh này do chữ Phạn dịch ra chữ Nho, có tất cả đến 7 bản nhưng chỉ có bản này của ông Trần Huyền Trang đời Đường dịch ra là thông hành hơn cả trong tăng giới bên Phật Giáo Đại Thặng.

DỊCH ÂM

Quán Tự Tại Bồ Tát, hành thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá lị Tử ! sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thụ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

Xá lị Tử ! thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.

Thị cố không trung vô sắc, vô thụ, tưởng, hành, thức; vô nhăn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ư; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhăn giới, năi chí vô ư thức giới; vô Vô minh, diệt Vô minh tận, năi chí vô lăo tử, diệt vô lăo tử tận, vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo; vô trí, diệt vô đắc.

Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát đỏa, y Bát Nhă Ba La Mật Đa cố, tâm vô (khuê) quái ngại vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn.

Tam Thế Chư Phật, y Bát Nhă Ba La Mật Đa cố, đắc A Nậu đa la tam niêu tam Bồ Đề. Cố tri Bát Nhă Ba La Mật Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thực bất hư.

Cố thuyết Bát Nhă Ba La Mật Đa chú. Tức thuyết chú viết : Yết đế, yết đế, Ba La yết đế, Ba La tăng yết đế , Bồ Đề tát bà ha.

 

mục lục l chú thich l cuối trang l đầu trang l chương 1 2 3 4
 

NHỮNG CHỖ SAI   BIỆT  TRONG CÁC BẢN CHÉP RA.

 

A)    Vài bản chữ Việt chép : Vô Trí diệc vô đắc (chấm câu) Dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa . . .

Trong cuốn Kinh ! ! Phổ Môn Diễn Nghĩa ! ! , không thấy tên tác giả chép :

Huờn Kinh.

Bổ Khuyết Tâm Kinh 4

Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố,.(chấm câu)

Bồ đề tát đỏa. . .

C̣n trong bản chữ Pháp của ông Marquès Rivière là : ni quelque chose à obtenir, car rien ne peut être obtenu. Chấm câu sau chữ “ObtenuLe Bodhisatva qui . . .

Thế th́ chấm câu sau chữ “đắc”  ( Vô trí diệc vô đắc) là sai, c̣n chấm câu sau chữ “cố”, dĩ vô sở đắc cố, mới đúng, bởi v́ bản dịch ra Việt văn, bản chữ Nho của Đại Đức Trần Huyền Trang là : . . . không trí huệ, không chứng đắc v́ không có cái chi chứng đắc. (Chấm câu sau chữ “đắc” . . . thật là đúng với bản dịch chữ Pháp).

B) Ba chữ The Deep Prajna Paramita, tức là Bát Nhă Ba La Mật Đa cao thâm : la profonde Prajna Paramita.

Tàu dịch là : Thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa rất đúng.

Hành thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa có nghĩa là thật hành pháp Bát Nhă Ba La Mật Đa cao thâm, chớ không thật hành sâu xa pháp Bát Nhă Ba La Mật Đa.

 

MỘT NGHI VẤN TRONG BẢN KINH CHỮ NHO VÀ CHỮ PHÁP.

 

Đức Bodhisatva Avalokiteshvara là ai ?

 

Trước khi bàn đến nội dung của Tâm Kinh, tôi xin nêu ra một nghi vấn.

Đức Bodhisatva Avalokiteshvara là ai ?

Câu đầu của Tâm Kinh có ư nghĩa như vầy :

Đức Bodhisatva Avalokiteshvara , Quán Tự Tại Bồ Tát , sau khi thật hành pháp Bát Nhă Ba La Mật Đa cao thâm th́ thấy Ngũ Uẩn vốn trống rỗng, nhờ như vậy Ngài mới dứt được các sự đau khổ của Ngài.

Nó ám chỉ : Trước kia Đức Bodhisatva Avalokiteshvara, Quán Tự Tại Bồ Tát cũng vô minh như chúng ta. Ngài đă mang đủ các phiền năo. Nhưng sau khi thật hành pháp Bát Nhă Ba La Mật Đa cao thâm rồi th́ thấy Ngũ Uẩn không có ǵ hết, chúng là con số không. Thế nên Ngài dứt các chướng ngại. Ngài không c̣n đau khổ như trước nữa.

Vậy th́ ta phải tự hỏi : Phải chăng Đức Bodhisatva Avalokiteshvara cũng là phàm phu tục tử như chúng ta vậy ? Bởi v́ trước khi thật hành pháp Bát Nhă Ba La Mật Đa cao thâm th́ Ngài không biết Ngũ Uẩn trống không. Rơ ràng câu đầu của Tâm Kinh nói như vậy.

Bây giờ ta nên t́m hiểu nghĩa của hai chữ : Bodhisatva Avalokiteshvara.

Đứng riêng ra từ chữ th́ :

- Bodhisatva có nghĩa là Đấng Chí Tôn c̣n một bậc nữa th́ thành Phật, tức là Đức Bồ Tát.

- C̣n Avalokiteshvara chữ Sanscrit Bắc Phạn có nghĩa là : Le Seigneur voyant : Đức Thượng Đế thấy tất cả, tức là Đức Vishnou. Các nhà thông thái Tây phương  dịch như vầy :

Avalokitshvara : Le Seigneur qui regarde audessous de lui : Đức Thượng Đế ḍm xuống ở phía dưới Ngài.

V́ vậy Tàu mới dịch là Quán Tự Tại, tức là chỗ nào cũng thấy cả; đó là riêng từ chữ, c̣n hai chữ nhập lại Bodhisatva Avalokiteshvara th́ không biết có từ điển nào ở Ấn Độ cắt nghĩa chăng, chớ danh từ này vốn quen thuộc với Phật Giáo ở Tây Tạng.

 

Ư NGHĨA CỦA BODHISATVA AVALOKITESHVARA

THEO PHẬT GIÁO TÂY TẠNG.

 

Trong bài “ Phật Giáo Tây Tạng” (Le Boudhisme au Tibet) tác giả là Serge de Feularde đăng trong Thanh Liên tạp chí (Lotus bleu số 3 tháng 5 năm 1927- Mai 1927), trang 90 có một đoạn nói về Bodhisatva Avalokiteshvara như sau đây :

 

     «... UNE secte du Népal celle des Aiçvarikas, outsectateurs d'Içvara enseigne l'existence d'un Bouddha primordial, éternel, immuable, essence de toute lumière, de toute intelligence et de toute vie. Adi Bouddha était calqué en quelque sorte sur le Brahman des Indous. Comme Brahman, it n'est pas créateur, mais il émane l'univers de sa propre substance pour le réabsorber après une période mondiale. De sa méditation, naissent cinq créatures sublimes, les Dhyani Boudhas, essence des cinq Vertus Bouddhiques.

1)    Vairotchana

2)    Akohobya

3)    Ratna Shambhava

4)    Amitabha

5)    Amogashidha.

     A ces cinq Dhyani Bouddhas est confiée la protection spirituelle de l'univers. Ils inspirent les Bouddhas qui vivent dans les différents mondes, et qui enseignent les hommes et les dieux.

Ils confient la surveillance matérielle du monde à leurs fils spirituels nés de leur méditation; les Dhyani Bodhisatvas. Ce sont:

1) Samanthabhadra

            2) Vajrapâni

            3) Ratnapâni

            4) Avalokiteshvara

            5) Viçvapâni

Chacun de ces Dhyani Bodhisatvas à la charge de veiller sur une partie déterminée du monde, pendant une période donnée. Ainsi Avalokiteshvara s'occupe  particulièrement du monde actuel.

      A chacun de ces Bodhisatvas correspond un Manushi Bouddha ou Bouddha humain. Celui qui appartient à notre période actuelle est le Bouddha Sakya muni.  Cinq mille ans après le Nirvana de ce dernier, apparaitra un nouveau Bouddha qui viendra instruire les hommes. C'est le Bodhisatva Mtreya qui attend au ciel Tushita que l'heure ait sonné de descendre sur notre terre et d'atteindre à son tour l'état de Bouddha parfait.

Serge de Feular

   Le Lotus Bleu N° 3 / Mai /193

XIN DỊCH RA.

 

. . . một giáo phái Bắc Tôn ở Nê Bôn (Népal) gọi là giáo phái Içvara dạy rằng có một vị Phật đầu tiên, vĩnh cữu, trường tồn, bất biến, bản thể của tất cả sự sáng, của tất cả trí tuệ, của tất cả sự sống.

Đức Phật “Adi Bouddha” 5 vốn mô phỏng theo Đức Brahman của người Ấn. Cũng như Brahman, Ngài không phải là Đấng Tạo hóa, nhưng Ngài phóng xuất vũ trụ với bản chất của Ngài, rồi khi hết một Đại kiếp th́ Ngài thu hồi vũ trụ vô ḿnh Ngài như trước.

Trong lúc Ngài ngồi tham thiền, Ngài sanh ra năm Đấng Cao Cả, ấy là những (Đi da ni) Thiền Na Phật (Dhyani Bouddhas) Tinh hoa của năm Phật tánh 6.

 

Năm vị Thiền Na Phật là :

1- Vairotchana : Tàu dịch là  ĐẠI NHẬT NHƯ LAI ở Trung Ương.

2- Akohobya  7: BẤT ĐỘNG NHƯ LAI ở Đông phương.

3- Ratna Shambhava : BẢO SANH PHẬT ở Nam phương.

4- Amitabha  8 : A DI ĐÀ PHẬT ở Nam phương.

5- Amogashidha  9 : BẤT KHÔNG THÀNH TỰU PHẬT ở Bắc phương.

Năm vị Thiền Na Phật (Đi da ni) được giao phó sứ mạng bảo vệ đời sống tinh thần của Vũ trụ. Các Ngài linh cảm những vị Phật đang sống trong những thế giới khác nhau và đang giáo hóa con người và Thiên thần.

 

Năm vị Đi da ni Phật giao trọng trách chăm nom đời sống vật chất của thế gian cho năm người con tinh thần của các Ngài do sự tham thiền của các Ngài mà sanh ra. Ấy là năm vị Thiền Na Bồ Tát (Đi da ni Bồ Tát : Dhyanis Bodhisatva) tên là :

1-    Samanthabhadra : Tàu dịch là : PHỔ HIỀN BỒ TÁT.

2-    Vajrapâni : KIM CƯƠNG THỦ BỒ TÁT.

3-    Ratnapâni : BẢO THỦ BỒ TÁT.

4-    Avalokiteshvara : QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT hay QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT.

5-    Viçvapâni : có chỗ đề MANJUCRI BODHISATVA, tức là  VĂN THÙ BỒ TÁT.

Mỗi vị Thiền Na Bồ Tát có trách nhiệm coi sóc một lănh vực nhứt định của Thế giới trong một kỳ gian. V́ thế, Đức Avalokiteshvara đang đặc biệt lo lắng cho cơi đời hiện tại nầy. Mỗi vị Thiền Na Bồ Tát đều có một vị Phật tại thế đối chiếu gọi là Ma Nu Si Phật (Manushi Bouddha) hay là Bouddha humain, vị Phật c̣n giữ xác phàm. Vị Phật đang ở trong thời kỳ hiện tại của chúng ta là Đức Thích Ca Mâu Ni – 5000 năm sau khi Đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn th́ sẽ có một vị Phật mới ra đời đặng dạy dỗ con người. Ấy là Đức Bồ Tát Maîtreya (Đức Di Lạc). Ngài đang ở tại cơi trời Đâu Xuất (Tushita) chờ đợi đúng ngày giờ th́ Ngài giáng phàm và tới phiên Ngài, Ngài sẽ đắc quả Phật.

--------------

 

Nghi vấn của tôi nêu ra là  : Đức Bodhisattva Avalokiteshvara Quán Tự Tại Bồ Tát trong Tâm Kinh là ai ?

Ngài có phải là Đức Đi Da Ni (Dhyani) Bodhisattva, Thiền Na Bồ Tát gọi là Bodhisattva Avalokiteshvara  nói ở trong bài “Phật Giáo Tây Tạng” không ?

Nếu phải th́ câu đầu của Tâm Kinh rất vô lư bởi v́ Đức Bodhisattva Avalokiteshvara , Quán Tự Tại Bồ Tát vốn do sự tham thiền của Đức Đi Da Ni Thiền Na Phật (Dhyani Bouddha)  Amitabha  A Di Đà mà sanh ra. Ngài hoàn toàn sáng suốt và có đủ những quyền năng phi thường mới điều khiển sự tiến hóa của cơi đời vật chất nầy được. Ngài có trách nhiệm đặc biệt chăm nom cơi đời hiện tại của chúng ta đây. Cho đến đỗi Đức Phật Thích Ca cũng chưa  sánh kịp với Ngài nữa.

Ngài có mang cái xác phàm nặng trịu này đâu mà cần phải thật hành Bát Nhă Ba La Mật Đa mới biết được Ngũ Uẩn trống không.

C̣n như không phải, th́ Bodhisattva Avalokiteshvara, Đức Quán Tự Tại Bồ Tát trong Tâm Kinh là vị nào ?

Nói cho đúng lư, Đức Bodhisattva Avalokiteshvara, Quán Tự Tại Bồ Tát trong Tâm Kinh phải là một người thường như chúng ta : nhưng sao có việc kỳ lạ là mang tên của một vị Đi Da Ni Thiền Na Bồ Tát, một Đấng Thiên Tôn c̣n cao hơn Đức Phật Thích Ca nữa. 

mục lục l chú thich l cuối trang l đầu trang l chương 1 2 3 4

 

CHƯƠNG THỨ NH̀

 

Những bản Tâm Kinh chữ Phạn, chữ Anh và chữ Pháp.

 

Trong chương thứ Nh́  có tất cả sáu bản Tâm Kinh.

- Một bản Tâm Kinh chữ Phạn của Ziogon - Tịnh Nghiêm, chép ra năm 1694, có bản dịch chữ Anh, tiềng Tàu và tiếng Nhật âm ra.

- Hai bản Tâm Kinh chữ Phạn : Bản ngắn và Bản dài do hai nhà sư : Kanamatsu = Kim Tùng, và Ôta  = Đại Điền chép ra năm 1880.

- Một bản chữ Phạn – Prajna Paramita Hridaya Sutra. Sanscrit text of Hridaya Sutra.

- Một bản dịch chữ Pháp của ông Jean Marquès Rivière.

- Một bản dịch chữ Pháp của hai vị Tỳ kheo Vai Tae và Bác sĩ Dr Dwight Goddard.

Bản Tâm Kinh của Ziogon và hai bản : bản ngắn và bản dài của hai nhà sư Kim Tùng và Đại Điền vốn chép lại trong quyển Anecdota Oxoniensia Aryan Series, volume I, part 1 pp 6-7 do quí ông Max Muller và Bunyia Manjio phát hành. Chúng nó là những tài liệu in lại do những thư viện Boldleian và Oxford cung cấp.

Hai bản dịch : bản dài và bản ngắn Tâm Kinh cũng có trong “Sacred Books of the East – volume 49, pp 147-154.

Tôi chỉ tiếc là chưa t́m lại được bản dịch Tâm Kinh chữ Anh của Shaku Hannya 10 mà ông J. Marquès Rivière đă nói trong bản dịch tiếng Pháp của ông; bên Pháp và bên Ấn không có.
 

           xin xem những bản trên được chụp đính kèm:

 

Một bản tâm kinh chữ Phạn của Ziogon - Tịnh Nghiêm, chép ra năm 1694 có bàn dịch chữ Anh, tiếng Tàu và tiếng Nhật âm ra

Hai bản Tâm Kinh chữ Phạn : Bản ngắn và Bản dài do hai nhà sư : Kanamatsu = Kim Tùng, và Ôta  = Đại Điền chép ra năm 1880.

Một bản chữ Phạn – Prajna Paramita Hridaya Sutra. Sanscrit text of Hridaya Sutra.

(Từ trang 23 theo sách, ghi chú để tiện việc xem lạị  mà thôi)
 

THE TWO TEXTS  OF THE  PRAGNA - PARAMITA-HRIDAYA SUTRA..

Although the interest of the documents published in the preceding pages is purely archaeological, and, to a certain extent, historical, it may be useful to add here a translation of the two texts, the smaller and larger, of the Pragna-paramita-hridaya sutra.The smaller is an abstract of the larger, but even the larger text is only a very short epitome of the doctrines developed in the Pragnaparamita,and there fore hardly to be rendered intelligible by means of a translation,

 

PRAGNA-PARAMITA-HRIDAYA. SUTRA.

SHORTER TEXT RESTORED

 

     Adoration to the Omniscient ;

     The venerable Bodhisattva Avalokitesvara, performing his study in the deep Pragnapiramita (perfection of wisdom), thought thus There are the five Skandhas, and these he considered as by their nature empty (phenomanal).    

“  O Sarputra, he said, " form  here is emptiness, and emptiness indeed is form. Emptiness is not different from form, form is not different from emptiness. What is form that is emptiness. What is emptiness that is form."

 « The same applies to perception, name, conception, and knowledge.»        

« Here, O Sâriputra, all things have the character of emptiness, they have no beginning, no end,  they are faultless and not faultless, they are not imperfect and not perfect. Therefore, 0  Sâriputra, in this  emptiness there is no form, no perception, no name, no concepts, no    knowledge. No eye, ear, nose, tongue, body mind. No  form,  sound, smell, taste, touch, objects,”.

There is no eye », etc. . . till we come to «there is no mind »., (What is left cut here are the eighteen Dhâtus or aggregates, viz. eye, form, vision; ear, sound, hearing;  nose, odour, smelling; tongue, flavour, tasting ; body,  touch, feeling, mind, objects, thought),

  «There is no knowledge, no ignorance, no destruction of knowledge, no destruction of ignorance, etc., till we come to, there is no decay and death, no destruction of decay and death; there are not (the four truths, viz. that there) is pain, origin of pain, stoppage of pain, and the path  to it.  There.is no knowledge, no obtaining (of Nirvana !) ,

    « A man who has approached the Pragnâparamita of  the Bodhisattva  dwells enveloped in consciousness (i).But when the envelopment of consciousness has been annihilated then he becomes free of all fear, beyond the  teach of change, enjoying final Nirvâna ».

  A Buddhas of the past, present, and future, after approaching the Pragnâpâramitâ, have awoke to the highest perfect knowledge ".

  Therefore one ought to know the great verse of the Pragnâpâramitâ, the verse of the great  wisdom; the unsurpassed vese, the peerless verse, which appeases all pain -  it is truth, because it is not false — the verse proclaimed in the Pragnâpâramita : 0 wisdom, gone, gone, gone to the other shore, landed at the other shore, Svâhâ ! "

 

                         Thus ends the heart or the Pragnâpâramita .
 

PRAGNÂ PÂRAMITÂ – HRIDAYA - SUTRA.

LARGER TEXT RESTORED.

 

     A copy of this fuller text was sent to me from Japan by two young priests, Kanematsu and Ota (see Anecdota Oxoniensia, Aryan Series, vol. i, part i, pp. 6-7) and received at Oxford the 7th of October, 1880. It is the copy of a copy, preserved at a large monastery, generally called Hasedera, of the Shingon sect at Hase in Yamato, and contains, besides the text. a Chinese translation and transliteration made, during the Thang dynasty, by an Indian priest, called Pragna, of Kipin or Cabul, who also translated a chapter of the Buddhâvatamsakavaipulyasutra, A.D. 796-798. The original is believed to have been brought from China by a Japanese priest, Yeun, one of the ten great disciples of Kukai (died A.D. 835, the founder of the Shingon sect in Japan, and was preserved among the treasures in a monastery called Shio kiin, on the mountain Kôya, in the province of Kii. The copy is now deposited in the. Bodician Library ; see Cat. Bodl. Japan., No, 63. I quote it as ).

     Nearly the same text is also to be found In the Chinese Collection of Sanskrit Texts, under the title of Aryapankavimsatikâ-Bhagavati-Pragnâpâramitâhridayam, I quote it as W,

 MAX MULLER,

 

PRAGNÂ – PÂRAMITÂ – HRIDAYA SUTRA

 

 

TRANSLATION OF THE LARGER

PRAGNÂ PÂRAMI

     Adoration to the Omniscient !

     This I heard. At one time the Bhagavat dwelt at Râgagriha, on the hill Gridhrakuta, together with a large number of Bhikshus and a large number of Bodhisattvas.

 At that time the Bhagavat was absorbed in a meditation, called Gambbirâvasambodha. And at the same time the great Bodhisattva Aryâvalokitesvara, performing his                      study in the deep Pragnâpâramita, thought thus; There are the five Skandhas, and those he considered as something by their nature empty”.

 Then the venerable Sâriputra, throught Buddha’s power, thus spoke to the Bodhisattva Aryâvalokitesvara : "If the son or daughter of a family wishes to perform                           the study in the deep Pragnâpâramita, how is he to be taught ?. 

  On this the great Bodhisattva Aryâvalokitesvara thus spoke to ihe venerable Sâriputra : "If the son or a family wish  to perform the study in the deep Pragnâpâramita, he must think thus :

There are five Skandhas,and these he considered as by their nature empty. Form is emptiness, and emptiness indeed is form. Emptiness is not different from form, form is not different from emptiness. What is form that is emptiness, what is emptiness that is form. Thus perception, name, conception, and knowledge also are emptiness. Thus, 0 Sâriputra, all things have the character of emptiness, they have no beginning, no end, they are faultless, and not faultless they are not imperfect and not perfect. Therefore, 0 Sâriputra, here in this emptiness there is no form, no perception, no  name, no concepts, no knowledge. No eye, ear, nose, tongue, body, and mind. No form, sound, smell, taste, touch, and objects. There is no eye, etc..., till we come to ther