trang nhà l trang sách l bản tin l thiền học l tiểu sử l trang thơ l h́nh ảnh l bài vở

 

BÍ QUYẾT CỦA NHƠN SINH

LE SECRET DE LA VIE
đầu sách cuối sách  lời nói đầu mục lục chú thích chương 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

Tác giả : ANNIE BESANT

Dịch giả: TRI THIỆN & BẠCH LIÊN

Vài lời nói đầu

đầu sách cuối sách  lời nói đầu mục lục chú thích chương 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

 

Bà A. Besant viết quyển sách nhỏ nầy để cắt nghĩa một cách tổng quát những sự bí mật trong đời sống của con người.

Những lời giải thích tuy vắn tắt song vẫn đầy đủ cho những người mới học Đạo.

Đọc kỹ lưỡng quyển nầy, quí bạn thấy rằng cái chi xảy đến cho con người hay là cho cơi Trần đều có căn nguyên, hoặc ở kiếp nầy hay ở kiếp trước.

Trời đất không bao giờ bất công, chỉ tại con người phải gặt lấy những quả của hột giống ḿnh đă gieo. Trồng dưa đặng dưa, trồng đậu đặng đậu. Chẳng hề có việc gieo lúa, bắp mà gặt tiêu, ớt, cũng như không ai thấy khi nào ương xoài mà mận lại mọc lên. . .

Cho hay, Nhân nào Quả nấy.

Nếu người làm lành mà chưa được hưởng phước là v́ c̣n phải trả quả ác đă gây ra và quả tốt của những việc lành vẫn chưa muồi, nên chưa đến.

C̣n kẻ ác mà chưa mắc họa là v́ c̣n hưởng phước của những việc phải đă làm và hơn nữa quả ác cũng chưa chín.

Quí bạn nào muốn hiểu thêm nhiều chi tiết th́ nên đọc những sách Huyền bí học bàn về:

1.- Thái dương hệ của chúng ta.

2.- Những Thể của con người.

3.- Quyền năng tư tưởng.

4.- Thần nhăn.

5.- Con người thác rồi về đâu.

6.- Luân hồi.

7.- Nhân quả.

8.- Hy sanh.

9.- Con đường của người đệ tử. . .

Tuy nhiên, muốn thấy sự hành động của những luật Trời th́ phải bước vào đường Đạo và trước nhứt phải luyện tập cho có đủ những đức tánh của luật Trời đă qui định cho mỗi cấp bực.

Thế th́ những quyển:

Trước thềm Thánh Điện.

Con đường của người đệ tử.

Dưới chơn thầy.

Người phụng sự.

sẽ giúp rất nhiều cho những bạn nào muốn tự ḿnh kinh nghiệm tức là quan sát trực tiếp thay v́ học gián tiếp những lư thuyết suông như bây giờ và chỉ hiểu bằng trí óc mà thôi. V́ thế có những sự khuyết điểm nhiều hay ít tùy theo sự hiểu biết nông hay sâu của mỗi người.

Chúng tôi tin rằng quí bạn nào có luyện tập theo phương pháp Dô ga (Yoga) hoặc đă tập tự chủ đều xác nhận những lời chúng tôi thốt ra đây đúng với Chơn lư.

                                                                  TRI THIỆN- BẠCH LIÊN

 

MỤC LỤC

đầu sách cuối sách  lời nói đầu mục lục chú thích chương 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

CHƯƠNG THỨ NHỨT

               Thông Thiên Học là ǵ ?

CHƯƠNG THỨ NH̀

               Thái dương hệ

CHƯƠNG THỨ BA

               Con người và những thế giới của nó

CHƯƠNG THỨ TƯ

              Con người và những thể hư hoại

CHƯƠNG THỨ NĂM

              Những thể bất diệt hay là trường sanh bất tử của con người

CHƯƠNG THỨ SÁU

              Luân hồi

CHƯƠNG THỨ BẢY

              Sự bí mật của ḷng thương và ghét

CHƯƠNG THỨ TÁM

              Nhơn Quả - Luật Hành Động và Phản Ứng (Luật Cảm Ứng)

CHƯƠNG THỨ CHÍN

              Ba tao của sợi dây định mạng

CHƯƠNG THỨ MƯỜI

             Quyền lợi tư tưởng và công dụng của nó

CHƯƠNG THỨ MƯỜI MỘT

             Các giai đoạn trên đường Đạo

CHƯƠNG THỨ MƯỜI HAI

             Những Huynh trưởng của chúng ta.

H Ế T

đầu sách cuối sách  lời nói đầu mục lục chú thích chương 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

CHƯƠNG THỨ NHỨT 

đầu sách cuối sách  lời nói đầu mục lục chú thích chương 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

THÔNG THIÊN HỌC LÀ G̀ ?

Ngày nay nhiều người nói đến danh từ Thông Thiên Học (Théosophie) và có nhiều người đă thành người Thông Thiên Học mà không nghi ngờ việc đó chút nào, cũng như ông Zourdain đă làm văn xuôi (tản văn) mà tự ḿnh không hay biết. Bởi v́ Thông Thiên Học là Minh Triết thiêng liêng và sự Minh Triết nầy là Ánh sáng soi tỏ mỗi người khi họ sanh ra ở cơi Trần. Nó không phải là của riêng của một người nào, nó là của chung của tất cả mọi người, không phân biệt ai cả và quyền thâu nhận bao hàm quyền sở hữu. Quyền sở hữu lại bắt buộc có bổn phận phải chia sớt. Cái ǵ là chơn lư, cái ǵ là đẹp đẽ ở trong mỗi tôn giáo, mỗi môn triết học, mỗi khoa học, mỗi ngành hoạt động đều lấy ở trong Minh Triết thiêng liêng ra, nhưng không môn phái nào được quyền yêu sách rằng Minh Triết thiêng liêng vốn là của riêng của ḿnh và chống lại với môn phái khác.

Thông Thiên Học không phải thuộc về Hội Thông Thiên Học, mà Hội Thông Thiên Học lại thuộc về Thông Thiên Học.

Tinh hoa Thông Thiên Học là ǵ ? Ấy là việc con người vốn bản tánh thiêng liêng cho nên hiểu được Đức Thượng Đế và nó đương chia sớt sự sống của Ngài. Do theo Chơn lư tối cao nầy người ta kết luận là tất cả nhơn loại đều là anh em. Sự sống thiêng liêng là Chơn linh ở trong mọi vật hiện hữu từ nguyên tử cho đến vị Đại Thiên thần; hột bụi kia, cũng chẳng hiện ra được nếu không có Đức Thượng Đế trong đó. Vị Thiên Sứ tối cao cũng là một Điểm Linh Quang Bất diệt của Đức Thượng Đế. Tất cả nhơn vật cùng nhau chia sớt sự sống duy nhứt nầy cố nhiên tạo thành một khối Huynh đệ. Đức Thượng Đế vẫn nội tại [1]. Con người vẫn liên kết với nhau, đó là những Chơn lư căn bản của ThôngThiên Học.

Những giáo lư phụ thuộc của nó là những giáo lư chung của các tôn giáo xưa và nay tỷ như:

    1) Đức Thượng Đế là Đấng Độc nhứt.

2) Ba Ngôi của Ngài.

3) Chơn linh nhập vào vật chất.

4) Các Đẳng cấp Thiên Sứ mà nhơn loại là một ở trong đó.

5) Sự tiến triển nhơn loại nhờ sự mở mang ư thức (tâm thức) và sự tấn hóa các thể (sự Luân hồi).

6) Sự tấn bộ nầy tuân theo một luật bất khả vi phạm: ấy là luật Nhân Quả hay là Cạt ma (Karma).

7) Hoàn cảnh để giúp cho con người tấn triển tức là ba cơi: cơi Hạ giới, cơi Trung giới, cơi Thượng giới hay là: quả Địa cầu, cơi Dục giới và Thiên Đường.

8) Sự hiện hữu của các vị Thánh sư và các vị siêu nhân.

Tất cả các tôn giáo đều dạy kỹ hay đă có dạy những điều nầy; mặc dầu thỉnh thoảng một vài giáo lư nầy bị che lấp, nhưng luôn luôn nó cũng hiện ra lại. Bởi vậy cho nên học thuyết Luân hồi mà Cơ Đốc Giáo đă bỏ mất, nay lại xuất hiện. Nói một cách tổng quát, sứ mạng của Hội Thông Thiên Học là truyền bá những Chơn lư đó khắp mọi nơi, mặc dầu không có một hội viên nào riêng ḿnh bị bắt buộc phải công nhận một Chơn lư nào cả. Thật thế, mỗi hội viên vẫn có quyền tự do học hỏi theo ư muốn của ḿnh, công nhận hay bác bỏ Chơn lư nào cũng được, nhưng lấy tư cách tập đoàn mà nói, nếu Hội Thông Thiên Học không công nhận hay không truyền bá những Chơn lư đó th́ Hội Thông Thiên Học không c̣n lư do tồn tại đâu.

Những giáo lư căn bản của các tôn giáo trên hoàn cầu vẫn nhứt trí là bởi các tôn giáo đều do những vị giáo chủ Nhân viên của Quần Tiên Hội lập ra, các Ngài có phận sự bảo tồn Minh Triết thiêng liêng, tức là Thông Thiên Học. Thỉnh thoảng có những vị trong Quần Tiên Hội xuất hiện và lập những tôn giáo mới, các Ngài đem theo cũng mấy Chơn lư đó, nhưng tŕnh bày chúng nó dưới một h́nh thức hạp với t́nh thế của thời đại, cân xứng với tŕnh độ trí thức và đặc tánh của dân chúng đúng theo những nhu cầu và những phương châm của họ. Những điều cốt yếu vẫn y nguyên, chỉ có những cái chi không quan trọng mới thay đổi. Nói về đại cương, người ta thấy những dấu tượng trưng trong tất cả các tín ngưỡng đều giống in nhau, bởi v́ những dấu tượng trưng nầy làm ra lời nói chung của các tôn giáo. Những dấu đó là: ṿng tṛn, h́nh tam giác, thập tự giá, con mắt, mặt trời, ngôi sao và nhiều cái khác nữa. Hiểu được như thế th́ thấy Hội Thông Thiên Học phụng sự mỗi tôn giáo trong địa hạt riêng biệt của nó và qui tụ tất cả vào nhóm Huynh Đệ. Về phương diện luân lư, giáo lư Thông Thiên Học căn cứ trên sự “Đồng Nhứt”, v́ thấy trong mỗi h́nh thể sự biểu lộ của một sự sống chung, thế nên chung qui là khi có một sự sai lầm làm hại một phần tử nào th́ nó cũng làm hại cho tất cả toàn thể.

Làm quấy tức là đầu độc nhơn loại, ấy là phạm tội trọng với “Đồng Nhứt”. Thông Thiên Học không có luật lệ về luân lư bởi chưng chính nó tiêu biểu cho nền luân lư cao quí nhứt, nó hiến cho học giả những bài học luân lư cao hơn hết trong các tôn giáo. Nó thâu nhặt những hoa thơm ngào ngạt nhứt trong vườn tín ngưỡng phàm gian. Hội Thông Thiên Học không có lập luật lệ để bắt buộc ai theo, bởi v́ bộ luật ban hành cho đại chúng phải căn cứ vào tŕnh độ thấp kém bậc trung hiện thời. C̣n Hội Thông Thiên Học cố gắng nâng cao hội viên lên khỏi mức tầm thường bằng cách hiến cho họ những lư tưởng cao siêu và truyền cho họ những nguyện vọng cao cả. Hội dẹp qua một bên luật lệ của Moïse đặng noi theo tinh thần của Đức Phật và Đấng Christ. Nó kiếm thế đưa ra luật ở trong nội tâm chớ không bắt buộc phải tuân theo luật ở bên ngoài. Phương pháp của nó đối với những hội viên kém tấn hóa nhứt, không phải là trục xuất họ, mà là cảm hóa, cải thiện. Đem đạo lư thiên nhiên kết hợp vào một cơ quan th́ lập ra một trung tâm do đó sinh lực của cơ quan nầy có thể phóng ra, như thế, một sợi dây mới mẻ và chắc chắn đă tạo thành giữa hai cơi: cơi tinh thần và cơi vật chất. Sự thật, ấy là một “Thánh lễ”, một dấu chứng hữu h́nh của một sự ban ân huệ tinh thần bên trong, một bằng chứng về sự sống của Đức Thượng Đế ở trong con người.

CHƯƠNG THỨ HAI

đầu sách cuối sách  lời nói đầu mục lục chú thích chương 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

THÁI DƯƠNG HỆ

 Thái dương hệ là một cḥm hành tinh xây chung quanh một mặt trời, lấy mặt trời đó làm trung tâm và thâu hút ánh sáng, sự sống và khí lực của mặt trời đó. Về điều nầy người Thông Thiên Học hay không phải Thông Thiên Học đi nữa cũng vẫn tán đồng. Nhưng người Thông Thiên Học c̣n thấy nhiều hơn cái đó trong một Thái dương hệ. Đối với họ, ấy là một trường tấn hóa bao la, bát ngát do một vị Chúa tể điều khiển. Ngài sanh ra chất dĩ thái của vũ trụ hay là chất Nguơn khí, Ngài đem sự sống của Ngài thấm nhuần nó và Ngài lấy nó làm ra thể xác của Ngài. Rồi từ tâm của Ngài là ngôi mặt trời, Ngài cho tuôn ra một nguồn khí lực lưu thông khắp cả hệ thống cũng như máu huyết của Ngài. Máu huyết nầy sẽ trở về trái tim sau khi các chất bổ dưỡng đă cạn, để thâu nạp các chất bổ dưỡng mới khác rồi khởi sự lưu thông như trước, đặng làm công việc bảo tồn sanh mạng của muôn loài vạn vật. Vậy th́ đối với nhà Thông Thiên Học, Thái dương hệ không phải chỉ là một guồng máy tinh xảo làm bằng vật chất mà nó c̣n là một biểu hiện của một nguồn sống nuôi dưỡng không biết bao nhiêu sanh mạng do nó tạo ra. Nó thấm nhập vào tất cả những phần tử của nó (tức là các loài vật) đường hoạt động, ham muốn, thông minh hay ngu muội.

Thái dương hệ nầy sanh ra đây đặng cho những Điểm Linh Quang của Thượng Đế mới phô thai và chia sớt bản tánh thiêng liêng của Ngài mới có thể phát triển theo kiểu mẫu của Đấng Cha lành đă định sẵn cho họ. Những bầu hành tinh chứa đựng chẳng những loài người mà lại c̣n những loài thấp hơn con người nữa.

Trên những cơi tinh vi hơn cơi trần, có những nhân vật tấn hóa hơn con người rất xa mà cũng có những hạng c̣n thấp kém hơn con người; những nhân vật mà thân h́nh làm bằng một chất tinh tế hơn chất hồng trần, bởi vậy con mắt phàm không thấy được, nhưng mà họ cũng hoạt động, cũng khôn ngoan; sau rốt là những người đă cổi bỏ xác phàm, họ cũng tư tưởng, họ cũng dễ thương, họ cũng làm việc vậy. Trong lúc c̣n sống ở cơi trần nầy, người ta có thể tiếp xúc với mấy cơi đó. Sự giao thiệp có thể đầy đủ ư thức như các vị Giáo chủ, các nhà Tiên tri, các nhà Thần bí học và các nhà có Huệ nhăn của tất cả các tôn giáo đă chứng minh điều ấy. Đấng Chí Tôn hiện ra trong hệ thống của Ngài dưới ba trạng thái hay là ba Ngôi: Đấng Sanh hóa, Đấng Bảo tồn và Đấng Phục hưng;

Cơ Đốc Giáo gọi là: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần.

Ấn Độ Giáo gọi là: Brahman, Vishnou và Shiva;

Nhà Thần bí học Hê brơ (Hébreux) Hy bà lai gọi là: Soc ma (Chochmah), Bina (Binah) và Cơ te (Kether);

Người Thông Thiên Học gọi là: Ngôi thứ Nhứt (Premier Logos), Ngôi thứ Nh́ (Deuxième Logos) và Ngôi thứ Ba (Troisième Logos), v́ dùng theo danh từ xưa của người Hy lạp là “Le Verbe” (Ngôi Lời) để ám chỉ Đức Thượng Đế đă hiện ra.

Ngôi thứ Ba biến đổi Hổn Nguơn nhứt khí ra 7 thứ Nguyên tử rồi phối hợp 7 thứ nầy lại đặng làm ra 7 chất khí căn bản ở khắp Thái dương hệ. Mỗi chất đều luôn luôn nặng hơn chất ở trên kế đó, và tương xứng với một tŕnh độ ư thức (Tâm thức) khác biệt. Mỗi thứ khí căn bản làm ra một cơi hay là một thế giới và trong Thái dương hệ có 7 cơi. Cơi thứ Nhứt và cơi thứ Nh́ gọi là cơi Tối Đại Niết Bàn và Đại Niết Bàn, hay là cơi A Di và cơi Anupadaka, tức là hai cơi: Tối Đại Thiêng Liêng và Đại Thiêng Liêng, chỗ Đức Thượng Đế ngự. Cơi thứ Nh́, cơi Đại Niết Bàn là chỗ sanh ra Chơn thần, cũng gọi là Quê hương con người; cơi thứ Ba là cơi Niết Bàn cũng gọi là cơi của Atma (Plan Atmique) và cơi thứ Tư là cơi Bồ Đề cũng gọi là cơi Thiêng Liêng. Lên tới đây người phàm tự biết ḿnh vốn là Thiêng Liêng. Cơi thứ Năm là cơi Trí Tuệ (cơi Thượng giới). Cơi thứ Sáu là cơi T́nh cảm (cơi Dục giới hay là cơi Trung giới). Cơi thứ Bảy là cơi Hạ giới hay Phàm trần. Chất khí ở mấy cơi Thiêng Liêng tương xứng với tŕnh độ Thiêng Liêng của ư thức (Tâm thức). Nó tinh vi và dễ uốn nắn ra h́nh dạng cho đến đỗi một chút kích thích của tinh thần cũng đủ thay đổi h́nh dạng nó và có ư nghĩa sự chia rẽ đă tiêu mất trong sự hiệp nhứt. Chất khí của cơi Trí Tuệ tương xứng với tŕnh độ trí thức, gồm có tư tưởng và sự hiểu biết, và mỗi sự biến đổi trong tư tưởng đều kèm theo sự rung động trong chất đó [2].

Chất khí làm ra cơi Dục giới hay Trung giới tương xứng với tŕnh độ ham muốn của ư thức. Mỗi sự thay đổi trong sự cảm động, t́nh dục, sự ham muốn và cảm giác đều kèm theo sự rung động trong chất đó.

Chất khí làm cơi Hồng trần thô kịch hơn và đặc hơn, ấy là chất thứ nhứt cấu tạo để cho ư thức con người hoạt động.

Bảy chất nầy lẫn lộn với nhau cũng như chất đặc, chất lỏng, chất hơi và tinh khí hay dĩ thái hồng trần lẫn lộn với nhau trong những vật bao bọc chung quanh ta. Chúng nó phân phát không đồng đều trong khắp cả không gian của một Thái dương hệ, mà tích tụ từng phần, làm ra những hành tinh, những thế giới hay tinh cầu.

Ba chất khí tinh tế hơn hết (chất khí làm cơi Tối Đại Niết Bàn, Đại Niết Bàn và Niết Bàn) lan tràn khắp nơi trong Thái dương hệ, tức là chỗ nào cũng có chúng nó. C̣n bốn chất khí dưới đặc hơn (chất khí làm ra cơi Bồ Đề, Thượng giới, Trung giới và Hạ giới) cấu thành những tinh cầu và bao bọc chúng nó. Mấy tinh cầu nầy không tiếp xúc, không thông đồng với nhau ở trên không gian. Ở cơi Bồ Đề, những hành tinh của một hệ thống tiến hóa đều thông đồng với nhau. Các Thánh kinh đều có nói đến Bảy Vị Thiên Đế. Cơ Đốc Giáo và Hồi Giáo có 7 vị Đại Thiên thần. Hỏa Thần Giáo (đạo của Zoroastre) th́ gọi 7 vị Amshaspends; đạo Hê brơ (Hy bà lai) kêu là 7 vị Séphiroths; c̣n Thông Thiên Học gọi là 7 vị Hành Tinh Thượng Đế (7 Logoi). Các Ngài là Chúa tể của 7 hành tinh sau nầy: Hỏa tinh (Vulcain), Kim tinh (Vénus), Địa cầu (Terre), Mộc tinh (Jupiter), Thổ tinh (Saturne), Thiên Vương tinh (Uranus) và Hải Vương tinh (Neptune).

Mỗi hành tinh là một khúc quanh của một dăy hành tinh, liên quan với nhau và dưới quyền coi sóc của một vị Hành Tinh Thượng Đế. Một dăy là một trường tấn hóa riêng biệt, từ mới sơ khai cho đến khi con người sanh ra. Trong mỗi Thái dương hệ có 7 trường tấn hóa phụ thuộc như thế, lẽ dĩ nhiên là phải ở vào những giai đoạn tiến triển khác nhau. Mỗi dăy gồm 7 bầu hành tinh mà lệ thường, trong đó có một bầu làm bằng chất hồng trần, c̣n 6 bầu kia làm bằng những chất tinh tế hơn. Trong dăy hành tinh của chúng ta th́ có Trái đất và hai bầu khác là Hỏa tinh (Mars) và Thủy tinh (Mercure) con mắt phàm thấy được, cùng 4 bầu khác không thấy được. Làn sống sanh tồn tiến bộ đưa nhơn vật tiến lên và chỉ ở tại mỗi bầu một lần mà thôi (trừ ra vài ngoại lệ, kể ra đây không ích chi). Khi nhơn vật học hỏi xong những bài học ở bầu đó rồi th́ tiến qua bầu khác kế đó. Nhơn loại chúng ta đă đi từ bầu thứ nhứt ở tại cơi Thượng giới, tới bầu thứ hai ở Trung giới, tới bầu thứ ba là Hỏa tinh, rồi qua bầu thứ tư là Địa cầu của ḿnh đương ở bây giờ. Nhơn loại sẽ bỏ Địa cầu để qua bầu thứ năm là Thủy tinh, rồi lên bầu thứ sáu trở lại cơi Trung giới, và chót hết là bầu thứ bảy ở cơi Thượng giới. Giáp một ṿng 7 bầu như vậy Thông Thiên Học gọi là một cuộc tuần hoàn tiến hóa, rất đúng.

Hệ thống tiến hóa nầy bao la bát ngát, người c̣n dốt nát không thể hiểu nổi, mà hệ thống Thiên văn học hiện kim cũng không thấu rơ v́ nó chỉ chuyên môn luận giải về cảnh Hồng trần mà thôi. Vả lại cũng chẳng cần ǵ tất cả thiên hạ phải hiểu rơ điều nầy v́ nó không cần thiết liền cho đời sống. Sự hiểu biết nó chỉ có ích cho người nào v́ muốn thấu rơ nên đem hết tâm trí nghiên cứu những vấn đề sâu xa về vạn vật và không hề lùi bước khi cần phải hết sức cố gắng để suy nghĩ.

CHƯƠNG THỨ BA

đầu sách cuối sách  lời nói đầu mục lục chú thích chương 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

CON NGƯỜI VÀ NHỮNG THẾ GIỚI CỦA NÓ.

Con người là một Điểm Linh Quang lấy xác phàm đặng thâu thập những kinh nghiệm ở mấy cơi thấp hơn cơi Đại Niết Bàn hầu làm chủ và cai trị chúng nó, rồi muôn vạn thế kỷ sau sẽ được vào hàng các vị Thiên Đế để chỉ huy và sanh hóa vũ trụ.

Một luật đại đồng trong vũ trụ định rằng một Ư thức (Tâm thức) hiểu biết được cái ǵ mà nó có thể mô phỏng lại được, một ư thức nầy hiểu biết được một ư thức khác là khi nào nó tự mô phỏng lại được những sự biến chuyển đă xảy ra trong ư thức khác đó. Nếu một người kia đau đớn v́ sự khổ cực của một người khác, nếu va sung sướng khi một kẻ khác hưởng hạnh phúc, nếu va cảm thấy lo âu hay tin cậy v.v. . . một lượt với một người nào và đồng thời ư thức miêu tả được cảm t́nh của người đó th́ va mới thật hiểu người đó. Sự thiện cảm là điều kiện của sự hiểu biết mà ư thức tác động trong những thể; mấy thể nầy do vật chất cấu thành. Ư thức [3] (Tâm thức) th́ ảnh hưởng tới ư thức được, nhưng mà làm sao ư thức ảnh hưởng đến các thể bây giờ ?

Do đó có một định luật khác là: Khi có một sự thay đổi trong ư thức th́ lập tức có một sự rung động sanh ra trong chất khí ở kế một bên và mỗi sự thay đổi nào cũng đều có sự rung động riêng của nó ứng đáp lại: cũng như một tiếng đờn luôn luôn tương ứng với sợi dây đờn, dài hay ngắn, to hay nhỏ cũng vậy, cả hai đều ăn rập với nhau.

Trong một Thái dương hệ, tất cả những ư thức riêng biệt đều là những phần tử của ư thức thiêng liêng của Đức Thượng Đế, chủ tể hệ thống, và hết thảy chất khí của hệ thống làm ra thân thể Ngài. Ngài tạo thành chất nầy và cho nó liên lạc với Ngài, thế nên khắp nơi, nó ứng đáp lại với không biết bao nhiêu sự thay đổi trong ư thức của Ngài, bằng những cách rung động khác nhau, và những cái nầy th́ tương xứng với những cái kia. Khắp nơi trong bờ cơi rộng lớn bao la của Ngài, ư thức của Ngài và vật chất của Ngài đều ứng đáp lẫn nhau với một sự điều ḥa hoàn toàn và bất diệt, cùng với một sự liên quan bất khả xâm phạm.

Con người chia sớt sự liên quan nầy với Đức Thượng Đế, nhưng chỉ với một cách yếu ớt và sơ lược. Khi ư thức con người thay đổi th́ các chất ở chung quanh con người rung động đặng ứng đáp lại, nhưng sự ứng đáp nầy chỉ được hoàn toàn và đầy đủ hồi ban sơ, chỉ ở tại cơi Đại Niết Bàn mà thôi, nơi đó Đức Thượng Đế đă sáng tạo con người. Tại cơi ấy, mỗi sự rung động của vật chất đều sanh ra một sự thay đổi trong ư thức con người, thế nên con người biết được cơi đó, là chỗ nó sanh ra và gia đ́nh nó. Nhưng ở mấy cơi dưới, chất khí dầy đặc hơn cơi Đại Thiêng liêng nầy, nên con người chỉ là một vị khách lạ, những sự rung động của chất nặng nề nầy, mặc dầu bao bọc con người khắp nơi, nhưng không cảm con người được; đối với con người, những sự rung động nầy cũng như không có, không khác nào những làn sóng vô tuyến điện truyền tin đi mà không cảm chúng ta được. Đối với giác quan ta những làn sóng đó không có thật. Theo những điều kiện nầy th́ con người phải làm sao đặng khôn lớn, hầu giống như cha ḿnh là Đấng Chí Tôn. Đối với Ngài mỗi sự rung động đều đem lại một tin tức. Ngài có thể sanh ra bắt câu sự rung động nào trong vật chất bằng cách thay đổi ư thức của Ngài. Trong Thái dương hệ không có một chỗ nào mà không có Ngài hoạt động, không có một việc nào xảy ra, bất kỳ ở nơi đâu mà Ngài không hay biết (tức là Thượng Đế vô sở bất tại và toàn tri toàn năng). Về câu hỏi trên đây ta có thể trả lời bằng hai tiếng: Nhập thế hay Nội bao và Tiến hóa hay Phản bổn hoàn nguyên.

Nhập thế hay Nội bao (Involution) nghĩa là lấy một lớp bao ḿnh làm bằng chất khí của những cơi: Niết Bàn, Bồ Đề, Thượng giới, Trung giới và Hạ giới hay Phàm trần. Nội bao cũng gọi là Chơn thần nhập vô vật chất hay là “Con người bị rớt xuống”. Khi bao ḿnh xong rồi, con người phải lần hồi t́m hiểu những sự việc xảy ra trong người ḿnh, trong tâm ḿnh, những sự thay đổi rất kinh ngạc, hăi hùng; chúng nó hiện đến vang dậy rồi biến mất ngoài ư muốn của con người. Chúng nó là những sự rung động gây ra trong thể xác do những sự rung động của một cơi đời rộng lớn bao la đương bao bọc con người. Chúng nó bắt buộc con người phải thay đổi những trạng thái tâm thức mà con người không bao giờ muốn t́m kiếm chút nào. Con người phải phân tích chúng nó, qui chúng nó về nguồn gốc và nhờ chúng nó giúp con người hiểu biết những cơi ở chung quanh với tất cả các chi tiết. Con người tổ chức mấy thể của ḿnh lại thành ra những nhân viên thụ cảm và biết phân biệt càng ngày càng phức tạp để tùy ư ḿnh thâu nhận những rung động nào hạp và thải ra ngoài những rung động nào chống chỏi với nhau. Sau rốt, con người nhờ những rung động làm trung gian đem những sự thay đổi trong tâm ḿnh ghi dấu vết vào vật chất ở ngoại cảnh. Như thế sẽ thành chủ nhơn của tạo vật, chớ không làm nô lệ nữa.

Đó là sự tấn hóa, đó là Chơn thần vượt lên trên vật chất, sự phát triển của nó ở trong lớp vỏ, làm bằng chất khí của những cơi ở chung quanh. Chơn thần đem sự sống của ḿnh thấm nhuần chất khí đă thâu thập, biến đổi nó ra một đứa tớ ngoan ngoăn biết phục tùng tinh thần. Như thế, Chơn thần đem nó ra khỏi vai tuồng thô kịch để nó phụng sự mấy đứa con của Đức Thượng Đế đă được giải thoát.

Cái vỏ vật chất nầy làm bằng chất khí của những cơi khác nhau, phải được tổ chức lần lần để thành ra một thể hay là vận cụ của ư thức do những ảnh hưởng ở ngoài và sự ứng đáp của nội tâm. Nó được xếp đặt theo cách từ thấp lên cao hay từ chất đặc đến chất tinh tế; những vật liệu lấy ở mỗi cơi phải tổ chức riêng biệt đặng cho vật liệu ở cơi nào th́ thâu nhận những sự truyền đạt của cơi đó và một mặt th́ ảnh hưởng đến cơi đó. Trước hết, những chất khí ở cơi trần, tập trung lại làm một khối đủ sức cứng rắn; kế đó những cơ quan cần thiết cho sự sống. Cũng thế đó những cơ quan của các giác quan đều lần lần phát triển. Xác thịt kỳ diệu và phức tạp nầy tấn hóa như thế đă cả chục triệu năm rồi và bây giờ vẫn c̣n tiếp tục tấn hóa. Nó làm cho con người tiếp xúc với cơi trần, nó giúp cho con người thấy được, nghe được, rờ rẫm được, nếm được, ngửi được. Con người sanh ra những biến đổi ở cơi trần bằng cách dùng cái óc và những dây thần kinh, điều khiển và kềm chế những bắp thịt, tay và chơn. Thể xác nầy chưa được hoàn toàn bởi v́ trong cơi trần gian bao bọc nó, c̣n nhiều chuyện mà nó chưa ứng đáp được như: những h́nh dạng như nguyên tử nó không thấy được; những tiếng nó không nghe thấy được; những lực nó không biết được, khi mà nó chưa khai triển những khối lớn vật chất đặng thấy những hiệu quả sanh ra. Nó chế ra những dụng cụ tinh xảo để trợ giúp những giác quan và tăng gia phạm vi tri giác, tỷ như những kính viễn vọng, những kính hiển vi để giúp con mắt, những máy vi âm để giúp lỗ tai; những điện kế để t́m những lực ngoài sức nhận thức của giác quan. Nhưng mà sau nầy, sự tấn hóa của xác thịt sẽ đem hết cơi trần về địa hạt của nó.

Thể xác ngày nay được tổ chức đến bực khá cao; chất khí kế đó tinh tế hơn gọi là chất thanh khí, tới phiên nó tấn hóa cũng như chất hồng trần: nó dắt con người lần lần tiếp xúc với cơi Trung giới, tức là cơi của t́nh cảm, t́nh dục và ham muốn, cũng đương bao bọc con người. Nhiều người thuộc về những giống dân đă tấn hóa, bắt đầu thấy ḿnh có liên lạc chút ít với cơi Trung giới, có người lại phân biệt được cơi ấy một cách rành rẽ hơn. Sự linh cảm nghi ngờ trong bụng có việc ǵ xảy ra (trong ḷng phập pḥng), lời cảnh cáo (sự báo cho biết trước việc sẽ đến), sự giao thiệp với người chết, sự báo mộng v. v. . . đều do ở cơi Trung giới đưa lại và cảm đến cái Vía. Thường thường chúng nó mơ hồ và hỗn độn v́ tới ngày nay sự cấu tạo cái Vía vẫn c̣n quá khuyết điểm. Nhưng người nào đă luyện tập cái Vía cho nó tấn hóa cao rồi th́ có thể sử dụng cơi Trung giới cũng như chúng ta đều sử dụng cơi trần vậy. Trạng thái thứ ba của vật chất là cái Trí, hiện giờ c̣n ở trong thời kỳ tổ chức, nó làm cho con người tiếp xúc với cơi Trí tuệ cũng đương bao bọc nó. Lần lần cái Trí tấn hóa, con người thâu nhận được những làn sóng tư tưởng và hiểu biết chúng nó; con người cũng giao thiệp được với kẻ khác bằng cái Trí, mặc dầu mấy người đó ở gần hay xa, c̣n sống hay đă thác rồi.

Sau đó con người c̣n phải chiến thắng ở hai cơi Thiêng liêng: cơi Bồ Đề và cơi Niết Bàn. Hai cơi nầy cũng có hai thể thích hợp với chúng nó; ấy là Kim thân và Tiên thể. Ông thánh Phao Lồ (St. Paul) gọi chung chúng nó là thể Thiêng liêng. Sự tổ chức vật chất nầy để cho nó thành ra tôi tớ của Chơn linh; là nhiệm vụ chỉ định cho con người ở trong cái xưởng vĩ đại của Vũ trụ và khi giai đoạn làm người đă kết liễu th́ trong Thái dương hệ không c̣n cái chi mà con người không hiểu biết và không cảm hóa được. Chơn linh vốn ḍng dơi của Đức Thượng Đế nó rất trong sạch nhưng ngoại trừ cơi huyền diệu Đại Niết Bàn là nơi nó sanh ra th́ nó c̣n vô minh và vô ích. Nó trở về quê nhà sau một thời gian hành hương rất lâu dài; bây giờ nó là một người con của Đức Thượng Đế, toàn năng toàn thiện, sẵn sàng lănh nhiệm vụ của một Thiên sứ để thi hành ư chí của Đức Thượng Đế từ thời đại nầy qua thời đại kia, trong một trường hoạt động càng ngày càng rộng với phận sự càng ngày càng lớn.

CHƯƠNG THỨ TƯ

đầu sách cuối sách  lời nói đầu mục lục chú thích chương 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

CON NGƯỜI VÀ NHỮNG THỂ HƯ HOẠI

Có ba thế giới mà con người luân chuyển trong ṿng sanh tử để tấn hóa là: Hạ giới (cơi trần), Trung giới (dục giới) và Thượng giới (Thiên đàng). Con người sanh hoạt tại ba cơi nầy từ khi mới chào đời cho đến lúc bỏ xác, trong lúc thức đây; con người sanh hoạt tại cơi Trung giới trong lúc ngủ và trong một thời gian sau khi chết. Có một đôi khi, con người vào cơi Thượng giới trong lúc ngủ hay lúc đi thiếp (ngủ thật mê) nhưng điều nầy ít có lắm. Chính là tại cơi Thượng giới hay là Thiên đường mà con người trải qua một thời gian rất quan trọng, sau khi chết, thời gian nầy kéo dài ra lần lượt khi con người tấn hóa. Ba thể mà con người dùng để hoạt động trong ba cơi nầy đều hư hoại. Chúng nó sẽ chết v́ hễ có sanh th́ có tử. Từ kiếp nầy qua kiếp kia, chúng nó càng ngày càng cải thiện và càng xứng đáng trở nên những dụng cụ để cho Chơn thần dùng trong khi phát triển. Ba thể nầy là những thể làm bằng chất nặng nề, mô phỏng theo những thể thiêng liêng bất diệt, không ở dưới quyền của sự sanh và sự tử tại phàm gian. Những thể thiêng liêng nầy là y phục của Chơn thần ở mấy cơi cao, nơi đó Chơn thần sống với tư cách là con người thiêng liêng; c̣n ở phàm trần, Chơn thần sống với tư cách là con người xác thịt (chương sau sẽ nói về những thể thiêng liêng nầy).

Như chúng ta đă thấy: ba thể hư hoại là xác thân, vía và trí, chúng nó liên lạc với ba cơi: Hạ giới, Trung giới và Thượng giới.

XÁC THÂN

Hiện giờ, xác thịt là thể mở mang hơn hết trong những thể của con người: ấy là thể thân mật với ta hơn hết. Nó làm bằng chất đặc, chất lỏng, chất hơi và tinh khí hay là dĩ thái. Chất đặc, chất lỏng và chất hơi cấu tạo một cách hết sức tốt đẹp, làm ra những tế bào, những tổ chức, những cơ quan, giúp cho ư thức tiếp xúc với ngoại giới. Những cơ quan nầy có những chỗ bí yếu xây tṛn như bánh xe (luân xa), do đó thần lực từ cơi trên tuôn vào ḿnh con người.

Bởi v́ sau khi con người thác, phần làm bằng chất dĩ thái hay tinh khí tách riêng ra khỏi cái phần làm bằng ba chất kia cho nên người ta mới chia thể xác ra làm hai phần: một là xác thịt, hai là cái phách. Xác thịt gồm những cơ quan để thụ lănh và hoạt động; cái phách làm trung gian để đem sanh lực truyền qua xác thịt. Trong lúc c̣n sống, nếu cái phách ĺa khỏi xác thịt là điều nguy hiểm. Khi cái phách bị bắt buộc ra khỏi xác thịt tỷ như lúc con người hít thuốc mê th́ nó đi thơ thẩn trong không khí và có khi nó nhập vô ḿnh những người mà cơ thể ở trong trạng thái dị thường, gọi là đồng cốt. Mặc dầu cái phách là trung tâm thần lực, khi nó ĺa khỏi xác rồi, nó không có tri giác, nó đi phiêu bạt như đám mây, không mục tiêu, không có một chỗ nào để truyền thần lực c̣n tiềm tàng ở trong ḿnh nó. Có khi mấy anh bàn môn lợi dụng nó để làm trung tâm đặng hiện h́nh ra. Cái phách không rời xa xác thịt được; nếu không c̣n dính với xác thịt nữa th́ xác thịt phải chết v́ không tiếp được sanh lực để giúp nó hoạt động. Sau khi con người từ trần, cái phách bay vơ vẩn gần một bên cái xác, có khi người ta thấy nó lảng vảng bên mả nên gọi là ma.

Xác thịt dùng làm trung gian để con người tiếp xúc với cơi trần. V́ cớ đó có khi người ta gọi nó là “thể hoạt động” ngoài ra nó c̣n tiếp nhận được những sự rung động ở những cơi tinh vi (mấy cơi cao) và khi nó đủ sức mô phỏng lại những sự rung động nầy trong chất hồng trần nhờ thần kinh hệ tổ chức về việc ấy th́ người ta nói: nó cảm giác, nó “tư tưởng”. Cũng như khí trời tuy ta không thấy được nhưng khi chuyển động mạnh, nó tạo ra những lằn gợn trên mặt nước đông đặc hơn nó, cũng như ánh sáng mặt trời, tuy không rờ được, nhưng làm cho những tế bào của vơng mạc hoạt động (thành những h́nh gậy hoặc h́nh nón), cũng thế ấy, chất khí vô h́nh của mấy cơi cao sanh ra những lằn rung động tương xứng trong chất nặng nề của xác thịt và của cái phách. Lần lượt xác thịt tiến hóa, nghĩa là nó càng thâu thập vô ḿnh những chất hóa hợp tinh vi của ngoại giới th́ nó càng ứng đáp được với lằn sóng rung động càng ngày càng mau lẹ. Con người thành ra càng ngày càng thêm nhạy cảm. Sự tấn hóa của một giống dân tộc, một phần lớn, do ở chỗ thần kinh hệ cảm xúc lẹ làng càng ngày càng tiếp tục tăng gia đối với ảnh hưởng ở ngoài. Tuy nhiên, muốn cho sức khỏe được vững vàng th́ sức cảm giác phải có chừng mực, nói một cách khác, sau khi chuyển động vặn xe rồi, bộ thần kinh phải lập tức trở lại trạng thái b́nh thường; khi thực hiện được điều nầy th́ sự cảm giác phát triển đến mức cao tột của lượn sóng tiến hóa và có thể phát hiện được thiên tài. Trái lại, nếu sự quân b́nh không phục hồi được, tự nhiên và lẹ làng, th́ sự cảm giác mắc bịnh và trở nên nguy hiểm, nó dắt đến sự suy đồi và cuối cùng là điên khùng, nếu không có chi ngăn cản nó lại.

CÁI VÍA

Tŕnh độ phát triển của thể nầy khác nhau vô cùng, tùy theo mỗi người; nhưng người nào cũng vậy, sự kinh nghiệm của điều vui vẻ hoặc đau khổ đều do cái Vía sanh ra. Nó hành động v́ dục t́nh, sự ham muốn và cảm giác sai khiến. Những trung tâm điểm của các cơ quan của ngũ quan đều ở trong cái Vía. Khi t́nh dục, sự ham muốn và cảm giác thấp hèn v́ nhục dục và thú tánh th́ chất thanh khí làm ra cái Vía phải thô kịch, cho nên những sự rung động của nó phải chậm chạp và những màu của nó (nâu, đỏ và xanh đậm) th́ tối sẫm và không đẹp mắt chút nào; thỉnh thoảng có những tia chớp màu đỏ hồng chiếu sáng nó. Màu đỏ nâu chỉ về sự thích nhục dục, tham lam và khát vọng. Màu xám xanh (xanh lá cây và xám dợt) chỉ về sự xảo quyệt mưu mô hay là lường gạt. Màu nâu chỉ về tánh tật đố ích kỷ. Màu đỏ hồng bên trái cái đầu chỉ sự giận giũi. Màu vàng chung quanh đầu chỉ về trí khôn. Màu xanh dương pha lẫn màu xám dợt ở trên đầu là dấu chứng ḷng mộ đạo nhưng tánh c̣n chất phác (như sùng bái những h́nh tượng) theo giống dân tộc c̣n dă man như thờ cục đá, gốc cây. Màu hường sậm là dấu hiệu bắt đầu có ḷng yêu thương. Sự tấn hóa càng ngày càng lên cao th́ chất thanh khí làm cái Vía càng ngày càng tinh tế, màu sắc càng ngày càng tươi, càng trong trẻo và rực rỡ.

Chúng ta dùng cái Vía trong tất cả những giờ ta thức; c̣n về cái Vía của những người trí thức và tánh t́nh nhă nhặn th́ đă tiến đến mức khá cao; chất khí mịn màng hơn hết của nó tiếp xúc thân mật với chất nặng hơn hết của cái Trí. Hai thể nầy (cái Trí và cái Vía) luôn luôn hành động chung với nhau, thể nầy và thể kia ảnh hưởng lẫn nhau.

Thường lệ, cái Vía thay đổi màu sắc mỗi khi tánh t́nh thay đổi. Khi tánh ích kỷ, quỷ quyệt, phẩn nộ đă tiêu tan th́ người ta thấy màu đỏ sậm tăng lên to tác, tương ứng với sự thương yêu. Thật vậy, người ta nhận thấy có nhiều sự thay đổi xấu xa, nhưng mà như thế là những cửa vàng đă hé mở cho người đương học tập kinh nghiệm, nếu chúng nó đóng lại th́ ấy là lỗi của con người.

Đây là những kết quả rùng rợn sanh sản trên cái Vía do một cuộc giận dữ. Toàn thể cái Vía lộ ra những quầng đen ghê gớm và từ đó phóng ra những mũi tên đỏ như lửa, t́m thế đi ngay đến người ḿnh giận; nói một cách tổng quát, ấy là một cảnh tượng dữ dội phi thường và thật là khủng khiếp [4].

Trong lúc ngủ, cái Vía thoát ra khỏi xác thịt, đi chung với cái Trí và những thể cao hơn. Đối với những người trí thức th́ tâm thức hoạt động trong cái Vía, lúc xác thịt ngủ yên. Như thế trong giấc ngủ, ta học rất nhiều, và những điều học hỏi theo cách đó, thâm nhiễm lần lần vào cái óc xác thịt và có khi ghi vào cái óc bằng những điềm chiêm bao rơ ràng và sáng suốt. Thường thường tâm thức ít quan tâm đến những việc xảy ra ở cơi Trung giới, nó say sưa với những t́nh cảm và những tư tưởng riêng biệt của nó, nhưng có thể quay tâm thức nầy ra ngoài và nhờ vậy, ta hiểu biết được cơi Trung giới. Tại đây ta giao thiệp được với những bạn ta đă bỏ xác phàm và lúc thức dậy ta cũng c̣n nhớ lại đủ mọi việc, như thế ta lấp được cái hố chia rẽ người sống và kẻ chết.

Những cảm giác riêng như báo trước việc sẽ đến cho ḿnh (như nháy mắt, nhảy mũi [5]), nghi ngờ trong ḷng có việc ǵ xảy ra, cảm biết có người khuất mặt ở một bên và nhiều điều kinh nghiệm khác cùng một loại, là sự hoạt động của cái Vía và những phản ứng của nó vào xác thịt.

Mấy việc nầy càng ngày tăng gia, đó là kết quả của sự tấn hóa của cái Vía ở trong đám người tri thức. Trong vài thời đại nữa, cái Vía sẽ mở mang khắp đại chúng và nó sẽ thân mật với ta như xác thịt vậy. Sau khi ta thác rồi, ta sẽ sống trong một thời gian tại cơi Trung giới, cũng ở trong cái Vía của ta dùng hồi c̣n tại Trần. Thế nên, chúng ta càng tập kiểm soát cái Vía và tập dùng nó một cách khôn ngoan chừng nào th́ việc đó càng hữu ích cho ta chừng nấy, sau khi ta bỏ xác.

CÁI TRÍ

Cái Trí làm bằng chất tinh vi hơn chất của cái Vía, cũng như chất của cái Vía tinh vi hơn chất làm ra xác thịt. Đặc tính của nó là rung động đặng ứng đáp với những sự thay đổi trong tư tưởng. Mỗi sự thay đổi nào trong tư tưởng cũng đều sanh một sự rung động trong cái Trí, và sự rung động nầy, nhờ cái Vía truyền qua xác thịt và làm cho chất thần kinh của cái óc hoạt động. Sự hoạt động của tế bào thần kinh sanh ra nhiều hiệu quả điện khí và hóa học nhưng đó là sự hoạt động của tư tưởng sanh ra những hiệu quả ấy chớ không phải những hiệu quả ấy sanh ra tư tưởng như các nhà duy vật của thế kỷ thứ 19 đă tưởng tượng ra như vậy.

Cái Trí cũng như cái Vía, tùy theo mỗi người mà khác nhau rất xa. Nó làm bằng chất thô kịch hay tinh vi nhiều hay ít tùy theo những sự nhu cầu của những ư thức đă dùng nó mở mang nhiều hay ít. Cái Trí của những người trí thức th́ lanh lẹ và có h́nh dạng đều đặn, c̣n đối với những người chưa mở mang th́ nó như đám mây mù và không cảm giác. Chất khí làm cái Trí lấy ở cơi Thượng giới cũng gọi là Thiên đường. Nó chuyển động luôn luôn bởi v́ con người tư tưởng không những lúc c̣n thức đây mà trong lúc ngủ và sau khi con người bỏ xác cũng tư tưởng vậy. Con người sống trọn vẹn trong t́nh cảm và tư tưởng khi nó bỏ cái Vía đặng lên cơi Thiên đường. Biết rằng chúng ta phải trải qua nhiều thế kỷ ở trong cái Trí, th́ điều hợp lư là phải rán hết sức ḿnh để cải thiện nó lúc c̣n ở trần gian. Những phương pháp dùng để đạt được mục đích đó là: học tập, tư tưởng, cảm giác đẹp đẽ liên tục những ước vọng (cầu nguyện) cố gắng làm lành và điều cần thiết hơn hết là tham thiền sốt sắng luôn luôn không gián đoạn. Những sự thực hành khác nhau nầy giúp cho cái Trí tấn hóa rất mau và kiếp sống trên Thiên đường được phong phú. Các loại tư tưởng xấu làm hoen ố và hư hại cái Trí, nếu con người nhứt quyết nuôi dưỡng chúng nó măi th́ cái Trí mắc bịnh và hư tổn, trọn kiếp sống của nó không thể chừa được.

Xác thân, Vía, Trí là ba thể hư hoại của con người. Con người bỏ xác thịt sau khi chết, rồi tới phiên bỏ cái Vía khi con người sắp sửa lên cơi Thiên đường. Khi măn kỳ ở cơi Thiên đường th́ cái Trí cũng tan ră; bấy giờ con người là Chơn thần ở trong những thể bất diệt. Khi trở xuống đầu thai, con người có một cái Trí mới, một cái Vía mới; hai thể nầy phù hợp với tánh t́nh con người và liên kết chặt chẽ với xác thịt.

Con người bước vào giai đoạn luân hồi sanh tử mới khác.

CHƯƠNG THỨ NĂM

đầu sách cuối sách  lời nói đầu mục lục chú thích chương 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

 NHỮNG THỂ BẤT DIỆT HAY LÀ

TRƯỜNG SANH BẤT TỬ CỦA CON NGƯỜI

Ông Thánh Phao Lô (Saint Paul) một vị được điểm đạo của Cơ Đốc Giáo có nói: “Chúng ta có một chỗ trú ngụ, vốn của Đức Thượng Đế, một cái nhà không phải tự tay chúng ta cất ra, một chỗ ở đời đời kiếp kiếp trên Trời, bởi v́ trong xác thân nầy chúng ta rên siết thở than, chúng ta muốn về Thiên đường (Corinthiens,V,1-2).

Cái Nhà ở trên Trời tức là cái nhà do những thể bất diệt của con người tạo ra, ấy là chỗ trú ngụ của Chơn thần, trải qua thời gian vô tận, nó cũng là chỗ ở của con người, trải qua vô lượng kiếp luân hồi trong lúc Chơn thần hiện ra giữa chốn trần ai.

Chơn thần, “ḍng giống của Đức Thượng Đế” (Công vụ của các Sứ đồ XVII, 29) ở luôn luôn trong ḷng Đức Cha Trời, Chơn thần thật là con của Ngài, chia sớt sự sống vô cùng vô tận của Ngài. Đức Thượng Đế tạo con người đặng tượng trưng h́nh ảnh bất diệt của Ngài. (Đức Minh Triết của Salomon, La Sagesse de Salomon II, 23). Chơn thần nầy, chúng ta gọi là Monade, bởi v́ nó là một đơn vị, tinh hoa của Bản ngă. Chơn thần nhập vô vật chất để chinh phục nó và tinh thần hóa nó: Ngài lấy một nguyên tử của mỗi cơi, trong ba cơi cao: Niết bàn, Bồ đề, Thượng giới để làm cái nhân của ba thể cao là Tiên thể, Kim thân và Thượng trí. Có một sợi dây làm bằng chất khí cơi Bồ đề nối liền ba thể nầy với nguyên tử của ba cơi thấp để làm hột giống của ba thể: Hạ trí, Vía và Xác thân.

Trải qua một thời gian dài đăng đẳng, Chơn thần nuôi dưỡng ba thể vị lai v́ hư hoại: Trí, Vía, Xác, với sự sống của Ngài. Chơn thần tiến lên lần lần, trải qua các giới Kim thạch, Thảo mộc và Cầm thú trong lúc đó chất khí của ba cơi cao: (Niết bàn, Bồ đề, Thượng giới) kết hợp với nhau làm thành một vận hà để truyền bá sự sống của Ngài vừa phát triển ở mấy cơi nầy.

Khi con thú tấn hóa đến tŕnh độ tột bực cao (của loài thú) và kêu gọi đến sự sống cao cả một cách mănh liệt th́ Chơn thần ứng đáp bằng cách đưa xuống một nguồn sống do vận hà trên đây để làm Thượng trí của con thú. Cái Trí của con thú th́nh ĺnh được bổ túc cũng như ánh sáng bực chiếu lên giữa những cục than của một hồ quang (arc électrique). Con thú được đi đầu thai làm người, điều nầy cũng gọi là con người có cá thể ở mấy cơi dưới.

TIÊN THỂ hay thể Tối Thiêng liêng chỉ là một nguyên tử của cơi Niết bàn, một sợi dây làm bằng chất khí tinh vi, ấy là hiện thân của Chơn linh, theo nghĩa thật đúng Chơn linh là Đức Thượng Đế lấy xác phàm, tức là Thượng Đế giam ḿnh trong biển cả vật chất, nhưng không hề mất bản tánh thiêng liêng mặc dầu đă hóa thân. Cái kết quả thanh lọc của biết bao nhiêu kinh nghiệm, tàng trữ trong thời gian vô tận, cứ tuần tự phải qua trong Tiên thể; hai thể bất hoại thấp hơn là Kim thân và Thượng trí lần lần hợp nhứt với nó để làm một bộ y phục vẻ vang cho một người thiêng liêng đă trọn lành.

KIM THÂN thuộc về cơi thứ nh́ hiện ra; cơi nầy là cơi Linh giác thuần khiết [6], nơi đây, sự hiểu biết và t́nh bác ái hiệp làm một. Người ta cũng gọi thể nầy là thể của Đấng Christ, bởi v́ nó bắt đầu hoạt động khi được điểm đạo lần thứ nhứt và cứ phát triển cho tới khi được toàn thiện như Đấng Christ trên con đường Chí thánh. Thể nầy phát triển là nhờ tất cả những nguyện vọng yêu thương cao thượng và không vụ lợi, ḷng từ bi thuần khiết, t́nh thân ái và tánh thương xót muôn loài vạn vật nuôi dưỡng nó.

THƯỢNG TRÍ cũng gọi là Nhân thể (Corps causal), là một thể để cho con người đề cập đến những quan niệm trừu tượng v́ nó là “bản tánh của sự hiểu biết” (Prashna Upanishad IV,9).

Nhờ Thượng trí mà con người hiểu biết chơn lư bằng trực giác chớ không phải bằng lư luận, và chỉ mượn ở Hạ trí những phương pháp luận biện đặng chứng minh ở cơi dưới những chơn lư trừu tượng mà Thượng trí không hiểu một cách trực tiếp.

Con người ở trong thể nầy gọi là Chơn nhơn, khi thể nầy ḥa hợp với Kim thân th́ Chơn nhơn thành ra “Linh giác Chơn nhơn” (Égo Spirituel) và bắt đầu hiểu biết bản tánh thiêng liêng của ḿnh. Thể nầy được bảo tồn và phát triển là nhờ tham thiền bền lâu, dứt tuyệt dục vọng và đem trí tuệ giúp đời.

Bản tánh nó là chia rẽ v́ nó là dụng cụ của sự thành lập cá thể, nó phải trở nên mạnh mẽ và tự túc hầu có sự bền vững cần thiết cho Kim thân là thể thiêng liêng tinh vi mà nó phải liên hiệp mật thiết.

Tiên thể, Kim thân, Thượng trí là những thể trường sanh bất tử của con người; chúng nó không bị mắc vào ṿng sanh tử luân hồi. Chúng nó tạo ra sự nhớ măi không hề quên, một kư ức không gián đoạn, đó là tinh hoa của Chơn nhơn. Chúng nó thiết lập một cái “Khánh” (Thánh mạc, Tabernacle) để chứa cái ǵ đáng được trường sanh bất tử. Cái chi làm hoen ố không thể vô đó được, chúng nó là chỗ trú ngụ đời đời của Chơn thần. Tại đó ta thấy ứng nghiệm lời hứa hẹn nầy: “Ta sẽ ở đó và đi lại nơi đó” (Corinthiens, VI, 16). “Chúng nó đă nhận lời cầu nguyện của Đấng Christ. Cầu xin chúng nó cũng được hiệp nhứt với chúng ta” (Saint Jean XVII, 21).

Chúng nó chứng minh tiếng hoan hô đắc thắng của nhà tu hành Ấn Độ: “Ta là NGƯỜI”.

CHƯƠNG THỨ SÁU

đầu sách cuối sách  lời nói đầu mục lục chú thích chương 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

LUẬT LUÂN HỒI

Luân hồi trong quá khứ

Chắc chắn trên đời, không có một giáo lư triết học nào có một Phổ hệ trí thức vẻ vang bằng thuyết Luân hồi, nghĩa là sự phát triển nhơn loại trải qua những kiếp sống tuần hoàn, có định kỳ ở thế gian. Một ít kinh nghiệm thâu thập trong khoảng đời sống ở trần thế biến đổi thành trí năng và ư thức trong khi con người trở về cơi Thiên đường, đặng khi đứa nhỏ sanh ra nó có sẵn những kinh nghiệm kiếp trước, biến chất thành ra những khuynh hướng và quyền năng trí thức và đạo đức. Ông Max Muller quan sát một cách đúng đắn khi ông nói rằng: Các bực đại trí trong nhơn loại đều công nhận sự Luân hồi. Những thiên Anh hùng ca bên Ấn Độ đều có dạy về sự Luân hồi và nói rằng ấy là một việc xác thật, không ai chối căi được. Nó để làm căn bản cho đạo đức và văn nghệ huy hoàng của Ấn Độ, làm cho các nhà trí thức Âu châu phải ngưỡng mộ, đều thấm nhuần giáo lư của nó.

Đức Phật đă dạy sự Luân hồi và thường nói về những tiền kiếp của Ngài. Đức Pythagore cũng dạy như thế; Platon có bàn về sự Luân hồi trong các sách triết lư của Ngài. Josèphe tuyên bố rằng những người Do thái đều công nhận sự Luân hồi và kể chuyện một vị tướng lănh đă khuyến khích binh lính của ông rán chiến đấu cho đến lúc thở hơi cuối cùng bằng cách nhắc nhở cho họ nhớ rằng họ sẽ đầu thai lại cơi Trần.

Trong quyển “Đức Minh Triết của Salomon” (La Sagesse de Salomon) có nói rằng: sanh ra trong thể xác không có một tật nguyền là phần thưởng của những người đă làm lành. Đấng Christ công nhận sự Luân Hồi khi Ngài nói với các tín đồ: Jean Baptiste là nhà tiên tri Elie trở lại. Virgile và Ovide tin có sự Luân Hồi. Nghi thức do các nhà bác học Ai Cập bày ra để cho người ta ghi nhớ trong đầu óc rằng có sự Luân hồi. Những trường theo Tân thuyết Platon đều nói rằng: sự Luân Hồi có thật; và một vị Linh mục uyên bác nhứt là Origène giải bày rằng: “Người nào cũng phải lănh một xác thân tùy theo những công trạng và những việc làm của va hồi trước”.

Mặc dầu thuyết Luân Hồi bị một Hội nghị Thiên Chúa Giáo La Mă lên án và cấm chỉ, những phái bị liệt vào hạng tà giáo đều giữ y nguyên thuyết cổ truyền. Hồi đời Trung cổ, một nhà bác học Hồi Giáo có nói với chúng ta về thuyết Luân Hồi như vầy: “Tôi ở trong đá, khi tôi chết, tôi thành ra một loài cây; tôi ở trong cây, khi tôi chết, tôi thành một con thú; tôi ở trong một con thú, tôi chết rồi thành ra con người. Tại sao tôi lại sợ chết ? Chừng nào sự chết làm cho tôi kém sút ? Tôi làm người, tôi sẽ chết và tôi làm một vị Thiên Thần”.

Sau đó ít lâu, ta lại thấy mấy vị sau đây cũng đem thuyết Luân Hồi ra dạy nữa: ấy là Goethe, Fichte, Schelling, Lessing. Đây mới kể sơ tên của vài nhà triết học Đức. Khi già rồi, ông Goethe vui vẻ nói trước rằng ông sẽ đầu thai lại ở cơi Trần. Ông Hume tuyên bố rằng thuyết Luân Hồi là giáo lư duy nhứt về sự trường sanh bất tử mà một nhà triết học có thể suy nghĩ; ư kiến nầy tương tự như quan niệm của giáo sư Tô cách lan (Ecossais) Mc Taggart, là người đă phê b́nh các lư luận về sự trường sanh bất tử. Ông kết luận rằng: duy có thuyết Luân Hồi là hợp lư hơn hết. Chẳng cần phải nhắc rằng: có nhiều văn sĩ như Wordworth, Browning, Rossetti và nhiều thi sĩ khác đều tin sự Luân Hồi.

Việc trở lại tin có sự Luân Hồi không phải là một tín ngưỡng của một giống dân dă man hiện tại trong dân tộc văn minh, nhưng đó là một sự giải thoát trí tưởng về sự lầm lạc của người đạo Da Tô, một dấu chứng để tu bổ các tai hại do sự bất hợp lư của tôn giáo gây nên và nó đă tạo ra “Hoài nghi chủ nghĩa” và “Duy vật chủ nghĩa”.

Quả quyết rằng khi mỗi xác thịt sanh ra th́ phải sanh ra một linh hồn riêng cho nó th́ ám chỉ rằng: sự sanh hóa một linh hồn tùy thuộc sự sanh hóa một xác thịt. Thế th́ không tránh khỏi sự kết luận rằng: khi xác thịt chết th́ linh hồn cũng phải tiêu diệt theo. Chủ trương rằng một linh hồn không có dĩ văng th́ tự nhiên không hề có cứu cánh, cũng chẳng khác nào tưởng tượng rằng: cây gậy chỉ có một đầu. Cái đó không thể thừa nhận được. Duy có một linh hồn thiên nhiên mới có hi vọng bất diệt được.

Việc quên mất giáo lư về Luân Hồi dạy rằng có một chỗ luyện tội tạm thời để tiêu diệt những t́nh dục xấu xa, v