trang nhà l trang sách l bản tin l thiền học l tiểu sử l trang thơ l h́nh ảnh l bài vở 

chương 1. 2.  3.  4.  5.  6.  7.  8.  9. 10. 11. 12. 13. 14. đầu sách. cuốí sách. mục lục. chú thích

 

H. P. BLAVATSKY

 

BÍ QUYẾT THÔNG THIÊN HỌC

 

NGUYÊN TÁC : THE KEY TO THEOSOPHY

Bản dịch Pháp ngữ : La clef de la Théosophie

Dịch bản tiếng Pháp của nhà xuất bản Les éditions de la compagnie

Théosophique 11, rue de l’Abbé-de-l’Epée Paris Ve.


chương 1. 2.  3.  4.  5.  6.  7.  8.  9. 10. 11. 12. 13. 14. đầu sách. cuốí sách. mục lục. chú thích
 

MỤC - LỤC

 

Lời tựa lần xuất bản thứ nh́
    
Lời tựa  của tác giả

CHƯƠNGI                                                                                                      

Minh Triết Thiêng Liêng và Hội TTH, ư nghĩa của danh từ

Kế hoạch của Hội Thông Thiên Học                                         

Tôn giáo Minh Triết Bí Truyền trải qua các thời đại

Thông thiên Học không phải là Phật Giáo

CHƯƠNG II

Minh Triết Thiêng Liêng Bí Truyền và Công Truyền

Người Thông Thiên Học và hội viên của Hội Thông Thiên Học

Sự khác nhau giữa  Thông Thiên Học và Huyền Bí Học

Sự khác nhau giữa Thông Thiên  Học và Thần Linh Học

V́ sao Thông Thiên  Học được chấp nhận ?

CHƯƠNGIII                                                                                                               

Phương pháp thực hành của Hội Thông Thiên Học, các mục đích của Hội

Nguồn cội chung của Con người

Những mục đích khác của chúng tôi

Sự cao trọng của lời thệ nguyện .

CHƯƠNG IV

Sự liên hệ giữa Hội Thông Thiên Học và Thông Thiên Học

Cải thiện Chơn Ngă

Trừu tượng và Cụ thể

CHƯƠNG V

Các giáo huấn căn bản của Thông Thiên Học

Thượng-Đế và lời cầu nguyện

Lời cầu nguyện có cần thiết không ?

Cầu nguyện làm giảm đức tin

Nguồn cội của Linh Hồn nhân loại

Giáo huấn của Phật giáo về vấn đề nêu trên

CHƯƠNG VI

Thiên nhiên và con người theo giáo huấn Thông Thiên Học, sự đơn nhất

trong vạn vật

Tiến hóa và ảo tưởng

Sự cấu tạo thất thể của hành tinh chúng ta

Bản chất “thất thể” của con người

Sự phân biệt giữa Linh Hồn và Chân Linh

Giáo huấn của Hi-Lạp

CHƯƠNG VII

Các trạng thái khác nhau sau khi chết, “Con người vật chất và con người

Tâm Linh”

Về sự vĩnh cửu của Thưởng, Phạt,và Niết Bàn

Các “khí thể” khác biệt của con người

CHƯƠNG VIII

Luân hồi hoặc tái sinh, kư ức là ǵ?

Theo giáo huấn của Thông Thiên Học  

Kư ức của những kiếp đă qua, v́ sao chúng ta

không nhớ lại tiền kiếp?                                                           

Cá thể tính và Phàm ngă tính 

Về sự thưởng, phạt của Chơn Ngă

CHƯƠNG  IX

Cơi Dục giới và Thiên Đàng

V́ sao các nhà Thông Thiên Học không tin tưởng sự trở lại của

Vài lời về SKANDHAS

Tâm thức hậu tử và tiền sinh

Ư nghĩa thực sự của danh từ tiêu diệt

Danh từ hạn định diễn tả các sự vật hạn định

CHƯƠNG X

Bản chất của nguyên khí suy tư

Chơn Ngă Huyền Nhiệm

Bản chất phức tạp của thể trí (De la Nature complexe de Manas)

Giáo lư nầy được giảng dạy trong Phúc âm theo Thánh Jean

CHƯƠNG XI

Huyền bí về ‘Luân Hồi’, kỳ hạn của sự tái sinh

Karma là ǵ ?

Những người hiểu biết là ai ?

Sự khác biệt giữa Đức tin và Tri thức; hoặc Đức tin mù quáng và Đức

tin lư luận

CHƯƠNG XII

Thông Thiên Học thực hành là chi ?, Bổn Phận

Sự liên quan của Hội Thông Thiên Học và sự cải cách chánh trị

Hy sinh Bản Ngă

Ḷng nhân từ

Thông Thiên Học đối với Quần chúng

Hội viên Thông Thiên Học giúp đỡ Hội ra sao

Những điều mà Nhà Thông THiên Học không nên làm

CHƯƠNG XIII

Những quan niệm sai lầm về Hội Thông Thiên Học,

Thông Thiên Học và sự khổ hạnh

Thông Thiên Học và Hôn Nhân

Thông Thiên Học và giáo dục

Tại sao hiện giờ có nhiều thành kiến chống lại Hội T.T.H  ? 

Phải chăng Hội T.T.H. là một tổ chức có mục đích tài chánh ?

CHƯƠNG XIV

Các vị Chơn Sư của Thông Thiên Học, các Ngài là “Tinh Quân Ánh Sáng

hay  Yêu Tinh bị nguyền rủa ?

Sự lạm dụng tên và thuật ngữ Thiêng Liêng

Kết luận, Tương lai của Thông Thiên Học                                                      


chương 1. 2.  3.  4.  5.  6.  7.  8.  9. 10. 11. 12. 13. 14. đầu sách. cuốí sách. mục lục. chú thích
 

TỰA  KỲ XUẤT BẢN THỨ NH̀

 

Kỳ xuất bản thứ nhất của tác phẩm nầy đă bị tiêu hủy v́ sự chiếm cứ  (của quân đội Đức). Nay chúng tôi xuất bản lần thứ nh́ để cống hiến độïc giả thông Pháp ngữ. Quyển sách được viết cho hai hạng. Một hạng gồm các nhà sưu tầm thành thật, muốn hiểu biết về phong trào và triết lư Thông Thiên Học. Các vị nầy sẽ thấy tác giả đă giải đáp một cách uyên bác những câu hỏi của họ bằng phương pháp hành văn theo lối đặt câu Vấn, Đáp.

Thứ đến, tác phẩm được dành cho sinh viên Minh Triết, một ch́a khóa hoàn hảo, khả dĩ mở được cánh cửa huyền nhiệm của Giáo Lư Bí Truyền.

Người sinh viên chân chính là người phụng sự; y học tập trong phạm vi y sẽ cố gắng giảng dạy lại. Khi viết quyển sách nầy tác giả là người đă hoạch đắc sự minh triết nên rất lưu tâm đến việc giáo huấn các môn đệ chân chính, để họ có đủ khả năng giảng giải giáo lư một cách trung thực và chính xác.

Đôïc giả nên dè dặt, v́ có vài kỳ xuất bản quyển “Bí Quyết Thông Thiên Học “ được bán trong các hiệu sách tân phái Thông Thiên Học, nếu so sánh kỹ, người ta phát giác được sự sai biệt, v́ bài đầu tiên bị sửa đổi, và có sự loại bỏ quan trọng trong kỳ xuất bản thứ nhất. Đây là một trong các phương tiện mà tân phái Thông Thiên Học dùng làm sai lạc ư nghĩa Giáo Lư Thông Thiên Học thuần túy của Bà H. P. Blavatsky và thử tiếm đoạt địa vị của Nó. Kỳ xuất bản của chúng tôi dựa vào công tŕnh dịch thuật nguyên tác của Bà H. P. Blavatsky, ấn hành vào năm 1889.

Trong khi quyển “Nữ Thần ISIS tiết lộ” và bộ “Giáo Lư Bí Truyền” là những tác phẩm vĩ đại, đă tŕnh bày tất cả các nguyên lư cùng vô số chi tiết về Tôn Giáo Minh Triết, th́ quyển “Bí Quyết Thông Thiên Học” lại tŕnh bày giản tiện, thiết thực, nên hợp thành lời giới thiệu đầy đủ về hai tác phẩm quan trọng kể trên. Thực sự, dù người đó là học giả, sinh viên hay kẻ chí nguyện, nó vẫn cung cấp bí quyết cho mọi vấn đề thuộc đời sống của mỗi linh hồn, cùng với bí quyết cho sự hiểu biết cũng như  phụng sự.

Đoàn thể Thông Thiên Học
 Ba-lê, tháng 9 năm 1946


chương 1. 2.  3.  4.  5.  6.  7.  8.  9. 10. 11. 12. 13. 14. đầu sách. cuốí sách. mục lục. chú thích
 

TỰA CỦA TÁC GIẢ

 

Mục đích của tác phẩm “Bí Quyết Thông Thiên Học” được giải bày chính xác bởi tựa đề của nó, và chỉ giải thích bằng vài từ ngữ mà thôi. Nó không nhằm  mục tiêu tŕnh bày đầy đủ về Thông Thiên Học, nhưng chỉ cung cấp một bí quyết khả dĩ mở được cửa hướng đến sự nghiên cứu sâu sắc hơn. Nó phác họa những nét chính yếu của Tôn Giáo Minh Triết, giải thích các nguyên lư căn bản về vấn đề nầy bằng cách đáp lại những biện bác của các nhà sưu tầm Tây phương nêu ra; đồng thời thử tŕnh bày các khái niệm ít quen thuộc bằng một ngôn ngữ rơ ràng, càng giản dị càng tốt. Chúng tôi cố gắng giải thích để Thông Thiên Học trở thành dễ hiểu đối với độc giả và cũng để trí năo độc giả khỏi phải phí sức nhiều. Đây là điều mà chúng tôi mong ước hơn hết, và nếu c̣n có sự khó lănh hội, th́ thật ra không do nơi ngôn ngữ được xử dụng mà bởi sự diễn tả các tư tưởng sâu sắc của vấn đề. Với những người trí năo lười biếng, cạn hẹp th́ danh từ Thông Thiên Học c̣n là một ẩn ngữ v́ trong giới tinh thần cũng như tâm linh, mỗi người phải phát triển bằng sự tự cố gắng. Tác giả không thể suy tưởng dùm độc giả, vả lại nếu sự thay thế để suy tưởng có thể thực hiện được, th́ độc giả cũng không hưởng chút lợi nào cả. Tính cách cần thiết của một quyển sách như tác phẩm nầy đă được xác nhận từ lâu bởi tất cả những người lưu tâm đến Hội Thông Thiên Học và công nghiệp của Hội. Do không quá nhiều danh từ chuyên môn, chúng tôi hy vọng quyển sách sẽ dẫn dắt đa sốâ những người mà tính hiếu kỳ đă khởi thức nhưng nay vẫn c̣n băn khoăn chưa vững ḷng tin.

Chúng tôi đă lưu ư sự phân biệt điều chân với điều giả trong việc giáo huấn các nhà Thần linh học về đời sống bên kia cửa tử, giúp họ thấy thực chất của các hiện tượng Thần linh. Trước đây có vài sự giải thích tương tự như vậy, khiến tác giả đă bị trút lên đầu nhiều phẩn nộ. Các nhà Thần linh học cũng như nhiều người khác, thích tin tưởng điều chi thú vị hơn là sự thật, và giận dữ  đối với ai tiêu diệt ảo tưởng êm đềm của họ. Trong năm cuối cùng nầy (1889), Thông Thiên Học là tấm bia cho những mũi tên độc Thần linh học nhắm vào. Người bảo tŕ một phần Chơn lư lại đối kháng mạnh mẽ người bảo tŕ toàn thể Chơn Lư hơn là đối với người hoàn toàn xa lạ với Chơn Lư.

Tác giả thành tâm cảm tạ các nhà Thông Thiên Học, đă đưa ư kiến và đặt các câu hỏi hoặc đă giúp vào việc thực hiện quyển sách. Nhờ quí bạn, mà tác giả thu hoạch một lợi ích lớn lao, công ơn nầy thật là của quí bạn.

                                                               H. P. BLAVATSKY 
 



chương 1. 2.  3.  4.  5.  6.  7.  8.  9. 10. 11. 12. 13. 14. đầu sách. cuốí sách. mục lục. chú thích
 

CHƯƠNG I


      MINH TRIẾT THIÊNG LIÊNG VÀ HỘI THÔNG THIÊN HỌC

 

Ư NGHĨA CỦA DANH TỪ 

Vấn: Người ta thường nói về Thông Thiên Học, và Giáo lư nầy như là một tôn giáo mới thành lập. Phải chăng Thông Thiên Học là một tôn giáo? 

Đáp: Thông Thiên Học không phải là một tôn giáo mà là sự Tri thức Thiêng liêng hay Khoa học Thiêng liêng.

 

Vấn: Ư nghĩa thật sự của danh từ nầy là chi ?

Đáp: Ư nghĩa chính xác nhất là “Minh Triết Thiêng Liêng “.Theosophia, hay là Minh Triết của các Đấng Cao Cả, tự ngữ Theogonia là thần phổ. Chữ Theos theo nghĩa Hy-Lạp là một vị Thiên-Đế, một trong các thực thể thiêng liêng, chớ không phải là “Thượng-Đế “, ư nghĩa mà ngày nay người ta hay gán cho danh từ nầy. Như vậy ta không nên gọi là “Minh Triết của Thượng Đế “, như vài người đă dịch, mà nên gọi là Minh Triết Thiêng Liêng, Minh Triết mà các Đấng Cao Cả đă hoạch đắc. Danh từ nầy đă có từ nhiều ngàn năm rồi.

 

Vấn: Nguồn gốc của danh từ Minh Triết Thiêng Liêng ra sao ? 

Đáp: Danh từ nầy ra đời do các triết gia thành Alexandrie, những người được gọi là Philalèthes hay người yêu mến Chơn lư. Phil là “yêu mến”, Aletheia là “Chân lư”. Tự ngữ Minh Triết Thiêng Liêng (Theosophia) có từ thế kỷ thứ ba của kỷ nguyên chúng ta, và Ammonius Saccas là người đầu tiên dùng chữ Theosophia. Chính ông và các môn đệ đă cải cách phương pháp củ[1] a các nhà Thông Thiên Học chiết trung (Théosophes éclectiques).

 

Vấn: Mục đích của hệ thống nầy ra sao ?

Đáp: Điểm chính là ghi vài Chân lư vĩ đại vào trí năo toàn thể môn đệ của Ammonius Saccas cùng tất cả những người yêu mến Chân lư. Do đó, mới có tiêu ngữ “Không tôn giáo nào cao hơn Chân lư “ và nó đă được Hội Thông Thiên Học chấp nhận. Mục đích chánh  yếu của trường phái Thông Thiên Học chiết trung là một trong ba mục đích của Thông Thiên Học, và những người kế vị tân tiến đă căn cứ vào các Chân lư vĩnh cữu để ḥa giải tất cả các tôn giáo, giáo phái, quốc gia trong một hệ thống cộng đồng luân lư.

 

Vấn: Làm sao chứng minh được điều đó không phải là một giấc mơ khó  thực hiện, và cũng để chứng minh rằng tất cả các tôn giáo trên thế gian đều căn cứ vào một Chân lư duy nhứt và tương đồng?

 Đáp: Chúng tôi chứng minh điều đó bằng cách nghiên cứu, đối chiếu và phân tích các tôn giáo. Trong thời cổ “Tôn Giáo Minh Triết” chỉ là Một và sự đồng nhất tính của tất cả triết lư tôn giáo sơ khai được chứng minh bởi sự đồng nhất tính của các giáo lư đă truyền dạy các bậc Thụ pháp trong Huyền môn, và đó là lối giáo dục mà xưa kia đă được truyền bá một cách phổ quát. Tất cả sự tôn thờ cũ đều phát giác rằng, trước đó, có sự hiện tồn của Minh Triết Thiêng Liêng duy nhất và chiếc ch́a khóa mở được một, sẽ mở được tất cả, bằng không đó là một ch́a khóa giả (Triết lư chiết trung).

 

KẾ HOẠCH CỦA  HỘI THÔNG THIÊN HỌC

 

Vấn: Vào thời Ông Ammonius Saccas đă có nhiều tôn giáo lớn, c̣n riêng các giáo phái Ai-Cập và Palestine cũng đông đảo lắm rồi. Làm thế nào Ammonius Saccas có thể ḥa giải được tất cả ?

Đáp: Bằng cách thực hiện điều mà chúng ta đang cố gắng hiện nay. Lúc đó các nhà Tân Platon (Néo-Platoniciens) rất đông, họ thuộc vào các trường triết lư tôn giáo khác nhau giống trường hợp các nhà Thông Thiên Học của chúng ta. Vào thời đó, Ông Aristobule, người Do-Thái, xác nhận rằng nhà đạo đức Aristote là đại diện cho huấn giáo bí truyền của luật Moise; rồi Ông Philon, cũng người Do-Thái, cố gắng ḥa giải Pentateuque [2] với triết lư của Đức Pythagore và của Platon hay Ông Josèphe th́ các tu sĩ Esséniens [3] phái Carmel chỉ là những người mô phỏng và tiếp nối công việc của các nhà chuyên khoa trị liệu Ai-Cập (hoặc các ngựi chữa bệnh). Ở thời kỳ chúng ta ngày nay cũng thế. Chúng ta có thể chứng tỏ nguồn gốc của mỗi Cơ Đốc Giáo, mỗi giáo phái; thậm chí đến những giáo phái ít quan trọng nhất. Những giáo phái sau nầy là nhánh nhỏ, chồi con của các nhánh chính; và tất cả đều cùng chung một thân cây”TÔN GIÁO MINH TRIẾT” mà ra. Đây là mục đích mà Ammonius Saccas cố ḥa giải các người Dị giáo, Cơ Đốc giáo và những người tôn sùng Ngẩu tượng nên chấm dứt các cuộc tranh luận, kích bác nhau. Ông nhắc cho họ nhớ Chân lư mà họ hoạch đắc dưới nhiều h́nh thức khác nhau chỉ là một. Họ là những đứa con cùng chung một mẹ thôi. Thật ra, mục đích của Ammonius Saccas là mục đích của Thông Thiên Học.

 

Vấn: Bạn có thể kể những điển cứ nào bạn dùng để chứng minh về những người Thông Thiên Học cổ của thành Alexandrie ?

 

Đáp: Ông Mosheim có nói đến một trong các văn nhân hữu danh là Ammonius Saccas. Chính Ammonius có giảng dạy rằng: “Tôn giáo của dân tộc được liên kết chặt chẽ với triết học, và sự liên kết nầy bị hủy hoại, mờ tối bởi ư kiến của người đời, bởi sự mê tín và dối trá; v́ vậy, người ta phải phục hồi sự thuần khiết nguyên thủy của tôn giáo bằng cách giải thích các nguyên lư triết học.Đức Christ muốn phục hưng nền Minh Triết thời xưa, tái lập nguyên vẹn  trạng thái sơ khai, giới hạn sự chế ngự của ḷng mê tín gần như phổ quát và bài trừ những sai lầm đă len lỏi vào các tôn giáo phổ thông.”

Đây chính là điều mà các người Thông Thiên Học ngày nay phải giải bày. Nhưng lúc đó Ông Ammonius đă được sự trợ giúp, nâng đỡ của hai tu sĩ giáo đường là Clément và Athénagore, và của các nhà uyên bác trong giáo hội Do-Thái, các triết gia trong Hàn lâm viện, cùng các triết gia của Bosquet. Ông giảng dạy giáo lư duy nhất cho tất cả mọi người, nhưng nay chúng tôi noi theo đường lối của ông th́ lại bị nguyền rủa và ngược đăi. Sự kiện nầy chứng tỏ con người của một ngàn năm trăm trước khoan dung hơn con người ở thế kỷ tân tiến của chúng ta ngày nay.

 

Vấn: Mặc dầu giáo lư duy nhất của ông Ammonius là tà thuyết (đối với giáo lư La-Mă) nhưng ông được nâng đỡ bởi ông vẫn giảng dạy giáo lư Cơ-Đốc, phải chăng v́ ông là một tín đồ ?

 

Đáp: Không phải thế. Ông được sinh ra trong gia đ́nh Cơ Đốc nhưng ông không chấp nhận giáo lư của Thánh Đường. Mosheim đă nói về Ammonius như sau:

“Ông chỉ thuyết minh các giáo huấn phù hợp với giáo huấn thuộc trụ cổ của Hermes mà triết gia Platon và Pythagore đă biết trước ông và đă lập thành nền triết học của hai Ngài. Nhờ t́m thấy những giáo lư giống như thế trong tự ngôn Phúc-Aâm (Eùvangile) của Thánh Jean, ông Ammonius giả thuyết rất chính xác rằng mục đích của Đức Jésus là phục hưng trạng thái nguyên vẹn, sơ khai của đại giáo lư Minh Triết. Theo ông, sự trần thuật của Thánh kinh (Bible), lịch sử của các Thánh, những ẩn dụ giải thích về chân lư cũng như những chuyện hoang đường cần được loại bỏ”. Hơn nữa, trong Bách khoa Toàn thư [4] có nói về Ammonius như sau:

“ Ông nh́n nhận Đấng Jésus-Christ là một Đấng tuyệt luân , là ‘Bạn của Thượng Đế’, nhưng ông chủ trương Đức Jésus không có ư định loại bỏ hoàn toàn sự thờ phượng thần minh, Ngài chỉ trù định thanh lọc tôn giáo cổ thời”. 


TÔN GIÁO MINH TRIẾT BÍ TRUYỀN TRẢI QUA CÁC THỜI ĐẠI

 

Vấn : Ông Ammonius Saccas không viết để lại điều chi cả. Vậy làm sao người ta có thể biết chắc rằng giáo lư của ông là đúng?

 

Đáp : Đức Phật, Đức Pythagore, Đức Khổng-Tử, Đức Orphée, Đức Socrate hay Đức Jésus đều không lưu truyền văn tự. Tuy nhiên các Ngài là những nhân vật lịch sử nên giáo lư của các Ngài vẫn được truyền đạt đến chúng ta. Các đệ tử của ông Ammonius (trong số đó có ông Origène và Herennius) đă viết những khái luận, đồng thời cũng giải thích giáo lư của Sư Phụ ḿnh. Những sách nầy c̣n có thật trong lịch sử hơn là những bức Thánh thư của các Sứ Đồ Cơ Đốc. Vả lại các đệ tử của ông như Origène, Plotin và Longin (Longin là cố vấn tối cao của Hoàng hậu nổi danh Zénobie) đều có lưu lại hậu thế nhiều bản tường tŕnh về học phái Philalèthe (yêu mến Chân lư), nhứt là nhờ sự truyền bá công khai mà dân chúng được hiểu biết tín ngưỡng của họ; hơn nữa, ngoài giáo lư công truyền, học phái Philalèthe cũng có giáo lư bí truyền.

 

Vấn : Làm sao giáo lư bí truyền được phổ biến khi bạn cho rằng cái đă gọi đúng theo danh từ là Tôn Giáo Minh Triết lại thuộc về nội môn bí truyền?

 

Đáp : Tôn Giáo Minh Triết lúc nào cũng là một, và là từ ngữ cuối cùng của mọi trí thức nhân loại, thế nên Nó được giữ ǵn cẩn thận. Danh từ nầy xuất hiện trước các thời đại của những người Thông Thiên Học thành Alexandrie. Nó được duy tŕ đến ngày nay, và sẽ trường tồn hơn tất cả các tôn giáo, triết lư khác.

 

Vấn : Ai đă ǵn giữ Tôn Giáo Minh Triết và ǵn giữ ở đâu?

 

Đáp : Nó được giữ ǵn bởi các Bậc đắc đạo của mọi quốc gia, bởi các nhà sưu tầm thâm sâu về Chân lư và các môn đồ của họ; bởi những nơi trên thế giới mà các đề tài phù hợp với điều do Tôn Giáo Minh Triết diễn tả và được dân chúng ưa thích nghiên cứu nhiều nhất như  ở Ấn-Độ, Trung Đông và Ba-Tư.

 

Vấn : Bạn có thể nào cho biết những bằng chứng và đặc tính bí truyền của Tôn Giáo Minh Triết không?

 

Đáp : Bằng chứng tốt nhất mà bạn có được là thuở xưa, mọi sự thờ phượng thuộc tôn giáo hoặc triết học đều gồm có phần bí truyền hay mật và phần công truyền hay hiển. Vả lại ở khắp các quốc gia, mọi người đều biết Huyền linh học của người xưa gồm có: “Huyền linh học thượng đẳng “(mật) và “Huyền linh học hạ đẳng” (hiển), thí dụ các nghi thức trang nghiêm, hữu danh được gọi là Eleusis ở Hy-Lạp. Từ các vị Đại tư giáo ở Samothrace Ai-Cập, các Bà-la-môn thụ pháp của xứ Ấn-Độ, đến các pháp sư Hy-ba-lai (Rabbins Hébreux), tất cả đều có thiện ư giữ ǵn bí mật tín ngưỡng chân thật của họ v́ sợ tội phạm thần. Các pháp sư Do-thái gọi lư thuyết về tín ngưỡng ngàn xưa của họ là Mercavah (cái thể bên ngoài), là “công cụ truyền đạo” hay lớp vỏ chứa đựng linh hồn ẩn tàng, đây là sự hiểu biết bí nhiệm, cao cả nhất của họ. Các tăng lử thuộc nhiều quốc gia cổ không bao giờ truyền dạy giáo lư nội môn thật sự của họ cho dân chúng. Họ chỉ tiết lộ những ǵ thuộc phần ngoài của giáo lư mà thôi. Phật giáo Bắc tông đă có phương tiện để truyền đạo: “thượng đẳng” và “hạ đẳng” được biết dưới danh từ Đại thừa (Mahayana), hoặc Trường Bí truyền, và Tiểu thừa (Hinayana) hay Trường Công truyền. Người ta không thể nào khiển trách sự phân chia ra công truyền và bí truyền của họ được, bởi lẽ làm sao cung cấp những bài nghị luận uyên bác cho các con cừu, thay v́ cho chúng nó cỏ. Đức Pythagore gọi Minh Triết Học của Ngài là “sự tri thức của hiện vật”; Ngài truyền dạy cho các đệ tử hữu thệ v́ đó là thực phẩm tinh thần rất thích hợp và v́ họ cũng đă nguyện giữ im lặng, kín đáo nữa. Các mẫu tự huyền bí và các con số mật nhiệm trích ra từ các tế văn cổ Ai-Cập mà ngày xưa, chỉ có các tu sĩ trong tự viện, hoặc các tăng lữ thụ pháp Ai-Cập được truyền cho bí quyết để mở mang trí thức thôi. Theo các sử gia viết về ông Ammonius Saccas thuật lại, th́ các đệ tử của Ammonius bị bắt buộc thệ nguyện giữ cẩn mật giáo lư thượng đẳng của ông, ngoại trừ những người đă được thụ huấn về sự tri thức sơ khởi; tuy nhiên họ cũng đă bị ràng buộc bởi lời thệ nguyện. Cuối cùng, có thể nào người ta lại không thấy sự khác nhau giữa giáo lư bí truyền và công truyền trong học phái Duy Trí, trong Cơ Đốc giáo nguyên thủy, và chính trong các giáo huấn của Đức Christ hay sao ?

Đức Christ chẳng nói trước đám đông rằng các ngụ ngôn đều có hai nghĩa, và Ngài đă không giải thích những ẩn ư cho đệ tử duy nhất của Ngài hay sao? Ngài nói với họ : “các người được phép hiểu biết sự huyền nhiệm của Thiên Quốc, nhưng đối với người ngoài, ta chỉ luận giải bởi ngụ ngôn thôi”.(Marc IV,II). Các vị Esséniens ở Judée [5] và ở Carmel [6] cũng thực hiện sự phân chia tương tự, nghĩa là họ chia các môn đồ ra hai hạng: hạng tân tín đồ hoặc huynh đệ, và hạng hoàn toàn hoặc thụ pháp (Philosophie  Eclectique) [7].

Ở khắp các quốc gia, người ta có thể kể ra nhiều thí dụ tương tự như vậy.

 

Vấn : Minh Triết Bí Truyền có thể đạt được bằng sự nghiên cứu đơn độc chăng? Trong Bách Khoa Toàn Thư có định nghĩa danh từ Minh Triết Thiêng liêng gần giống như trong quyển tự điển của Ông Webster đă ghi: “một sự giao cảm với Thượng Đế và với các Chơn linh thượng đẳng; do đó, trí thức siêu nhân loại có thể hoạch đắc được nhờ phương tiện vật lư hoặc phương pháp hóa học”. Có đúng như thế không ?

 

Đáp : Tôi không tin điều đó. Không một nhà từ ngữ học nào có đủ khả năng để giải thích cho ḿnh và cho người khác hiểu v́ sao người ta có thể đạt được sự tri thức siêu nhân nhờ phương pháp vật lư hoặc hóa học. Nếu ông Webster cho rằng:”nhờ phương pháp luyện kim và siêu h́nh học”, th́ định nghĩa của ông có thể gần đúng hơn; đằng này, ông đă đưa ra những điều phi lư. Các người Thông Thiên Học thời cổ cũng như hiện nay, đều xác nhận cái hữu hạn không thể nào hiểu biết được cái vô hạn, nghĩa là cái Ngă hữu hạn không tri thức được điều đó. Nhưng cái tinh túy thiêng liêng có thể tự giao cảm với cái Ngă Tâm linh thượng đẳng trong trạng thái xuất thần (extase). Thật ra rất khó đạt được đến trạng thái nầy cũng như trạng thái thôi miên bằng phương tiện vật lư và hóa học đều không thành công”.

 

Vấn : Bạn giải thích cách nào về vấn đề nầy?

 

Đáp : Trạng thái xuất thần thật sự như ông Plotin (đệ tử của ông Ammonius Saccas) đă định nghĩa là “ sự giải thoát tinh thần ra khỏi tâm thức hạn định của con người để được đồng hóa và trở thành  một với vô tận. Theo giáo sư Wilder, th́ trạng thái nầy là một điều kiện cao cả nhất mà con người có thể đạt đến, nhưng không thường xuyên, và chỉ có một số rất ít người có thể hoạch đắc thôi. Thật ra, ở Ấn Độ trạng thái xuất thần được  đồng hóa với danh từ Nhập Định (Samâdhi). Trạng thái nhập định được các nhà Yoguis luyện tập để chứng được và ngoài ra trên phương diện vật chất, họ c̣n hổ trợ bằng sự kiêng cử chặt chẽ các thức ăn uống, trên phương diện tinh thần, bằng sự cố gắng liên tục để thanh lọc các thể và nâng cao tâm thức. Tham thiền là lời cầu nguyện im lặng không thốt nên lời như  ông Platon đă định nghĩa như sau:

“Nguyện vọng nồng nhiệt của linh hồn hướng về Thiêng liêng không phải để cầu xin một điều lành riêng tư (ư nghĩa người ta gán cho lời cầu nguyện), nhưng cho chính Điều Thiện Tối Thượng phổ quát mà tất cả chúng ta đều là một  phần của Điều Thiện đó tại địa cầu và cũng từ đó chúng ta xuống cơi trần”. V́ vậy ông Platon nói thêm: “Ngươi hăy đứng lặng im trước các Đấng Thiêng Liêng cho đến khi nào các Ngài làm tan đi đám mây mờ nơi mắt ngươi và ban cho ngươi cái khả năng trông thấy nhờ thực chất trọn lành của ánh sáng phát tỏa ra từ các Ngài chớ chẳng phải những ǵ dường như chỉ trọn lành cho ngươi mà thôi”.

 

Vấn : Vậy Thông Thiên Học không phải là một học phái mới phát minh như người ta tưởng nghĩ  sao?

 

Đáp : Chỉ có những người không hiểu mới nói thế. Các giáo huấn và luân lư của Thông Thiên Học cũng xưa như quả địa cầu, nếu không về danh từ th́ cũng về sự việc. Không có một hệ thống nào rộng răi hơn, phổ quát hơn hệ thống của Thông Thiên Học.

 

Vấn : Nhưng v́ sao Thông Thiên Học chưa được các quốc gia Tây phương  hiểu biết? V́ sao mọi người  đều chứng minh rằng Thông Thiên Học là một quyển sách khép kín đối với những nhà trí thức và tiến bộ nhiều nhất?

 

Đáp :Nguyên do thứ nhất, bởi phần đông con người có tánh ích kỷ, tà vạy; do đó, họ có khuynh hướng luôn luôn t́m cách thỏa măn các điều ham muốn cá nhân nên gây thiệt hại cho đồng loại và những người lân cận. Vậy không thể nào ủy thác các điều huyền nhiệm thiêng liêng cho những hạng người như thế.Nguyên do thứ hai, bởi các bản thể đó không có khả năng giữ ǵn cẩn mật sự hiểu biết thiêng liêng, cao cả. Chính v́ lư do nầy mà các Chân lư và các biểu tượng siêu việt bị suy đồi. Mặt khác, sự biến đổi dần dần các điều thuộc lănh vực tâm linh trở thành những sự tŕnh bày về thần nhân hóa một cách vụng về và cụ thể. Do sự bất lực nêu trên đă làm suy giảm và biến tính các tư tưởng về Thánh linh và đưa đến việc tôn thờ ngẫu tượng (L’idolâtrie).

 

THÔNG THIÊN HỌC KHÔNG PHẢI LÀ PHẬT GIÁO

 

Vấn : Người ta thường gọi các bạn là người của “Phật Giáo Bí Truyền”. Phải chăng các bạn đều là đệ tử của Đức Phật Gautama?

 

Đáp : Không bắt buộc phải thế, cũng như  các nhạc sĩ đều không phải là học tṛ của Wagner [8]. Trong số chúng tôi có vài tín đồ Phật giáo,; tuy nhiên có nhiều người Ấn Độ giáo và Bà-la-môn giáo; ngoài ra c̣n có người Âu-Châu và người Mỹ-Châu gốc Cơ-Đốc nhiều hơn các Phật tử cải tông. Sự lầm lạc do việc giải thích không đúng ư nghĩa thực sự về tựa đề tác phẩm tuyệt hảo của ông Sinnett là: “Bouddhisme Esotérique”. Danh từ Bouddhisme phải viết với một chữ ‘d’ thay v́ hai, như thế Boudhisme mới có nghĩa chính xác là “Minh Triết” (Bodha, Bodhi, “Trí-tuệ”, “Minh Triết”) thay v́ Bouddhisme là triết giáo của Đức Phật Gautama. Vậy, Thông Thiên Học là Tôn Giáo Minh Triết như tôi đă tŕnh bày.

 

Vấn : Có sự khác biệt nào giữa Bouddhisme (Phật giáo) là tôn giáo được thành lập bởi vị Hoàng tử của xứ Kapilavastu, và Boudhisme “Minh Triết” đồng nghĩa với Thần Triết như bạn đă nói không?

 

Đáp : Giống như giữa nghi thức chủ nghĩa và tín điều thần học của các giáo đường, giáo phái và giáo huấn bí truyền của Đức Christ, được gọi là “các điều huyền nhiệm của Thiên quốc”. Phật (Bouddha) có nghĩa là “Giác ngộ” bởi Bodha hoặc trí tuệ hay Minh Triết. Cuối cùng, sự Minh Triết này tạo thành giáo huấn toàn vẹn bí truyền mà Đức Gautama chỉ giảng dạy các bậc La-Hán (Arhats) đă được Ngài lựa chọn thôi.

 

Vấn : Có vài nhà Đông phương học lại phủ nhận việc đó. Họ cho rằng Đức Phật không bao giờ giảng dạy giáo lư bí truyền.

 

Đáp : Họ cũng có thể phủ nhận việc đối với các nhà khoa học,Tạo Hóa có nhiều điều bí mật. Sau nầy tôi sẽ chứng minh điều đó bởi cuộc đàm thoại giữa Đức Phật và  đệ tử của Ngài là Ananda. Các giáo huấn bí truyền của Đức Phật chỉ thật giản dị là Kinh Gupta Vidya (tri thức huyền bí) của các Bà-la-môn xưa mà các người thừa kế tân tiến của họ đă đánh  mất hẳn đi cái bí quyết, ngoại trừ vài người c̣n giữ được. Về phần Vidya, chính Nó đă xâm nhập vào cái mà ngày nay người ta gọi là giáo lư nội môn của phái Đại Thừa (Ecole Mahayana) và của Phật giáo Bắc Tông. Những ai đă phủ nhận điều nầy chỉ là nhà Đông Phương Học giả dối, kém thông minh. Tôi khuyên bạn nên đọc quyển Phật Giáo Trung Hoa (Chinese Buddhism) của Giám mục J. Edkins nhất là những chương viết về trường phái công truyền và bí truyền cùng các lời giáo huấn. Bạn nên so sánh ư kiến của tác giả về vấn đề đó với chứng cứ của tất cả các giới thời cổ.

 

Vấn : Nhưng luân lư Thông Thiên Học há không tương tự với luân lư đă được Đức Phật huấn dạïy sao ?

 

Đáp : Đúng như thế, v́ luân lư nầy là linh hồn của Tôn Giáo Minh Triết . Bởi xưa kia, Nó là sở hữu cộng đồng của các Bậc Đắc Đạo của tất cả mọi quốc gia. Nhưng Đức Phật là người đầu tiên đă du nhập giáo lư siêu việt nầy và các giáo huấn công truyền của Ngài và dùng làm căn bản tinh túy cho hệ thống truyền bá công khai. Đây là sự phân biệt rơ rệt giữa Phật giáo công truyền với các tôn giáo khác. Trong các tôn giáo khác th́ nghi lễ và tín điều chiếm hàng đầu, c̣n trong Phật giáo, phần luân lư rất quan trọng. Do đó, mới có sự giống nhau gần như đồng nhất giữa luân lư của Thông Thiên Học và luân lư trong tôn giáo của Đức Phật.    
 

Vấn : Có sự sai biệt nào giữa hai luân lư chính yếu nầy không ?

 

Đáp : Một trong sự phân biệt lớn lao hiện có giữa Thông Thiên Học và Phật Giáo công truyền là việc phái Tiểu Thừa Nam Tông tượng trưng cho Phật Giáo công truyền đă phủ nhận:  

a)- sự trường tồn của một Đấng Thiêng Liêng nào đó,

b)- ư thức về sự sống bên kia cửa tử cho đến mọi cá thể tự tri thức sự sống c̣n của con người. Đây là giáo huấn của giáo phái Xiêm-La (Thái-Lan) mà hiện nay, người ta xem như h́nh thức thuần túy nhất của Phật giáo công truyền và sẽ như thế măi nếu người ta không chấp nhận các giáo huấn công truyền của Đức Phật. Sau nầy, tôi sẽ giải thích về các ẩn ư đó. Dù sao các trường phái của phái Đại Thừa Bắc Tông được thành lập trong những xứ mà các Đấng La-Hán (Arhats) thụ pháp ẩn dật sau khi Đức Phật tịch, đă giáo huấn tất cả những điều mà hiện nay người ta gọi là giáo lư Minh Triết bởi đó là thành phần tri thức của các Đấng được thụ pháp. Các giáo lư nêu trên chứng minh v́ sao Chân lư bị hi sinh cho sự truyền bá quá nồng nhiệt của phái Tiểu Thừa Nam Tông. Thật ra trong các Giáo lư diễn tả Minh Triết Thiêng Liêng, có biết bao điều vinh quang, vĩ đại, hàm súc những triết lư cao siêu và khoa học hơn bất cứ giáo đường hoặc tôn giáo nào khác. Tuy nhiên, Thông Thiên Học không phải là Phật Giáo.

 


chương 1. 2.  3.  4.  5.  6.  7.  8.  9. 10. 11. 12. 13. 14. đầu sách. cuốí sách. mục lục. chú thích
 

CHƯƠNG  II

 

MINH TRIẾT THIÊNG LIÊNG BÍ TRUYỀN VÀ CÔNG TRUYỀN

 

ĐIỀU MÀ HỘI THÔNG THIÊN HỌC THỜI ĐẠI KHÔNG CÓ ĐƯỢC

 

Vấn : Vậy các giáo lư của bạn không phải là sự phục hưng Phật giáo cũng không bắt chước theo phái Thông Thiên Học Tân Platon sao?

Đáp : Thực sự không phải thế. Để đáp lại các câu hỏi vừa nêu ra, tôi không thể có một câu trả lời nào hay hơn đoạn văn sau đây được trích nơi bài nghiên cứu về”Thông Thiên Học “ của Bác sĩ J.D. Buck , một hội viên, tŕnh bày tại Đại Hội Thông Thiên Học ở Chicago, Mỹ Châu (tháng tư năm 1889). Đúng ra chẳng có người Thông Thiên Học nào giải thích chính xác và thông suốt cái tinh túy thực sự của Thông Thiên Học hơn Bác sĩ  Buck, người Bạn khả kính của chúng ta:

“Hội Thông Thiên Học được thành lập với mục đích truyền bá giáo lư và giảng giải về đời sống Thông Thiên Học. Hội Thông Thiên Học không phải là Hội đầu tiên truyền bá giáo lư nầy. Tôi có một quyển sách tựa đề:”Thông Thiên Học Ḥa Giải do Hội Thông Thiên Học Philadelphie”, xuất bản tại Luân Đôn năm 1697, và một tác phẩm tựa đề “Thông Thiên Học nhập môn hay Khoa Huyền Học của Đức Christ, có nghĩa là của Thánh Linh, của Thiên Nhiên và Tạo Vật, gồm có triết lư của tất cả các quyền năng linh hoạt về đời sống tâm linh thần bí. Các điều nầy hợp thành người chỉ dẫn thực tiễn về sự thanh khiết, thánh thiện, siêu việt và sự hoàn thiện phúc âm, cũng như việc hoạch đắc thị lực thiêng liêng và quyền lực của Thiên Thần cùng các đặc quyền khác về sự phục sinh “. Sách đă được  xuất bản tại Luân Đôn năm 1885. Và đây là lời đề tặng của tác phẩm :

“ Sách nầy dành cho các sinh viên Đại Học, Trung Học và các trường Cơ Đốc Giáo, cho các Giáo sư  Siêu H́nh Học, Cơ giới học và Vạn vật học dưới tất cả mọi h́nh thức; cho tất cả những người nam và nữ có học vấn tổng quát và đức tin chính thống; cho các người theo Tự  Nhiên Thần Giáo (Déistes), Aryens, Duy Nhất Thần Giáo (Unitériens), Swedenborgiens và các môn đồ thuộc về tín ngưỡng sai lầm, không nguồn cội, cho các người thuần lư cũng như hoài nghi, cho các người Hồi giáo công bằng, sáng suốt cùng các người Do-Thái và tín đồ thuộc tôn giáo Tộc trưởng Đông phương; và nhất là dành cho các mục sư của Phúc âm cùng các nhà truyền giáo các dân tộc sơ khai hoặc tiến bộ. Xin khiêm tốn và thân ái cung hiến sự dẫn khởi Thông Thiên Học hay Khoa Huyền Học căn bản về vạn vật.”

“ Vào năm sau,(1856) lại xuất hiện một quyển sách khác độ 600 trang, loại đặc biệt tựa đề: “Thông Thiên Học Hỗn Hợp”. Tác phẩm nầy chỉ in có 500 quyển để trao tặng các thư viện và các Đại học đường. Các phong trào đầu tiên rất đông đảo, xuất phát từ giáo đường, do những người có ḷng sùng bái và được nhiều uy tín. Các tác phẩm nầy khoác một h́nh thức chính thống và xử dụng cách phát biểu theo Cơ Đốc Giáo như tác phẩm của Linh mục William Law, ông chỉ đem lại cho độc giả bậc trung sự chú ư về tín ngưỡng và ḷng tôn sùng sâu xa của ông thôi. Tất cả tác phẩm nêu trên đều nhằm mục đích làm rơ nguồn cội kinh sách Cơ Đốc, đồng thời giải thích ư nghĩa sâu sắc nguyên thủy của chúng cũng như làm rạng danh và phát triển đời sống Thông Thiên Học. Nhưng các tác phẩm đó bị lăng quên nhanh chóng và ngày nay ít được ai biết đến. Chính các tác phẩm nầy đă t́m cách cải thiện hàng tăng lữ và làm thức tỉnh ḷng sùng tín thuần khiết, nhưng chúng lại không được chân thành đón nhận. Chỉ mang tiếng là “tà thuyết” cũng đủ chôn vùi chúng vào quên lăng. Ở thời kỳ Tôn giáo cải cách, ông Jean Reuchlin thử thực hiện một công việc tương tự nhưng kết quả cũng thất bại mặc dù ông là bạn thân thiết và tín cẩn của ông Luther. Chính thống giáo không bao giờ muốn được giáo huấn và soi sáng. Người ta cho các nhà cải cách biết về trường hợp của ông Festus đă thực hiện đối với ông Paul. Ông Festus cho rằng sự uyên bác thái quá khiến họ trở thành điên khùng, có thể gặp nguy hiểm nếu họ muốn đi xa hơn. Việc chẳng lưu ư đến cách tŕnh bày dài ḍng là do ở thói quen phần nào, và cũng do tŕnh độ giáo dục của các tác giả, mặt khác do nơi sự cưỡng chế tôn giáo bị bắt buộc bởi quyền lực thế tục. Đi ngay vào vấn đề, chúng ta nhận thấy rằng các tác phẩm bị bỏ quên đó đă diễn tả Minh Triết Thiêng Liêng theo ư nghĩa thực sự nghiêm túc và chỉ duy nhất dành cho trí thức của nhân loại cũng như dành cho sự sống thượng đẳng của linh hồn. Phong trào Thông Thiên Học hiện tại đôi khi được xem như là công cuộc thử chuyển hóa Cơ Đốc Giáo thành Phật Giáo, có nghĩa giản dị là chữ ‘tà thuyết’ đă bị mất tất cả quyền lực để chỉ trích. Vào mọi thời đại, vài người đă hiểu biết một cách rơ ràng hơn hoặc ít ra Giáo lư Thông Thiên Học cũng đă du nhập vào chính cái tinh túy đời sống của họ. Các giáo lư nầy không thuộc một tôn giáo nào; cũng không tự giới hạn vào một xă hội hoặc thời kỳ nào. Chúng nó là tài sản của mỗi linh hồn nhơn loại. Chính thống giáo cần được bứng tận gốc rễ nơi tâm của mỗi người tùy theo bản tính, nhu cầu, và cũng tùy theo kinh nghiệm khác biệt của họ. Điều nầy giải thích v́ sao những ai tin tưởng rằng Thông Thiên Học là một tôn giáo mới th́ phải thất vọng khi t́m hiểu các tín điều và nghi thức của nó. Tín ngưỡng của Thông Thiên Học là sự Thành Thật đối với Chân lư, và nghi thức của Thông Thiên Học gồm có việc  áp dụng Chân lư với ḷng tôn kính.

Người ta sẽ thấy phần đông dân chúng hiểu biết rất nông cạn về hiệu lực của T́nh Huynh Đệ Đại Đồng, họ không nhận thức được tầm quan trọng và siêu việt của nó, bởi họ chỉ nh́n vào sự khác biệt do dư luận và sự giải thích hời hợt về Thông Thiên Học. Hội Thông Thiên Học được thành lập v́ một nguyên lư duy nhất: T́nh Huynh Đệ chính yếu của con người như đă phác họa và tŕnh bày sơ lược nơi đoạn trên. Người ta đă bài bác Hội Thông Thiên Học cho là Phật Giáo và bảo nó chống đối Cơ Đốc Giáo, nhưng nó có thể là cả hai v́ Phật giáo và Cơ Đốc giáo, theo các nhà sáng lập đă tŕnh bày, đều dùng T́nh Huynh Đệ làm giáo lư chính yếu cho sự giảng dạy cũng như cho đời sống. Người ta đă cho Thông Thiên Học là một triết học mới mẻ dưới ánh mặt trời, hoặc ít ra cũng là một thần bí thuyết cổ được che đậy dưới danh từ mới. Có nhiều Hội được thành lập trên nguyên tắc của đức vị tha hoặc t́nh huynh đệ chủ yếu, và họ kết hợp lại với mục đích nâng đỡ chúng. Các Hội nầy có tên khác nhau nhưng nhiều nhóm được gọi là Thông Thiên Học, đă phục vụ cho các nguyên tắc cùng các mục tiêu của Hội hiện tại được mang tên là Thông Thiên Học. Trong các Hội kể trên, giáo lư chính yếu vẫn là một, và những ǵ c̣n lại, chỉ là phần phụ thuộc thôi. Nhưng điều nầy không sao tránh khỏi có nhiều người dễ bị các chi tiết thu hút và họ lăng quên các điều chính yếu hay bởi họ chưa hiểu biết nó vậy”.

Tôi không thể nào giải đáp cho bạn một cách chính xác hơn lời giải thích của bác sĩ Buck, một trong những người Thông Thiên Học đúng đắn nhất và cũng được mến chuộng nhất.

 

Vấn : Ngoài luân lư Phật giáo ra, bạn ưa thích theo đuổi học phái nào ?

 

Đáp : Không bên nào mà là tất cả. Chúng tôi không tham gia vào một tôn giáo hoặc một triết học nào; chúng tôi chỉ thu thập điều hay nơi mỗi tôn giáo và triết học thôi. Nhưng chúng tôi xin nhắc lại một lần nữa rằng Thông Thiên Học được chia ra hai phái: Công truyền và Bí truyền như các học phái thời cổ.

 

Vấn : Sự khác biệt ấy ra sao ?

 

Đáp : Các hội viên của Hội Thông Thiên Học được tự do hành đạo theo bất cứ tôn giáo hoặc triết học nào – hoặc không theo bên nào cả nếu họ thích – miễn là họ thông cảm và sẵn sàng để thực hiện ít lắm là một trong ba mục đích của Hội. Hội Thông Thiên Học là một tổ chức vừa bác ái vừa khoa học, được thiết lập để truyền bá tư tưởng và thực hành t́nh huynh đệ, chớ không phải lư thuyết suông. Hội viên của Hội có thể là tín đồ Cơ Đốc giáo hay Hồi giáo, Do Thái giáo hay Bái hỏa giáo, Phật giáo hay Bà-la-môn giáo, Thần linh học hay Duy vật học – điều đó không có chi quan trọng; chỉ có điều mỗi hội viên phải là một cá nhân đầy ḷng từ ái, một nhà bác học, một nhà sưu tầm văn chương Aryen hay một văn chương nào khác, hoặc là một sinh viên tâm linh học. Tóm lại, họ phải góp sức, nếu họ muốn, để thực hiện ít lắm là một trong các mục tiêu của chương tŕnh. Nói cách khác, họ không có lư do nào khác để ước muốn trở thành hội viên”. Đây là thành phần của đa số thuộc Hội công truyền được chia ra: Hội viên “gia nhập” và Hội viên “không gia nhập”. Trên thực tế, các hội viên không gia nhập có thể là, hoặc không trở thành người Thông Thiên Học. Những người nầy là hội viên v́ họ đă tham gia vào hội, nhưng không thể giúp họ trở thành một ngườiø Thông Thiên Học nếu họ không ư thức được mối liên quan thiêng liêng giữa các sự vật, hoặc giả họ chỉ khư khư cứu xét Thông Thiên Học theo môn phái và tính ích kỷ. Ngạn ngữ có câu: “Điều chi tốt đẹp là thiện”, có thể đổi lại “Người nào thực hành Thông Thiên Học , người đó là một ngườiø Thông Thiên Học”.

 

NGƯỜI THÔNG THIÊN HỌC và HỘI VIÊN CỦA HỘI THÔNG THIÊN HỌC

 

Vấn: Theo tôi hiểu, điều bạn vừa nói ra chỉ có thể áp dụng cho người thường thôi. Những người đă chuyên tâm học Giáo Lư Bí Truyền của Thông Thiên Học phải chăng là các người Thông Thiên Học chân chính ?

 

Đáp : Không hẳn là thế, nếu họ không tự chứng minh được sự chân chính. Họ đă được chấp nhận vào nhóm bên trong và đă thệ nguyện tuân thủ, càng nghiêm túc càng tốt các qui tắc của phái huyền môn. Đây là một công tŕnh khó khăn v́ chưng yếu tố đầu tiên và cũng quan trọng nhất của tất cả mọi qui tắc là sự từ khước toàn vẹn phàm ngă tính, điều nầy có nghĩa là một Hội viên hữu thệ phải trở thành một người có ḷng bác ái toàn vẹn. Họ không c̣n lo lắng cho chính ḿnh và phải quên đi tính khoe khoang tự phụ. Họ phải để tâm lo cho hạnh phúc của đồng loại hơn là hạnh phúc của các bạn đồng môn thuộc nhóm bí truyền của họ. Để cho các giáo huấn bí truyền được hữu ích, họ cần thực hành một đời sống khắc khổ về mọi phương diện. Đó là một đời sống vong kỷ, đạo hạnh nghiêm  chỉnh nhất, tuy họ vẫn phải thi hành đúng đắn bổn phận đối với mọi người. Con số rất hiếm về mẫu người Thông Thiên Học thực sự của Hội được tuyển chọn trong số các hội viên nầy. Điều đó không có nghĩa rằng ngoài Hội Thông Thiên Học và nhóm bên trong, không c̣n có người Thông Thiên Học; số người nầy c̣n nhiều hơn mọi giả thuyết và chắc chắn c̣n đông đảo hơn các hội viên thường của hội Thông Thiên Học.

 

Vấn : Vậy th́ gia nhập vào cái gọi là Hội  Thông Thiên Học để làm ǵ ? V́ lư do nào mà ngựi ta lại phải làm thế ?

 

Đáp : Không bởi một lư do nào cả trừ ra lợi ích để có được sự giáo huấn bí truyền, để hiểu biết các giáo lư thực sự của “Tôn Giáo Minh Triết”, để thụ hưởng sự trợ giúp và sự cảm mến hổ tương khi tuân thủ chương tŕnh  do giáo lư chỉ dẫn. Sự đoàn kết làm thành sức cố gắng nhất tề, một khi được kiểm soát cẩn thận, sẽ phát sinh những điều kỳ diệu. Đó là điều bí nhiệm của tất cả các cộng đồng tính kể từ lúc nhân loại hiện tồn.

 

Vấn : Nhưng tại sao một người có trí năo rất thăng bằng, đang theo đuổi một mục đích duy nhất không thể trở thành một nhà Huyền bí Học hay một Đấng Chân Sư bằng cách làm việc đơn độc, nhất là họ được thiên phú một năng lực và sự bền chí khó chế trị ?

 

Đáp : Họ có thể đạt được điều đó nhưng sự thành công của họ chỉ trong muôn một. Tôi xin kể cho bạn hiểu rơ một trong bao nhiêu lư do khác; ngày nay, không có những quyển sách về Huyền bí học hay Thuật Thông Thần (Théurgie) được diễn tả bằng một ngôn ngữ minh bạch, giản dị về các điều bí mật của Thuật Luyện kim (Alchimie). Thông Thiên Học như thế chỉ có trong thời Trung Cổ. Tất cả các tác phẩm trên đều được viết bằng biểu tượng, ngụ ư, và bởi người ta không c̣n giữ được cái bí quyết đă có từ nhiều thế kỷ, trong các xứ ở Tây phương th́ làm thế nào hiểu rơ ư nghĩa thực sự của điều họ đọc và  nghiên cứu? Do đó, xảy ra sự nguy hiểm lớn lao v́ để rơi vào tà thuật vô ư thức, hoặc rơi vào đồng bóng thụ động. Người nào không nhờ một Bậc đă đắc đạo chỉ dạy, tốt hơn đừng nên chú ư đến một sự nghiên cứu quá nguy hại như thế. Hăy nh́n xem xung quanh bạn; bạn trông thấy chi?  Hai phần ba người văn minh lại khinh miệt cái ư tưởng có một điều chi  xứng đáng để được nghiên cứu trong Thông Thiên Học, trong Huyền bí học, trong Thần linh học hoặc trong Bí thuật giáo (Cabale); một phần ba kia gồm có các yếu tố dị đồng và đối kháng nhất. Có nhiều người lại tin tưởng vào những điều thần bí và siêu nhiên, nhưng mỗi người theo một cách. Nhiều người khác lại chuyên lo nghiên cứu Bí thuật giáo, Linh khí thuyết, Từ điện trị liệu thuyết, Thần linh học hoặc một h́nh thức nào khác của Thần bí học.

Kết quả ra sao?  Người ta không thể t́m thấy hai người, cùng suy tưởng như nhau, và đồng ư với nhau về các nguyên lư chính yếu của Huyền bí học; thật ra, nhiều người tưởng rằng chính họ đă t́m được cái tinh túy siêu việt của sự hiểu biết, và họ thích thế nhân nghĩ rằng họ đă trở thành Chân Sư toàn hảo. Ở Tây Phương, không những người ta không có được sự hiểu biết nào chính xác về Khoa học, về Huyền bí học, mà cũng chẳng có khoa Chiêm tinh thực sự nào duy nhất về Huyền bí học, các giáo huấn công truyền của nó đă được tổ chức thành hệ thống đứng đắn – nhưng chưa có ai đạt được một ư niệm chi về Huyền bí học thực sự cả. Vài người muốn hạn định minh triết cổ vào Bí thuật giáo, vào kinh điển Do-Thái giáo (Zohar), và mỗi người giải thích theo ư ḿnh hoặc theo nghĩa chính của các phương thức Do-Thái. Vài người khác xem Swedenborg hay Boehme như là những nhà đại diện tối thượng của nền minh triết cao cả nhất, trong lúc c̣n có nhiều người khác nữa lại t́m thấy trong khoa Từ điện trị liệu những điều bí ẩn lớn lao của thần thuật cổ. Những người thực hiện lư thuyết của ḿnh đều bị lôi cuốn nhanh chóng bởi sự vô minh và tà thuật, không sót một ai cả. Người nào đă thoát khỏi th́ thật là hữu phước, v́ không có bằng chứng hoặc tiêu chuẩn nào để giúp họ phân biện điều chân và điều giả cả.

 

Vấn : Phải chăng chúng ta nên kết luận rằng, nhóm bên trong của Hội Thông Thiên Học, đều tin tưởng, tất cả mọi sự tri thức của nhóm nhờ nơi các Bậc Điểm Đạo hoặc Chân Sư Minh Triết Bí Truyền ?

 

Đáp : Không phải bằng cách trực tiếp. Sự hiện diện cá nhân của Chân Sư như thế không cần thiết. Các Ngài chỉ cần giáo huấn vài đệ tử do các Ngài hướng dẫn trong nhiều năm, và các đệ tử nầy đă hi sinh trọn đời để phụng sự cho công cuộc của các Ngài. Đến phiên đệ tử, các vị sẽ truyền bá những điều đă hoạch đắc cho những ai chưa được cái may mắn như ḿnh. Thà rằng có  một phần nhỏ của Khoa Huyền bí thực sự, hơn là có nhiều sự uyên bác bị đồng hóa một cách chênh lệch cùng với sự hiểu biết sai lạc. Một ít vàng c̣n quí hơn một đống rác.

 

Vấn : Làm sao hiểu biết được đây là vàng thật hay là vàng giả ?

 

Đáp : Người ta biết được một loại cây là nhờ trái của nó, và biết được một học phái nhờ kết quả. Khi nào những người đối lập của chúng ta có thể chứng minh cho thấy rằng, trải qua các thời đại, nếu một người chỉ chuyên tâm tự nghiên cứu Huyền bí học không cần có một Đức Thầy dẫn dắt, lại được trở thành một vị Thánh chuyển pháp như ông Ammonius Saccas hay ông Plotin, hoặc một nhà Thông Thần Thuật như ông Jamblique hoặc trở thành một người đă thực hiện được những điều kỳ diệu như ông Saint Germain mà không sa vào con đường đồng bóng hay thuộc về hạng có ảo giác tâm linh, hoặc nhà Aûo thuật. Lúc ấy, chúng tôi sẽ tự thú rằng chúng tôi đă lầm lạc. Nhưng đến nay, chúng tôi ước muốn tuân theo định luật thiên nhiên và được thử thách theo truyền thống của Khoa học tôn nghiêm. Có những nhà Huyền bí đă t́m được sự phát minh vĩ đại về hóa học và khoa vật lư; các sự phát minh nầy tương đương với thuật Luyện Kim và Huyền bí học; vài người khác nhờ quyền lực duy nhất của tài năng đă t́m lại được đôi mảnh vụn nếu không nói là trọn vẹn, các mẫu tự bị thất lạc của “Ngôn ngữ Huyền Linh Học”, và nhờ đó, họ có thể đọc những tác phẩm Hi-ba-lai. Nhiều người khác là những bậc có huệ nhăn đă nh́n thấy những điều ẩn tàng của Tạo Hóa. Những vị đó là nhà chuyên môn. Người nầy phát minh lư thuyết, nguời kia lại là  người Hi-Ba-Lai, nghĩa là một nhà Bí Thuật giáo nhiệt thành, người thứ ba là một Swedenborg tân tiến đă từ khước tất cả, ngoại trừ khoa học và tôn giáo riêng biệt của ông. Tuy nhiên chẳng có một người nào tự hào rằng chính ḿnh đă thực hiện được  một điều lợi ích phổ quát cho quốc gia hay cho cá nhân. Trừ vài người trị bịnh – hạng mà Viện Hoàng gia, các bác sĩ và nhà giải phẩu gọi là lang băm – không một ai trong các người đó đă dùng khoa trị liệu hư truyền của ḿnh để cứu trợ nhân loại, hay ít ra cũng giúp ích được cho người đồng chủng. Vậy các người Chaldéens  [9] của thời xưa ở đâu – những người có tài  trị bịnh kỳ diệu –“ không do bùa chú lại do thảo dược ”? Ông Apollonius de Tyane ở đâu, chính ông có tài trị làønh những người tàn tật và cứu chết sống lại trong bất cứ quốc gia hay hoàn cảnh nào ? Tại Âu châu, chúng tôi biết được vài nhà chuyên môn thuộc hạng thứ nhất, nhưng chúng tôi chỉ t́m gặp những người thuộc hạng thứ nh́ ở tại Á châu mà thôi. Chính nơi đây, các sự bí ẩn của những bậc Yoguis “đă duy tŕ sự sống dưới h́nh thức của sự chết” c̣n được tồn tại.

 

Vấn : Mục đích của Thông Thiên Học phải chăng để đào tạo các bậc đắc đạo và như thế họ sẽ có được quyền năng trị bịnh?

 

Đáp : Các mục tiêu của Thông Thiên Học th́ khác biệt, nhưng mục tiêu chính yếu nhất nhằm vào việc giúp đỡ và làm vơi bớt nỗi khổ đau về tinh thần cũng như vật chất của người đời dưới mọi h́nh thức. Chúng tôi nghĩ rằng điểm thứ nhứt quan trọng hơn điểm thứ nh́. Thông Thiên Học có nhiệm vụ giáo huấn về luân lư và thanh lọc linh hồn để làm giảm bớt sự đau đớn xác thân và tất cả các bệnh tật đều là di truyền, ngoại trừ trường hợp tai nạn. Không phải nghiên cứu Huyền bí học với mục đích ích kỷ, thỏa măn tham vọng cá nhân, hoặc tính kiêu căng hay ngông tưởng nhưng chỉ nghiên cứu để có thể đạt được mục tiêu thật sự của Thông Thiên Học. Muốn vậy, hành giả phải giúp đỡ nhân loại đang đau khổ. Cũng không phải chỉ nghiên cứu khoa triết lư bí truyền mà người ta sẽ trở thành nhà Huyền bí học, trái lại phải nghiên cứu tất cả các khoa dù chưa chủ trị được chúng.

 

Vấn : Để đạt mục tiêu quan trọng nầy, phải chăng chỉ có những người chuyên nghiên cứu về khoa bí truyền ?

 

Đáp : Không hẳn như thế. Tất cả học viên thường, có thể được giáo huấn về Thông Thiên Học tổng quát nếu họ muốn, nhưng ít người có cái năng khiếu để trở thành “hội viên hoạt bác”, phần đông thích làm con ong ṿ vẽ của Thông Thiên Học. Chúng tôi cần giải thích thêm rằng trong Hội Thông Thiên Học, các sự nghiên cứu đặc biệt được khuyến khích miễn là những sự nghiên cứu như thế không vượt quá giới hạn phân chia Công Truyền và Bí Truyền, Thần Bí Học mù quáng với Thần Bí Học ư thức.

SỰ KHÁC NHAU GIỮA THÔNG THIÊN HỌC VÀ HUYỀN BÍ HỌC

Vấn : Bạn nói về Thông Thiên Học và Huyền bí học. Vậy, có sự đồng nhất nào giữa hai môn học đó không?

 

Đáp : Không bao giờ có. Thật ra một người có thể là một nhà Thông Thiên Học rất tốt, thuộc bên trong hay bên ngoài Hội, nhưng họ không phải là một nhà Huyền bí học. Tuy nhiên, không một ai có thể là nhà Huyền bí học chân chính và đồng thời lại không phải là một nhà Thông Thiên Học thực sự; nói cách khác, họ chỉ là người có tà thuật mặc dù họ ư thức được điều đó hay không ?

 

Vấn : Bạn giải thích như thế nghĩa là sao ?

 

Đáp : Tôi nói rằng một người Thông Thiên Học chân chính phải thực hành lư tưởng luân lư cao siêu nhất; họ phải cố gắng trực cảm sự đơn nhất của ḿnh đối với toàn thể nhân loại, và phải luôn luôn làm việc cho sự ích lợi của đồng bào. Nhà Huyền bí học nào không xử sự như thế họ sẽ hành động v́ quyền lợi cá nhân một cách ích kỷ, và một khi đă hoạch đắc được những quyền năng thực tiễn cao siêu hơn quyền năng của người thường, họ trở thành kẻ thù rất nguy hiểm hơn người thường đối với thế gian, cũng như đối với người xung quanh. Điều nầy thật là rơ ràng minh bạch.

 

Vấn : Phải chăng nhà Huyền bí học chỉ là người hoạch đắc được các quyền năng cao siêu hơn người thường?

 

Đáp : Họ c̣n hơn thế nữa, nếu thực sự họ là một nhà Huyền bí học thông thái và thực tiễn, chẳng phải về danh từ mà là do việc làm. Khoa học Huyền bí không như trong Bách khoa toàn thư đă tŕnh bày “các khoa ảo tưởng của Thời Trung Cổ có liên quan đến tác động hoặc ảnh hưởng giả thuyết của các đức tính huyền bí, hoặc những quyền năng siêu nhiên như : Thần Thuật, Khoa Luyện Kim, Khoa Chiêu Hồn và Khoa Chiêm Tinh”. Đây là các khoa học thực sự , chân chính và rất nguy hiểm. Các khoa nầy dạy về quyền lực bí nhiệm của các sự vật trong thiên nhiên bằng cách phát triển những quyền năng c̣n “ tiềm tàng nơi con người “; chúng nó cung cấp những quyền năng vĩ đại cho người nào thực hiện được chúng hơn người thường. Ngày nay, khoa Thôi miên được truyền bá và trở thành mục tiêu của các sự sưu tầm khoa học rất nghiêm chỉnh; đây là một thí dụ điển h́nh. Sau khi được khoa Từ điện trị liệu chuẩn bị cho đường lối; th́ quyền năng thôi miên đă được phát giác gần như là một sự ngẫu nhiên. Một nhà thôi miên tài ba có thể vận dụng quyền năng của ḿnh theo ư muốn, họ có thể sai khiến một người cử động một cách vô ư thức và buồn cười, hoặc xúi họ phạm tội sát nhân hầu thay thế và làm lợi cho ḿnh. Một quyền năng như thế không đáng khủng khiếp hay sao nếu nó bị rơi  vào tay những kẻ tán tận lương tâm? Nhưng bạn nên nhớ rằng, Thôi Miên Học chỉ là một khoa hạ đẳng trong các khoa của Huyền bí học.

 

Vấn : Nhưng tất cả các khoa huyền bí như : thần thuật và phù thủy há chẳng được các chân linh trí thức và các nhà thông thái xem như là dư âm của sự mê tín, dốt nát thời xưa hay sao ?

 

Đáp : Xin bạn cho phép tôi lưu ư rằng, điều bạn quan sát là con dao hai lưỡi “các chân linh trí thức và các nhà thông thái”; trong dân gian có người  xem Cơ Đốc giáo cũng như tất cả các tôn giáo khác là dư âm của sự mê tín, dốt nát. Mặc dù thế, bấy giờ người ta lại khởi sự tin tưởng vào khoa thôi miên; vài chân linh, cho đến những chân linh trí thức, nhất là họ tin tưởng vào Thông Thiên Học và các hiện tượng. Ngoài các nhà thuyết giáo và những người cuồng tín mù quáng, vậy ai trong số nầy sẽ thú nhận rằng họ tin tưởng vào Thánh Kinh? Và bạn nên ghi nhận sự sai biệt nầy: nếu có những người Thông Thiên Học rất tốt, rất thanh khiết, có khả năng tin tưởng vào những điều siêu nhiên, kể luôn những phép lạ thiêng liêng, th́ không một nhà Huyền bí học vào lại tin tưởng như thế. V́ nhà Huyền Bí Học thực hành Thông Thiên Học rất khoa học; họ căn cứ vào sự hiểu biết chính xác và sự diễn tiến bí mật của Thiên Nhiên. C̣n người Thông Thiên Học khi sử dụng các quyền năng được gọi là phi thường mà không nhờ sự soi sáng của Huyền Bí Học sẽ đi ngay vào h́nh thức đồng cốt rất nguy hại. Tuy họ vẫn tuân thủ theo Thông Thiên Học v́ luân lư rất siêu việt, nhưng họ lại thực hành một cách vô ư thức, thúc đẩy bởi một đức tin chân thật nhưng mù quáng.

Người nào dù là nhà Thông Thiên Học hay Thần Linh Học đang cố gắng nghiên cứu một số các ngành của khoa học huyền môn, thí dụ như : Thôi miên học, Từ điện trị liệu cho đến việc t́m các phương thức bí mật phát sinh những hiện tượng vật lư ... mà vẫn chưa hiểu biết căn nguyên triết lư về các quyền năng nầy, th́ người đó, chẳng khác nào một chiếc thuyền không lái, trôi giạt trên đại dương đang dao động phong ba.

 

SỰ KHÁC NHAU GIỮA THÔNG THIÊN HỌC VÀ THẦN LINH HỌC

 

Vấn : Như vậy bạn không tin tưởng nơi Thần Linh Học hay sao ?

 

Đáp : Nếu bạn hiểu từ ngữ “Thần Linh Học” theo các nhà Thần Linh Học giải thích về vài hiện tượng phi phàm, th́ chắc chắn rằng chúng tôi không tin như thế.  Thật vạây, theo các nhà Thần Linh Học th́ các sự biểu hiện nầy đều được phát sinh do các “Chân linh” của người thường hay của thân quyến, theo lời họ nói, đă từ giă cơi đời và c̣n trở lại đây để liên lạc với những người họ mến thương, hoặc giả có liên quan mật thiết. Đây là điều chúng tôi tuyệt đối từ khước. Chúng tôi xác nhận các chân linh của người chết không thể nào trở lại địa cầu, ngoại trừ trường hợp rất đặc biệt mà tôi sẽ bàn luận về sau. Họ cũng không thể liên lạc với người ở cơi trần trừ phi họ phải nhờ những phương tiện thuần chủ quan. Những ǵ hiện ra một cách khách quan chỉ là bóng ma của con người vật chất đă chết. C̣n về Thần linh học tâm linh hay nói cách khác là “Tâm Linh “, th́ chúng tôi tin tưởng hoàn toàn.

 

Vấn : Có phải bạn cũng phủ nhận các hiện tượng không?

 

Đáp : Chắc chắn không, trừ trường hợp cố ư gian lận.

 

Vấn : Bạn giải thích điều nầy như thế nào ?

 

Đáp : Bằng nhiều cách. Các nguyên do của sự biểu hiện về loại vừa kể không giản dị như các nhà Thần Linh Học tưởng nghĩ. Trước tiên, con ma ngoại cảnh (le deus ex machina) của những cái được gọi là “sự biểu hiện” thường là của cảm thể (thể viá) hoặc của nhị thể (thể phách) của đồng tử hoặc của một trong nhóm người đến dự. Cảm thể nầy cũng là tay sản xuất hoặc là động lực chủ động trong các sự biểu hiện một cách viết trực tiếp [10] hay theo “Davenport” v.v...

 

Vấn : Bạn nói “ thường “ vậy có cái chi phát sinh những biểu hiện khác nữa chăng?

 

Đáp : Việc nầy tùy theo tính chất của sự biểu hiện. Đôi khi là xác chết của cảm thể, của “vỏ cứng” (coques) của Kama-Loka (cảm dục giới) của những vật không c̣n hiện hữu nữa; có khi là các hành khí (Eùlémentaux). “Chân Linh” là một danh từ có nghĩa rộng răi và không cố định. Thực sự chẳng hay các nhà Thần Linh Học hiểu nghĩa danh từ đó ra sao. Chúng tôi xin giả thiết rằng họ xác định các hiện tượng vật lư được phát sinh bởi Chân Ngă (Ego) tái sinh, “Cá thể tính” tâm linh bất tử. Và đây là một luận đề mà chúng tôi từ khước hoàn toàn. Cá thể tính ư thức của những bản thể tử vong không thể tự hiện h́nh ra được; nó cũng không thể rời bỏ lĩnh vực trí năng Thiên Đàng riêng biệt của nó để trở lại cơi giới khách quan tính trần gian.

 

Vấn : Tuy nhiên, có nhiều sự liên lạc nhận được từ các “chân linh”, chứng tỏ rằng không những có sự thông minh mà c̣n có sự hiểu biết về các sự kiện người đồng tử chưa từng tri thức bao giờ, và đôi khi c̣n xa lạ với tâm thức của người sưu tầm cũng như của tất cả người tham dự.

 

Đáp : Điều nầy không nhất thiết chứng tỏ rằng sự thông minh và hiểu biết mà bạn vừa nói lại thuộc vào các chân linh hoặc phát tỏa từ những linh hồn tử vong. Người ta được biết về trường hợp của những người mộng du, trong lúc xuất thần họ sáng tác âm nhạc, thi thơ và giải quyết được những bài toán mà họ chưa bao giờ học qua âm nhạc hay toán học. Nhiều người mộng du khác đă trả lời một cách hoạt bác các câu hỏi được đặt ra, và trong nhiều trường hợp, họ nói tiếng Hi-ba-lai (Hébreux), tiếng La-tinh, những ngôn ngữ mà họ hoàn toàn không hiểu biết trong lúc thức tỉnh. Tất cả điều vừa kể thể hiện trong trạng thái ngủ mê. Vậy, bạn c̣n cho rằng những điều đó là công tŕnh của các “chân linh” nữa không ?

 

Vấn : Bạn giải thích việc nầy ra sao ?

 

Đáp : Chúng tôi xác nhận rằng do cái bản chất tinh túy của tia sáng thiêng liêng ẩn trong mọi người nên mới có sự đồng nhất và là một với Chân linh phổ quát, cái “Ngă” tâm linh của chúng ta th́ toàn tri trên phương diện thực tế, nhưng nó không thể biểu hiện sự hiểu biết v́ chúng bị cản trở bởi vật chất đối kháng. Nếu người ta càng giảm bớt trở ngại nầy; nói cách khác, nếu thể xác càng bị tê liệt về những ǵ có liên quan đến sự hoạt động tự do cùng tâm thức riêng biệt của nó như đă xảy ra trong giấc ngủ mê hoặc lúc xuất thần thâm sâu, hay trong cơn bệnh hoạn th́ cái Ngă nội tâm có thể tự biểu hiện một cách toàn vẹn hơn trên cảnh giới vật chất. Đây là sự giải thích của chúng tôi về các hiện tượng rất kỳ diệu trên b́nh diện cao mà trí thông minh và sự hiểu biết tự phát lộ rơ ràng. C̣n các sự biểu hiện trên b́nh diện thấp như  hiện tượng vật lư, điều  vô vị và chuyện phàm tục của các “Chơn linh” như thường thấy xảy ra, phải có nhiều th́ giờ và giải thích trong nhiều chương hơn về các giáo huấn quan trọng nhất của chúng ta. Vả lại chúng tôi muốn xen vào tín ngưỡng của các nhà Thần Linh học hoặc của các tôn giáo khác. Chính những người tin tưởng vào “Chân linh”, mới có bổn phận chứng minh tín ngưỡng của họ. Hiện nay, tuy các thủ lănh thông thái, minh mẫn nhất trong số những nhà Thần Linh học tin chắc rằng, các sự biểu hiện trên phương diện thượng đẳng được xảy ra do trung gian của các linh hồn tử vong, nhưng họ lại là những người đă thú nhận trước tiên rằng tất cả các hiện tượng đều không do Chân linh phát sinh. Và lần lần, chính họ phải nh́n nhận sự thật; trong khi chờ đợi chúng tôi không có quyền hay ư muốn cải cách họ theo thể thức nh́n thấy của chúng ta và điều nầy ít ra là, khi có các sự biểu hiện hoàn toàn tâm lư và tâm linh, chính chúng lại tin tưởng nơi sự liên lạc hổ tương giữa chân linh của người sống và chân linh của những cá thể tính tử vong.

 

Vấn : Như vậy bạn đă phủ nhận triết lư của Thần Linh Học ?

 

Đáp : Nếu bạn hiểu “triết lư” là các lư thuyết mơ hồ, chúng tôi từ khước hẳn thứ triết lư nầy. Nhưng thực sự Thần Linh Học không có triết lư, như các người bảo vệ thông minh và trang nghiêm nhất của nó đă từng nói. Chỉ có một chân lư chính yếu và rơ rệt mà họ giảng dạy – đó là các hiện tượng được phát sinh bởi các đồng tử dưới sự quan sát của những động lực và trí linh vô h́nh – không một ai muốn hay có thể phủ nhận chân lư nầy, trừ ra những người theo thuyết duy vật mù quáng thuộc “phái của Huxley”. Tuy nhiên, về triết lư của họ, bạn cho phép tôi kể ra điều mà nhà xuất bản thông thái của tập san Aùnh Sáng (Light) và cũng là người bảo vệ sáng suốt, tận tụy của Thần Linh Học đă nói về họ và về triết lư của họ. Đây là điều mà ông “M.A.Oxon”, một nhà Thần Linh Học hiếm có đă trở thành triết gia, viết về những ǵ liên quan đến sự thiếu tổ chức và mê tín mù quáng của các đồng môn của ông:

“Chúng ta nên cứu xét kỹ lưỡng điểm nầy v́ nó rất quan trọng. Chúng ta kinh nghiệm, hiểu biết cách nào khiến cho mọi sự hiểu biết khác trở thành tương đối một cách vô nghĩa. Nhà Thần linh học bậc thường hay nổi giận đối với ai nghi ngờ sự đoán biết hoàn toàn của họ về tương lai cũng như về đời sống sắp tới một cách tuyệt đối. Nơi mà các người khác đă đưa hai bàn tay yếu ớt ḍ dẫm tương lai vô định trong khoảng tối tăm, th́ họ lại tiến bước một cách dạn dĩ như người nắm được địa đồ và biết được con đường của những xứ mà họ đă đi qua. Nơi mà các người khác dừng lại và chỉ bằng ḷng với một nguyện vọng tôn kính hoặc những giáo huấn của một tín ngưỡng di truyền, th́ họ lại tự hào đă biết điều chi mà họ chỉ có thể tin tưởng mà thôi, họ c̣n tự kiêu rằng họ có thể thay thế bằng sự hiểu biết những tín ngưỡng mong manh chỉ căn cứ vào hy vọng. Họ tỏ ra độ lượng khi luận về các hi vọng mật thiết nhất của con người. Dường như họ muốn nói:”Anh chỉ biết hi vọng thôi về điều mà tôi có thể chứng minh được. Anh đă chấp nhận một tín ngưỡng theo truyền thống của điều mà tôi có thể dẫn chứng, bằng các phương pháp khoa học chính xác nhất. Các tín ngưỡng cổ càng ngày càng suy giảm, các anh hăy tách rời ra khỏi chúng, và hăy giữ cho được sự cách biệt. Chúng chứa đựng bao nhiêu điều dối trá cũng như chân lư. Chỉ lúc nào xây cất được nền móng vững chắc trên các sự kiện đáng tin cậy, anh mới có thể dựng lên được một ṭa nhà bền vững. Từ mọi hưóng, người ta nhận thấy các tín ngưỡng cổ sụp đổ. Hăy ra khỏi chúng, nếu anh muốn thoát mọi nguy cơ. “ Nhưng nếu ta nh́n kỹ con người nầy và muốn biết giá trị thực sự của họ ra sao, ta sẽ thấy họ khá kỳ dị, nhưng lại thất vọng nhanh chóng. Họ tin tưởng chắc chắn các ư tưởng riêng biệt của họ, cho đến đổi không c̣n chịu khó thăm ḍ phương thức do những nhà tư tưởng khác giải thích về các sự kiện mà họ đă chấp nhận. Sự minh triết của các thời đại đă qui về việc giải thích điều mà họ xem như đă được chứng minh nhưng không bao giờ lại lưu ư đến các việc sưu tầm. Họ cũng không hoàn toàn đồng ư với các anh em của họ là những ngưởi Thông Thiên Học. Đó là lời thuật lại về câu chuyện của một bà xứ Ecosse; bà nầy, phối hợp với chồng lập thành một “giáo đường”. Họ chỉ có riêng chiếc ch́a khóa của Thiên quốc, hay nói đúng hơn là chỉ riêng mỗi ḿnh bà là có được chíếc ch́a khóa nầy, bởi bà không “hoàn toàn tin chắc nơi sự được cứu rỗi của Jamie”. Cũng giống như thế, nhiều môn phái phân chia và c̣n phân chia ra nữa các nhà Thần Linh Học “không hoàn toàn tin chắc” nơi sự cứu rỗi. Kinh nghiệm cộng đồng của nhân loại đồng thanh tuyên bố sự hợp quần làm thành sức mạnh và chia rẽ là nguồn gốc của sự yếu đuối, thất bại. Nếu được huấn luyện và kỹ thuật hóa một cách vững chắc, th́ một đám quân hỗn tạp sẽ trở thành một đạo quân nghiêm chỉnh, và mỗi  người có thể đương cự với hàng trăm người thiếu kỷ luật. Tất cả mọi địa hạt thuộc phạm vi sinh hoạt của nhân loại, nếu được tổ chức, sẽ mang đến sự thành công, tiết kiệm th́ giờ, việc làm, và là nguồn cội của điều lợi ích cũng như sự tiến bộ. Thiếu phương pháp, kế hoạch, công việc sẽ không được điều khiển và các cố gắng thiếu trật tự bị lung lạc, chỉ đem lại nhiều rắc rối thảm thương. Tiếng nói của nhân loại chứng minh chân lư đó. Nhà Thần Linh Học có chấp nhận sự kiện nầy chăng và họ có muốn thích hợp với các hiệu quả đó chăng?  Chắc hẳn không. Họ không muốn có sự tổ chức, chính họ là luật lệ riêng biệt, và họ cũng là một cái gai nhọn đâm vào bên hông của người đồng chủng. Aùnh Sáng (Light), ngày 22 tháng sáu, năm 1889”.

 

Vấn : Người ta đă nói với tôi rằng Hội Thông Thiên Học được sáng lập vào lúc ban sơ, với mục đích dẹp tan Thần Linh Học và tín ngưỡng về sự thường tồn của cá thể tính con người?

 

Đáp : Người ta đă chỉ dẫn bạn không đúng, v́ tất cả tín ngưỡng của chúng tôi được căn cứ vào cá thể tính bất tử nầy. Nhưng bạn đă lầm lẫn về phàm ngă tính với cá thể tính như bao nhiêu người khác. Các nhà tâm lư học Tây phương của bạn dường như không thiết lập được   sự phân biệt rơ rệt giữa hai danh từ nầy. Tuy nhiên, chính sự sai biệt đó cung cấp chiếc ch́a khóa cho sự thông hiểu về triết lư Đông phương và nó là nguồn cội của sự dị biệt giữa các giáo huấn Thần linh học và Thông Thiên Học. Tôi phải tuyên bố nơi đây, dù có khiêu khích thêm sự thù nghịch của vài nhà Thần Linh Học, chính Thông Thiên Học thực hiện được Thần Linh Học thực sự, thuần khiết và không làm lẫn lộn, c̣n học phái thời đại được dân chúng thực hành ngày nay và được gọi dưới danh từ  đó, chỉ đơn giản là duy vật thuyết siêu việt mà thôi.

 

Vấn : Bạn hăy giải thích rơ ràng hơn các ư tưởng của bạn về vấn đề nầy.

 

Đáp : Tuy rằng các giáo lư của chúng tôi nhấn mạnh về tính đồng nhất giữa Chân linh và Vật chất, chúng tôi xin nói Chân linh chỉ là Vật chất tiềm tàng (matière potentielle), và Vật chất lại giản dị là Chân linh được kết tinh cũng như nước đá cục không chi khác hơn là hơi nước đông đặc lại, chúng tôi duy tŕ danh từ Chân linh chỉ có thể áp dụng cho cá thể tính thực sự, v́ chưng điều kiện nguyên thủy và vĩnh cửu của toàn thể không phải là chân linh, mà là siêu chân linh (méta-esprit) sự biểu hiện từng định kỳ chỉ đơn giản là vật chất hữu h́nh và cứng đặc.

 

Vấn : Nhưng làm sao phân biệt được “cá thể tính thực sự” nầy với cái “ Ta” hay “Chân Ngă” (Ego) mà chúng ta đều ư thức ?

 

Đáp : Trước khi tôi có thể trả lời bạn, chúng ta nên chấp nhận ư nghĩa tặng cho chữ “Ta” hoặc “Chân Ngă”. Chúng tôi phân biệt giữa sự kiện đơn giản của cái thức tâm hữu ngă với t́nh cảm suông: “Tôi là Ngă” và ư tưởng phức tạp hơn. “Tôi là ông Smith hay bà Brown”. Sự phân biệt nầy là cái trục trung ương mà xung quanh đó lại tiến triển ư tưởng của một loạt các kiếp sinh ra hoặc tái sinh cho chính một Chân Ngă; chúng tôi tin nơi ư tưởng nầy. Bạn thấy rằng ông Smith tượng trưng thật sự cho một dọc dài về các kinh nghiệm hằng ngày chúng ta được liên kết chung bởi sợi dây của kư ức, làm thành như thế cái mà “ông Smith gọi chính là ông”. Nhưng không một cái nào trong các “kinh nghiệm” đó lại thực sự cấu thành cái “Ngă” hoặc “Chân Ngă”, và chúng cũng không cung cấp cho “ông Smith” cảm giác là chính ông, v́ ông quên lăng phần lớn những kinh nghiệm hằng ngày của ḿnh, và chúng chỉ cung cấp cho ông cái cảm giác về Chân ngă tính (Egoité) ngày giờ nào chúng c̣n duy tŕ. Thế nên chúng tôi, những người Thông Thiên Học thiết lập một sự phân biệt giữa cái kết tinh “kinh nghiệm” nầy, mà chúng tôi gọi là phàm ngă tính giả tạo (fausse personnalité) (tại v́ nó hạn định và giả tạm), và yếu tố nầy trong con người đă cho họ cái cảm giác:”tôi là ngă”. Chính cái “tôi là ngă” nầy mà chúng tôi gọi là cá thể tính thực sự; và chúng tôi nói rằng”Chân Ngă” hay cá thể tính giống như một kép hát đóng nhiều vai trên sân khấu cuộc đời. Chúng ta hăy gọi mỗi đời sống mới của chính một “Chân Ngă” trên địa cầu là một tuồng hát trên sân khấu. Vào một buổi chiều, một kép hát, hay “Chân Ngă” xuất hiện trong vai tuồng “Macbeth”, một buổi chiều khác, họ đóng vai  “Shylock” và một chiều thứ ba, họ là “Roméo”, một buổi chiều thứ tư họ là “Hamlet hoặc vị vua “Lear”, và cứ tiếp tục như thế, cho đến khi họ đă trải qua tất cả chu kỳ các kiếp nhục hóa. Chân Ngă khởi sự cuộc hành hương về đời sống của nó dưới h́nh thức là một trẻ nghịch ngợm “Ariel” hay một “Puck”; họ đóng vai một người phụ kịch, một tên lính, một nô bộc, hoặc một người của ban hợp ca; kế tiếp họ được thăng chức và đóng các “vai đàm thoại”, những vai tṛ khi th́ quan trọng, khi lại vô nghĩa cho đến lúc mà họ rút lui khỏi sân khấu với tư cách của “Prospero”, nhà thuật sĩ.

 

Vấn : Tôi hiểu rồi, bạn nói rằng cái Chân ngă thực sự nầy không thể nào trở lại trái đất sau khi chết. Nhưng người kép hát, nếu c̣n giữ ư nghĩa về cá thể tính của ḿnh, không thể nào được tự do để trở lại sân khấu trong những vai tṛ lúc xưa, nếu họ muốn sao ?

 

Đáp : Chúng tôi xin trả lời rằng không, bởi v́ sự trở lại địa cầu như thế sẽ không thích hợp với trạng thái phúc lạc thanh khiết và vô nhiễm sau sự chết, như tôi sẵn sàng chứng minh. Chúng tôi nói rằng con người chịu đựng quá nhiều đau khổ bất công trong đời sống do lỗi lầm của các người mà họ có dịp cộng tác, do hoàn cảnh của họ, cho nên chắc chắn họ có quyền hưởng sự nghỉ ngơi, yên lặng toàn hảo, nếu không nói là phúc lạc, trước khi gánh vác lại công việc nặng nhọc của cuộc đời. Nhưng chúng ta có thể bàn luận lại các chi tiết về vấn đề đó sau nầy.

 

V̀ SAO THÔNG THIÊN HỌC ĐƯỢC CHẤP NHẬN ?

 

Vấn : Tôi hiểu bạn đến một mức nào đó thôi, và tôi thấy các giáo huấn của bạn rất phức tạp; chúng có phần siêu h́nh nhiều hơn Thần Linh Học hay tư tưởng của các tôn giáo thường. Bạn có thể cho tôi biết rơ v́ sao hiện nay học phái Thông Thiên Học mà bạn giáo huấn lại gây ra biết bao sự chú ư cũng như oán ghét ?

 

Đáp : Tôi nghĩ có nhiều lư do về việc đó và có ghi lại vài điều :

1)- Các giáo sư khoa học đă phản ứng mạnh mẽ với lư thuyết duy vật của họ hiện nay.

2)- Sự bất măn tổng quát gây ra bởi Thần học giả tạo của các giáo đường Cơ Đốc khác nhau và do các môn phái mâu thuẩn nhau càng ngày càng gia tăng.

3)- Sự nhận thức tăng trưởng con người bởi lối phát biểu tín ngưỡng khác biệt chẳng những chúng thiếu sự ḥa hợp mà c̣n mâu thuẫn nhau rơ rệt. Vậy, không thể là sự thật được, và hy vọng nào không được kiểm soát không thể là thực tại được. Sự ngờ vực tự nhiên nầy do các tôn giáo đă ước định, dẫn khởi và c̣n tăng trưởng khi người ta quan sát sự bất lực toàn vẹn của chúng trong việc giữ ǵn luân lư và thanh lọc xă hội., quần chúng. Tín ngưỡng của nhiều người, và sự hiểu biết của một số ít cho rằng phải có đâu đây một học phái triết lư hay tôn giáo thật khoa học chớ không thể chỉ hoàn toàn thuần lư. Cuối cùng, có lẽ nên t́m đức tin nơi học phái mà các giáo huấn của nó có tính cách tiền sự hơn là tín ngưỡng của thời đại.

 

Vấn : Nhưng tại sao học phái nầy lại được  công bố đúng  vào thời đại  chúng ta ?

 

Đáp : V́ lúc bấy giờ xét ra thuận tiện như đă được chứng minh bởi sức cố gắng của bao nhiêu sinh viên đứng đắn để đi đến sự phát hiện Chân lư với bất cứ giá nào, và bất cứ nơi nào nó bị che lấp. Do đó các nhà bảo thủ Chân lư được cho phép tiết lộ vài điều. Nếu sự thành lập Hội Thông Thiên Học để trể lại vài năm, th́ phân nửa số dân tộc văn minh sẽ trở thành duy vật quá mức, và phân nửa số dân tộc kia sẽ trở thành người của thần nhân đồng h́nh thuyết  [11] và của hiện tượng luận [12].

 

Vấn : Có nên xem Thông Thiên Học như một sự tiết lộ không ?

 

Đáp : Không nên, ngay đến ư nghĩa về sự biểu lộ mới mẽ và trực tiếp phát tỏa từ các Đấng Cao Cả siêu phàm hoặc siêu nhân loại; nhưng chúng ta chỉ nên xem nó với ư nghĩa của sự “tiết lộ” các Chân lư cổ – rất cổ – cho những người măi đến nay chưa từng biết chúng cũng như chưa am tường sự hiện tồn và bảo thủ của một tri thức cổ thời..

 

Vấn : Bạn vừa nói đến sự “ngược đăi” nếu chân lư đúng như Thông Thiên Học đă tŕnh bày v́ sao nó lại gặp bao nhiêu sự chống đối, và người ta cũng không chấp nhận nó cách tổng quát hơn ?

 

Đáp : Có nhiều lư do khác nhau, trong sôù đó, chúng ta nên nói đến ḷng oán ghét của nhiều người đối với việc được gọi là sự “cải cách”. Tính ích kỷ rất bảo thủ và không thích ai phá rầy sự yên lặng. Nó thích sự dối trá dễ dàng và thoải mái miễn sao sự dối trá nầy không quá đáng hơn là một đại Chân lư đ̣i hỏi phải hi sinh hạnh phúc. Động lực tŕ độn của trí năng thật lớn lao đối với điều chi không hứa hẹn tức khắc một lợi lộc hay ban thưởng nào. Trước hết thời đại chúng ta không được tinh thần hóa và chủ động. Vả lại, ta nên cứu xét về tính cách ít quen thuộc của các giáo huấn Thông Thiên Học, về bản tính phức tạp, khó hiểu của nó và đôi khi c̣n tŕnh bày ngược lại cách giải thích dài ḍng mà các giáo phái thường vướng phải, và cách giải thích sau đă làm suy bại ngay cả sự tín ngưỡng b́nh dân. Nếu chúng ta thêm vào đó, sức cố gắng cá nhân và sự tinh khiết quan trọng trong đời sống mà ta bắt buộc những ai muốn trở thành môn đệ của nhóm bên trong phải tuân thủ. Kế đến, một ít người mà qui tắc luân lư được kêu gọi đến th́ lại thiếu hẳn sự quên ḿnh, vị tha; bạn sẽ thấy rơ lư do Thông Thiên Học tiến triển quá chậm chạp và cực nhọc. Đây chính là triết lư của những người đau khổ, họ đă mất hết hi vọng tự giải thoát khỏi cảnh bùn nhơ của cuộc đời bằng các phương tiện khác. Hơn nữa, lịch sử của bất cứ hệ thống tín ngưỡng hay luân lư nào đều chứng minh cho chúng ta thấy, lúc sơ khởi đều bị ngăn trở bởi mọi chướng ngại do óc bảo thủ và ích kỷ của con người đề xướng : “chiếc vương miện của nhà cải cách quả thật có nhiều gai”. Sự phá vỡ các ngôi nhà cũ kỹ, rêu phong chẳng phải không nguy hiểm. 

 

Vấn : Tất cả điều bạn vừa tŕnh bày có liên quan nhiều hơn với luân lư và triết lư của Hội Thông Thiên Học. Bây giờ bạn có thể cho tôi một ư niệm tổng quát về chính Hội Thông Thiên Học, về mục đích và các điều lệ của Hội không ?

 

Đáp : Người ta không bao giờ giữ chúng bí mật. Bạn cứ hỏi và bạn sẽ được giải đáp.

 

Vấn : Nhưng tôi có nghe rằng chúng bị liên kết bởi lời thệ nguyện ?

 

Đáp : Chỉ trong nhóm nội môn hoặc Bí truyền (Esotérique) mà thôi.

 

Vấn : Tôi cũng có nghe nói rằng, vài hội viên, khi ra khỏi Hội, lại nghĩ ḿnh không c̣n bị ràng buộc với lời thệ nguyện mà họ đă cam kết. Vậy, họ có lư không ?

 

Đáp : Điều nầy chứng tỏ ư niệm về vấn đề danh dự của họ thật bất toàn. Làm thế nào họ có lư được ? Trong tập san Thông Thiên Học (Path: con Đường Đạo), được xuất bản tại Nữu-Ước có tŕnh bày về vấn đề nầy như sau:

“Giả sử có một binh sĩ bị cáo không giữ đúng lời thệ nguyện và đă vi phạm kỷ luật, do đó anh bị giáng  cấp. Tức giận v́ sự trừng phạt mà anh phải gánh chịu, và anh cũng biết trước sự trừng trị như thế nào rồi. Để trả thù vị chỉ huy của ḿnh, quân nhân này đi thông đồng với giặc và cung cấp những tin tức. Anh trở thành tên gián điệp và là một binh sĩ phản bội. Anh nghĩ rằng sự trừng phạt giải kết lời thệ nguyện phải trung thành với nguyên nhân mà anh phục vụ”.

Bạn nghĩ họ có quyền làm như thế không? Họ có đáng được coi như một kẻ vô liêm sĩ, một người hèn nhát không?

 

Vấn : Tôi tưởng đáng thật, nhưng phải chăng có nhiều người lại suy nghĩ khác hẳn?

 

Đáp : Không hề chi. Nếu bạn muốn, chúng ta sẽ bàn lại vấn đề nầy.

                                                             


chương 1. 2.  3.  4.  5.  6.  7.  8.  9. 10. 11. 12. 13. 14. đầu sách. cuốí sách. mục lục. chú thích
 

                                                    CHƯƠNG   III

 

PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH CỦA HỘI THÔNG THIÊN HỌC.

 

CÁC MỤC ĐÍCH CỦA HỘI.

 

Vấn : Các mục đích của Hội Thông Thiên Học ra sao ?

 

Đáp : Khởi thủy, Hội có ba mục đích:

1.    Thành lập một trung tâm Huynh Đệ Đại Đồng giữa nhân loại không phân biệt sắc tộc, màu da, hoặc tín  ngưỡng.

2.    Khuyến khích sự nghiên cứu các kinh sách Aryen và các kinh sách khác, cũng như các tôn giáo và các khoa học trên thế giới; chứng minh sự quan trọng về văn chương cổ Á-Châu nhất là triết lư Bà-la-môn, Phật giáo và Bái-hỏa giáo;

3.    T́m hiểu sâu sa tất cả những trạng thái huyền bí ẩn tàng của Thiên Nhiên, đặc biệt nhất là các quyền năng tâm lư và tâm linh tiềm tàng trong con người. Ba mục đích chính yếu của Hội Thông Thiên Học được tŕnh bày tổng quát như thế.

 

Vấn : Bạn có thể cho tôi biết các điều chỉ dẫn rành rẽ hơn nữa không ?

 

Đáp : Chúng tôi có thể phân chia ba mục đích nầy ra nhiều mệnh đề thật rơ ràng v́ chưng chúng rất cần thiết cho sự giải thích chính xác.

 

Vấn : Chúng ta hăy khởi sự t́m hiểu mục đích đầu tiên. Bạn dùng phương pháp nào để gợi t́nh Huynh Đệ nơi các dân tộc mà tôn giáo, tập quán, tín ngưỡng và cách suy tưởng lại khác biệt nhau như người ta đă biết ?

 

Đáp : Xin bạn cho phép tôi nói thêm về điều dường như bạn không muốn tŕnh bày. Người ta được biết trừ hai di tích về chủng tộc, người theo Bái Hỏa giáo (Persis) và người Do-Thái (Juif), không những chống đối lẫn nhau mà c̣n bị nguy cơ  về nạn phân chia nội bộ nữa. Đặc biệt trường hợp của các quốc gia Cơ Đốc được gọi là văn minh tân tiến. Vậy v́ sao bạn lại ngạc nhiên, và phải chăng mục đích thứ nhứt của chúng tôi có vẻ là một ảo tưởng ?

 

Vấn : Đúng thế ! Nhưng bạn sẽ làm ǵ để chỉnh đốn điều đó ?

 

Đáp : Tôi không phủ nhận sự kiện đó. Nhưng điều cần thiết tôi phải tŕnh bày nhiều về việc loại bỏ các nguyên do khiến cho t́nh Huynh Đệ Đại Đồng trở thành một ảo tưởng trong hiện tại.

 

Vấn : Theo ư bạn, các nguyên do đó ra sao ?

 

Đáp : Trước tiên, do tánh ích kỷ bẩm sinh của nhân loại. Tánh ích kỷ nầy thay v́ bị bứng tận gốc, lại được tăng cường và kích thích hằng ngày đến đổi nó trở thành một thứ t́nh cảm man rợ, bất khả kháng do sự giáo dục của tôn giáo lúc bấy giờ, lối giáo dục nầy có khuynh hướng không những khích lệ t́nh cảm nói trên, mà c̣n bào chữa cho nó nữa. Quan niệm về điều phải và điều quấy của chúng ta hoàn toàn bị sai lạc do sự chấp nhận ư nghĩa Thánh Kinh Do-Thái (Bible juive). Mọi sự hi sinh, đầu đề cho các giáo lư từ ái của Đức Jésus, chỉ trở thành một đề tài lư thuyết để được hùng biện tŕnh bày trên diễn đàn thôi. Trái lại các câu châm ngôn về tánh ích kỷ thực hành của Thánh Kinh Moise, mà Đức Christ đă từng bài bác bằng những lời giảng dạy không hiệu quả lại tự đâm chồi mọc rễ trong đời sống của các quốc gia Tây Phương. “Dĩ oán, báo oán” (oeil pour oeil, dent pour dent), là câu châm ngôn luật pháp đầu tiên của các anh.Vậy, tôi mạnh dạn tuyên bố rằng, chỉ nhờ Thông Thiên Học mới có thể bứng tận gốc Giáo lư nầy, và bao nhiêu Giáo lư khác cũng tàn ác như thế.

 

NGUỒN CỘI CHUNG CỦA CON NGƯỜI

 

Vấn : Xin bạn cho biết v́ sao ?

 

Đáp : Chứng minh giản tiện nhứt là dựa vào luân lư, triết lư, siêu h́nh học và cả khoa học:   

       a/- Tất cả mọi người đều cùng chung một nguồn cội tâm linh và vật chất, đây là giáo huấn chính yếu của Thông Thiên Học.

       b/- V́ nhân loại đều đích thật cùng chung một tinh túy duy nhất, tinh túy nầy là một, vô cùng vô tận, không sáng tạo và hằng cửu, dù chúng ta có dùng danh từ Thượng Đế hay Tạo Hóa cũng vậy. Do đó, không có cái chi có thể cảm nhiễm một quốc gia hoặc một người, mà đồng thời lại không cảm nhiễm tất cả các quốc gia và các người khác. Điều nầy cũng chắc chắn và rơ ràng như việc làm rơi một viên đá xuống hồ, tất nhiên sớm muộn ǵ viên đá cũng làm nước trong hồ chuyển động.

 

Vấn : Đây không phải là lời giáo huấn của Đức Christ, mà là một quan niệm về phiếm thần luận đúng hơn.

 

Đáp : Bạn lầm lẫn rồi. Trái lại, tư tưởng nầy lại thuần lư Cơ Đốc, nhưng không thuộc Do Thái Giáo, v́ thế các quốc gia tuân theo Thánh Kinh có lẽ không thích t́m hiểu các tư tưởng đó.

 

Vấn : Một sự tố giác như thế thật bất công và quá bao quát. Dựa vào đâu bạn đề xướng một chứng cứ như vậy ?

 

Đáp : Các chứng cứ của tôi vừa với tầm hiểu biết. Người ta nói Đức Christ dạy: “Các ngươi hăy thương lẫn nhau” và “Hăy thương kẻ thù nghịch của ngươi”; “v́ chưng nếu ngươi chỉ thuơng yêu những người mà ngươi ưa thích th́ c̣n có chi xứng đáng nữa? Các người Publicains  [13] há không làm như thế chăng? Và, nếu ngươi cứ đón tiếp các bạn bè, anh em ngươi, th́ ngươi có làm chi khác lạ hơn đâu? Các người Publicains há không làm như thế sao? “ Đó chính là những lời của Đức Christ. Trong Khởi Nguyên Thuyết (Genèse) (IX,25 có nói “Chanaan hăy bị nguyền rủa! Chanaan là tôi tớ cho những người phụng sự  các anh em của ḿnh”. Đây là lư do v́ sao các người theo Cơ Đốc Thánh Kinh ưa thích luật của Moise hơn luật bác ái của Đức Christ. Họ thích Cựu Ước kinh v́ nó thỏa măn mọi t́nh cảm; các luật lệ có tính cách xâm chiếm, thôn tính và áp chế đối với các dân tộc mà họ cho c̣n thấp kém. Biết bao trọng tội mà họ phạm phải v́ tin tưởng và bản văn thâm hiểm (nếu được hiểu theo nghĩa đen) của Khởi Nguyên Thuyết! Chỉ nhờ lịch sử mới có thể cho ta một ư niệm, tuy rất xa thực tế.

 

Vấn : Tôi có nghe bạn nói rằng đồng nhất tính về nguồn cội vật chất của chúng ta được chứng minh bởi khoa học, và đồng nhất tính về nguồn cội tâm linh lại do Tôn giáo Minh Triết. Tuy nhiên các người theo học phái Darwin không chứng tỏ được t́nh Huynh Đệ đậm đà.

 

Đáp : Hoàn toàn đúng; và chính điều nầy chứng tỏ sự thiếu sót của các học phái duy vật, và chứng minh các nhà Thông Thiên Học có lư. Đồng nhất tính về nguồn cội vật chất không lay chuyển được các t́nh cảm cao thượng nhất và sâu xa nhất của con người. Vật chất bị thiếu linh hồn và chân linh, nghiă là tinh túy thiêng liêng của nó không thể trực chỉ vào tâm nhân loại; nhưng chỉ có sự đồng nhất tính của linh hồn và chân linh, nghĩa là của con người thực sự và bất tử, như Thông Thiên Học đă tŕnh bày; một khi đă được chứng minh và đă thành lập vào tâm của ta rồi, sẽ dẫn dắt chúng ta tiến rất xa trên con đường thiện tâm, thiện ư, xây dựng t́nh huynh đệ thực sự.

 

Vấn : Nhưng làm như thế Thông Thiên Học giải thích được nguồn cội chung của nhân loại không ?

 

Đáp : Bằng cách chỉ dẫn rằng cội rễ của tất cả bản chất khách quan và chủ quan, cũng như của tất cả cái chi hiện có trong vũ trụ hữu h́nh và vô h́nh, đều đang là, đă là và luôn luôn là một tinh túy tuyệt đối, mà từ đó mọi vật phát tỏa ra và lại phải quay trở về. Triết lư Aryen là thế, và nó chỉ được tượng trưng hoàn toàn trong các môn phái Vệ-Đà và Phật giáo mà thôi. Với mục tiêu được hướng đến nầy, đây là bổn phận của tất cả các nhà Thông Thiên Học ở mọi xứ phải giúp đỡ bằng các phương tiện thực tiễn, để phát triển đường lối giáo dục không môn phái ( l’éducation non-sectaire).

 

Vấn : Vậy qui tắc của Hội Thông Thiên Học khuyên bạn nên thực thi như thế nào? Tôi muốn nói trong phạm vi vật chất .

 

Đáp : Để khêu gợi t́nh huynh đệ giữa các quốc gia, chúng ta phải giúp đỡ sự giao dịch quốc tế trên phương diện nghệ thuật, và các sản phẩm lợi ích trở thành tổng quát hơn. Phải giúp đỡ bằng lời khuyên bảo, bằng tất cả các tin tức mà chúng ta có thể cung cấp, và bằng sự hợp tác với các người có thiện chí  cũng như với tất cả mọi công việc (miễn là, theo như các điều lệ đă ghi thêm, Hội hoặc các “Hội viên” phục vụ nhưng không lănh một lợi lộc nào”). Để tŕnh một trường hợp điển h́nh, thí dụ sự tổ chức của Hội do ông Edouard Bellamy mô tả trong tác phẩm trác tuyệt “Một trăm năm sau”. Ông tŕnh bày rất kỳ diệu về ư niệm Thông Thiên Học trở thành bước đầu tiên để tiến đến sự thực hiện hoàn hảo t́nh huynh đệ đại đồng. Trạng thái sự việc mà ông diễn tả khó có thể thực hiện v́ thiếu thiện chí bởi tính ích kỷ vẫn c̣n, và vẫn tác động nơi tâm con người. Nói một cách tổng quát th́ tính ích kỷ và cá nhân chủ nghĩa đă bị ư niệm cộng đồng trách nhiệm và t́nh huynh đệ tương trợ đánh bại, và kế hoạch về đời sống mà ông tŕnh bày đă làm suy giảm phần nào các nguyên do có khuynh hướng sáng tạo và tăng cường tính ích kỷ.

 

Vấn : Vậy th́, với tính cách là người Thông Thiên Học, bạn sẽ tham gia và cố gắng thực hiện một lư tưởng như thế chăng ?

 

Đáp : Chắc chắn như vậy, chúng tôi đă từng chứng minh bằng hành động. Bạn có biết về các câu lạc bộ  và đảng phái quốc gia được sáng lập lại Mỹ-Châu kể từ lúc tác phẩm của ông Bellamy được xuất bản không ?  Chúng tự minh định một cách rơ rệt, và sau nầy càng ngày càng phát hiện chính xác hơn. Vậy, các câu lạc bộ và đảng phái đó đă được các nhà Thông Thiên Học thành lập. Một trong các câu lạc bộ đầu tiên, câu lạc bộ quốc gia tại Boston (Massachussets), mà vị Chủ-tịch và Tổng Thư kư là nhà Thông Thiên Học, và phần đông hội viên câu lạc bộ cũng là hội viên Hội Thông Thiên Học. Việc thành lập các câu lạc bộ và đảng phái kể trên, chứng minh rơ ràng ảnh hưởng của Thông Thiên Học và của Hội Thông Thiên Học, v́ t́nh Huynh Đệ giữa nhân loại như Giáo lư nầy đă dạy được dùng làm căn bản và nguyên tắc chính yếu. Tuyên ngôn về các nguyên tắc có đoạn: “Nguyên tắc về T́nh Huynh Đệ giữa Nhân loại là một trong các chân lư vĩnh cửu, nguyên tắc nầy điều khiển sự tiến bộ của thế gian, tùy theo đường lối chúng phân biệt bản tính của nhân loại với loài thú “. Có cái chi thực sự Thông Thiên Học hơn điều đó không? Nhưng cũng chưa đủ. Điều cần thiết là phải làm sao thâm nhập vào con người ư niệm, nếu nguồn cội của nhân loại là một th́ cần có một chân lư duy nhất tự biểu lộ trong tất cả các tôn giáo khác nhau – ngoại trừ trong Do Thái Giáo v́ không ai thấy chân lư nầy được tŕnh bày trong Bí Thuật Giáo (Cabale).

 

Vấn : Có thể bạn hữu lư về những  điều liên quan đến nguồn cội chung của các tôn giáo. Nhưng làm thế nào áp dụng t́nh Huynh Đệ trên cơi đời vật chất nầy?

 

Đáp : Trước tiên, tôi xin nói về điều chi có thật trên cơi giới siêu h́nh cũng phải có thật trên cơi giới vật chất. Kế đến, không có cái chi phát sinh nhiều oán thù và chiến đấu hơn là sự dị biệt về tôn giáo. Khi một môn phái tự tin rằng ḿnh là sở hữu chủ của chân lư tuyệt đối, th́ đương nhiên cũng cho rằng các tôn giáo khác dễ bị sai lạc hoặc Aùm Aûnh.

Người ta có thể chỉ cho đồng loại nh́n  thấy, không một giáo phái nào chíếm được trọn cả chân lư, nhưng trái lại tất cả các môn phái tự bổ túc lẫn nhau, và trong các giáo lư phối hợp lại, người ta mới t́m thấy được chân lư trọn vẹn, lẽ dĩ nhiên sau khi đă loại trừ những giáo lư sai lầm; như thế th́ t́nh Huynh đệ thực sự về tôn giáo sẽ được thiết lập. Một lư luận như thế được áp dụng cho thế giới vật chất.

 

Vấn : Xin bạn cứ tiếp tục giải thích.

 

Đáp : Chúng ta hăy lấy một thí dụ: một cây gồm có: rễ, thân cây, nhiều cành và lá. Nhân loại được xem như thế một cách bao quát và họp thành một thân phát xuất từ cội rễ tâm linh; giống như vậy, thân cây có thể được xem như là góp phần vào sự đơn nhất của cây. Nếu người ta làm hư hại thân cây, dĩ nhiên mỗi cành, mỗi lá phải bị ảnh hưởng lây. Nhân loại cũng thế ấy.

 

Vấn : Vâng, nếu bạn phá hư một lá hoặc một cành, bạn không làm hư trọn cả cây sao ?

 

Đáp : Bạn nghĩ rằng khi gây hại cho một người, bạn không gây hại cả nhân loại hay sao? Làm thế nào bạn có thể hiểu được việc đó? Bạn có biết chăng khoa học duy vật dạy rằng một sự hư hại nhỏ gây ra cho cây có thể ảnh hưởng tất cả diễn tŕnh của sự tăng trưởng và của các sự phát triển tương lai của nó? Sự đồng nhất là hoàn hảo, và chính bạn mới lầm lạc. Tuy nhiên, nếu bạn không lưu ư trọn cả thân thể chịu ảnh hưởng về một ngón tay bị dao cắt đứt, và dấu cắt này tác động vào trọn cả thân thể nhắc nhở cho bạn nhớ rằng có nhiều định luật tâm linh khác tác động cho thảo mộc, thú vật cũng như nhân loại; nhưng có lẽ bạn sẽ từ khước sự hiện tồn của các định luật nầy, v́ bạn không chịu nh́n nhận ảnh hưởng của chúng đối với thảo mộc và thú vật.

 

Vấn : Bạn giảng giải về các định luật nào?

 

Đáp : Chúng tôi gọi là: các định luật Nhân Quả. Nhưng bạn không hiểu được ư nghĩa trọn vẹn của nó, nếu bạn không nghiên cứu Huyền Bí Học. Tuy nhiên, thực sự lư luận của tôi được căn cứ vào sự đồng nhất của cây, chớ không giả thuyết về sự hiện tồn của các định luật. Bạn hăy phát triển ư tưởng nầy, bạn hăy áp dụng nó một cách tổng quát, và bạn sẽ thấy trong triết học chân chính mọi hành động vật chất đều nhất thiết kéo theo một hậu quả luân lư và vĩnh cửu. Nếu bạn làm hại một người bằng cách gây ra cho họ một điều đau đớn vật chất và có lẽ bạn nghĩ rằng sự đau đớn đó không thể lan truyền qua người lân cận hoặc cho những người thuộc các quốc gia khác. Trái lại, chúng tôi xác nhận rằng, với thời gian, hiệu quả đó sẽ phát sinh. V́ thế chúng tôi xin xác nhận t́nh cảm huynh đệ do những nhà Đại Cải Cách thuyết giảng và nhất là do Đức Phật và Đức Jésus, chỉ có thể thực hiện được tại địa cầu ngày giờ nào con người hiểu biết và chấp nhận như một chân lư xác định (vérité axiomatique) sự việc người ta không thể gây hại cho một người mà đồng thời lại không gây hại cho chính họ, và cuối cùng c̣n gây hại cho nhân loại.

 

NHỮNG MỤC ĐÍCH KHÁC CỦA CHÚNG TÔI

 

Vấn : Bây giờ xin bạn giải thích cho tôi biết, bạn định thực hiện mục đích thứ nh́ của bạn bằng cách nào?

 

Đáp :  Bằng cách sưu tầm cho thư viện của Trung Tâm Thông Thiên Học tại Adyar-Madras (và do trung gian của Hội viên các Xứ Bộ cho những thư viện địa phương của họ) tất cả các tác phẩm hay mà chúng tôi có thể t́m hiểu về các tôn giáo trên thế giới; bằng cách phổ biến những tài liệu chính xác về triết lư, về truyện tích truyền khẩu, và các thánh truyện cổ, bằng cách truyền bá với tất cả mọi phương tiện thực hành như : phiên dịch, xuất bản những tác phẩm đặc biệt có giá trị, cũng như sưu tập, ghi chép b́nh luận những loại đề tài hoặc khẩu huấn của các nhà uyên bác trong lĩnh vực liên hệ của họ.

 

Vấn : Về mục đích thứ ba: phát triển các quyền năng tâm linh hay tâm lư tiềm tàng trong con người th́ sao?

 

Đáp : Mục đích nầy sẽ được thực hiện nhờ sự truyền bá ở những nơi không thể tổ chức các cuộc thuyết giảng hoặc giáo huấn cá nhân. Bổn phận của chúng tôi là duy tŕ nơi con người các trực giác tâm linh, hầu đối kháng lại sự mê tín, sau khi đă phân tích kỹ lưỡng và chứng minh bản tính phản lư của nó, ngăn trở nó dưới tất cả mọi h́nh thức tôn giáo, khoa học và xă hội; nhất là đánh đổ sự giả dối, như tinh thần tôn giáo môn phái, sự tin tưởng vào các phép lạ hay siêu nhiên. Điều mà chúng tôi phải làm, đó là việc t́m cách thấu đạt, phổ biến  sự hiểu biết các định luật của thiên nhiên; khuyến khích sự học hỏi các định luật nầy v́ chúng chưa được các dân tộc tân tiến hiểu biết, nghĩa là các khoa được gọi là Huyền bí học, chúng được căn cứ vào sự tri thức  thực sự về thiên nhiên chớ chẳng phải vào mê tín, vào một đức tin mù quáng hay uy lực như hiện nay. Nếu người ta quan sát kỹ th́ các thánh truyền hay những mẫu chuyện khẩu truyền b́nh dân, dù đôi lúc chúng có vẻ huyền hoặc, nhưng nó có thể giúp ích cho sự phát giác nhiều bí ẩn quan trọng của thiên nhiên, đă bị thất lạc từ lâu. Bởi thế, Hội cứ theo dơi con đường sưu tầm nầy với hy vọng phát triển lĩnh vực quan sát về khoa học và triết lư.

 

SỰ CAO TRỌNG CỦA  LỜI THỆ NGUYỆN

 

Vấn : Hội có căn cứ vào một hệ thống luân lư đặc biệt nào không ?

 

Đáp : Các nguyên tắc về luân lư vẫn có, được hạn định rơ rệt và thích ứng cho những ai muốn tuân theo. Đây là tinh thần và bản chất  của nền luân lư nhân loại, được trích tập từ các giáo huấn của những bậc đại cải cách trên thế giới. Bạn sẽ t́m thấy trong giáo huấn của Đức Khổng Tử, Đức Zoroastre, Đức Lăo Tử, Kinh Bhagavad Gita, trong lời giảng dạy của Đức Phật Gautama, của Đức Jésus ở Nazareth, trong học thuyết của ông Hillel cũng như của Đức Pythagore, Socrate, Platon và môn phái của các Ngài.

 

Vấn : Nhưng các hội viên của Hội Thông Thiên Học có tuân thủ những huấn giới nầy không? Tôi nghe nói có nhiều mối bất ḥa và tranh luận nghiêm trọng xảy ra trong Hội.

 

Đáp : Đó là lẽ dĩ nhiên, dù người ta có thể cho rằng sự cải cách (dưới h́nh thức hiện tại) thật là tân tiến, các người nam cũng như nữ cần được cải thiện phải có đồng một bản tính về tội lỗi của nhân loại như thuở xưa. Như chúng tôi đă tŕnh bày, các hội viên chân chính muốn làm việc một cách tích cực lại rất ít; có nhiều người thành thật, rất sẵn sàng và cố gắng sống thích hợp với lư tưởng riêng tư của ḿnh và của Hội. Đây là phận sự của chúng tôi phải giúp đỡ, khuyến khích các hội viên, với tư cách cá nhân, chính họ nên cải thiện về phương diện tinh thần, luân lư và tâm linh. Tuy nhiên chúng ta không nên khiển trách khi công tŕnh nầy của các bạn bị thất bại. Để tŕnh bày một cách chính xác hơn, chúng ta không có quyền từ chối thu nhận bất cứ người nào, nhất là những người trong Phái Bí Truyền của Hội mà “người gia nhập kể như được sinh ra lần thứ hai”. Sau lần “tái sinh” nầy, con người thay đổi mới. Nếu một hội viên nào, mặc dù đă lấy danh dự long trọng thốt lời thệ nguyện và nhơn danh chân ngă bất tử của ḿnh, mà vẫn tiếp tục duy tŕ các thói hư, tật xấu thuộc đời sống cũ, và cứ thực hành như thế ngay tại Hội, th́ chắc chắn họ sẽ được khuyên bảo nên xin từ chức hay tự rút lui. Nếu bất tuân họ không tránh được sự sa thải. Chúng tôi áp dụng trong các trường hợp như thế những qui luật nghiêm khắc nhất.

 

Vấn : Bạn có thể kể ra vài trường hợp không?

 

Đáp : Chắc hẳn là được. Trước tiên không một hội viên thuộc công truyền hay bí truyền nào được quyền đem ư kiến cá nhân của ḿnh áp chế ư kiến của một hội viên khác. “Thật không hợp lệ cho bất cứ một hội viên chính thức nào của Xứ Bộ bộc lộ công khai, bằng lời nói hay việc làm sự oán ghét hoặc ưa thích đối với một môn phái, triết lư hay tôn giáo nào. Tất cả mọi giáo phái có quyền hợp pháp để thấy tín ngưỡng của họ được giải bày trước ṭa án của một thế giới công minh và không một hội viên chính thức nào của Hội, trong lúc thừa hành phận sự, lại có quyền thuyết tŕnh các ư tưởng riêng biệt, và các tín ngưỡng môn phái của ḿnh trước một cuộc tập họp các hội viên, trừ phi thính đàn gồm có những người đồng đạo. Sau lời cảnh cáo chính đáng, sự vi phạm qui luật nầy sẽ bị phạt ngưng chức hoặc sa thải”. Đây là một sự thóa mạ Hội. C̣n về điều có liên quan đến phái bên trong hay Bí truyền, đây là các qui tắc được tuyên bố và chấp thuận từ năm 1880; “Không một hội viên nào được phép xử dụng với tính cách ích kỷ một trong các điều hiểu biết mà một hội viên của nhóm đầu tiên hiện nay có một ‘cấp bực’ thượng đẳng hơn đă thông báo lại cho họ, mọi sự vi phạm về qui tắc sẽ bị xử phạt sa thải”. Vả lại, trước khi một điều hiểu biết thuộc về loại nầy được chuyển giao, người muốn nhận phải hứa long trọng không áp dụng vào một mục đích ích kỷ và không tiết lộ nếu chưa được phép.

 

Vấn : Nhưng nếu một người bị sa thải hoặc tự xin ra khỏi phái (bí truyền), họ có được tự do tiết lộ điều chi đă học hỏi hoặc vi bội các điều khoản của lời thệ nguyện, do đó, họ bị liên kết chăng ?

 

Đáp : Dĩ nhiên là không! Sự sa thải hoặc sự từ chức của họ chỉ giải kết họ với sự ràng buộc phải tuân theo vị giáo huấn, và với bổn phận tham dự vào công việc của Hội, nhưng chắc chắn không giải kết họ với lời thệ nguyện tôn nghiêm về việc giữ kín mà họ đă hứa.

 

Vấn : Phải chăng điều đó rất hợp lư và công b́nh ?

 

Đáp : Chắc chắn như vậy. Người nam hay người nữ nào có được chút ít cảm nghĩ về danh dự sẽ hiểu rằng lời thệ nguyện giữ im lặng, dù chỉ liên kết bằng lời hứa danh dự và nhất là,với danh nghĩa của Chân Ngă Thượng Đẳng – vị Thần nội tâm – phải liên kết cho đến lúc chết. Và tuy đă ra khỏi Phái và Hội, không một người nam hay một người nữ có danh dự nào lại mưu tính đả kích, phá hoại một cơ quan, mà đối với nó, họ đă tự liên kết vào.

 

Vấn : Như vậy không phải quá bắt buộc sao ?

 

Đáp : Có lẽ, theo sự  phán xét quá thấp kém về luân lư hiện tại. Một lời thệ nguyện  có ư nghĩa ǵ nếu không liên kết chúng ta với điều đó? Làm sao chúng ta có thể hi vọng nhận được sự hiểu biết bí nhiệm, nếu chúng ta tự ư giải thoát khỏi các lời cam kết đă hứa ?  Có sự bảo đăm tin cậy hay đức tin nào c̣n tồn tại được giữa con người, nếu lời thệ nguyện như thế lại không liên kết chi cả? Vả lại, bạn hăy tin nơi tôi, v́ sau đó định luật bù trừ (Nhân Quả) sẽ xử phạt người nào vi phạm lời cam kết của họ, có lẽ nhanh chóng như sự khinh bỉ của những người có danh dự, và sẽ áp chế họ ngay trong lănh vực vật chất. Cũng như quyển The Path (Con Đường Đạo), mà chúng tôi có đề cập đă diễn tả rất đúng vấn đề nầy:

“Lời thệ nguyện một khi đă được thốt ra, liên kết măi măi một người vào lĩnh vực luân lư cũng như vào thế giới huyền bí. Nếu chúng ta đă vi phạm một lần và đă bị phạt, chúng ta không được tự biện hộ v́ có thể c̣n vi phạm một lần nữa; nếu chúng ta thường tái vi phạm th́ búa ŕu mănh liệt của Định Luật (Nhân Quả) sẽ phản ứng lại chúng ta” (The Path, tháng bảy năm 1889).


chương 1. 2.  3.  4.  5.  6.  7.  8.  9. 10. 11. 12. 13. 14. đầu sách. cuốí sách. mục lục. chú thích
 

CHƯƠNG   IV

     

SỰ LIÊN KẾT GIỮA HỘI THÔNG THIÊN HỌC VÀ MINH TRIẾT THIÊNG LIÊNG

CẢI THIỆN TỰ NGĂ

 

Vấn : Phải chăng Hội của bạn chú ư đặc biệt sự nâng cao luân lư?

 

Đáp : Chắc chắn như thế! Ai muốn trở thành một người Thông Thiên Học phải cố gắng sống một đời sống Minh Triết.

 

Vấn : Nếu như thế th́ tác phong của vài hội viên lại đính chánh đặc biệt qui tắc nầy, như tôi đă lưu ư .

 

Đáp : Đúng như thế. Nhưng điều nầy không thể tránh được nơi chúng tôi cũng như nơi những người Cơ Đốc đă phạm phải điều quấy. Lỗi không do nơi điều lệ và qui tắc của chúng tôi, mà lại do nơi bản tính của nhân loại, dù cho vài Chi bộ công truyền hoặc các hội viên thệ nguyện nhân danh “Chân Ngă Thượng Đẳng” và có một nếp sống mà Thông Thiên Học đă khuyên bảo. Hằng ngày và từng lúc trong đời sống, họ kêu gọi đến cái Ngă Thiêng Liêng để d́u dắt họ trong mỗi tư tưởng cũng như trong mỗi hành động. Một người Thông Thiên Học thực sự phải “thực hành điều chi chính đáng và đi đứng một cách khiêm tốn”.

 

Vấn : Bạn muốn nói chi về điều đó ?

 

Đáp : Điều nầy rất đơn giản : cái Ngă của một người phải quên đi v́ lợi ích cho cái Ngă phức tạp của đồng loại. Bạn cho phép kể lại lời của một người Philalèthe thực sự, hội viên của Hội Thông Thiên Học đă tŕnh bày tư tưởng nầy rất đúng trong tập san Théosophist: “ Điều mà một người cần hiểu trước tiên, là sự tự biết ḿnh. Kế đó, phải t́m hiểu những điều chiếm hữu chủ quan, và dù cho trạng thái linh hồn có bất hảo và suy bại đến đâu, con người cũng có thể chuộc lỗi nếu biết khởi sự làm việc một cách nghiêm chỉnh”. Nhưng có được bao nhiêu người hành động như thế? Tất cả mọi người đều muốn làm việc cho sự phát triển và tiến bộ riêng của ḿnh; rất ít người sẵn sàng làm việc cho sự phát triển và tiến bộ của đồng bào. Chúng ta nên kể lại lời của tác giả nầy  một lần nữa: “con người thường bị gạt gẫm và lừa phỉnh : họ cần đập vỡ các tượng thần, vứt bỏ các ngẫu tượng, và chính họ phải bắt tay vào việc; - nhưng thật ra là lời nói thừa; v́ chưng người nào làm việc cho chính ḿnh, th́ tốt hơn không nên làm chi cả. Đúng ra họ nên làm việc cho đồng bào, cho toàn thể. Mỗi hoa t́nh thương và từ thiện mà con người trồng được trong thửa vườn của Nhân Loại sẽ nẩy nở như đóa hoa hồng. Các Thánh kinh và tôn giáo giải bày rơ ràng vấn đề nầy; nhưng những người có tà tâm làm sai lệch trước tiên, cuối cùng chúng phải suy yếu v́ bị duy vật hóa để rồi mất hết ư nghĩa tốt đẹp. Người ta không cần một sự tiết lộ mới, mà mỗi người phải là một sự tiết lộ riêng biệt. Khi chân linh bất tử của con người chiếm hữu được thánh điện của thể xác, và khi họ đă xua đuổi được tất cả điều chi ô trược, th́ lúc đó chính cái phần thiêng liêng riêng biệt của nhân loại sẽ cứu rỗi họ; v́ chưng khi được hợp nhứt với chính ḿnh, con người sẽ trực nhận được vị “kiến trúc sư của Thánh Điện”.

 

Vấn : Tôi nh́n nhận đây là ḷng nhân từ thuần khiết.

 

Đáp : Vâng. Chỉ cần có một hội viên trong số mười người của Hội Thông Thiên Học thực hành ḷng nhân từ để chúng ta thực sự trở thành một nhóm người trúng tuyển. Nhưng, trong số ở ngoài Hội, c̣n có những người luôn luôn từ khước nh́n nhận sự sai biệt chính yếu giữa Thông Thiên HoÏc và Hội Thông Thiên Học, giữa tư tưởng và môi vật không toàn hảo. Các người đó sẽ qui tội lỗi và sai lầm của môi vật, thuộc xác thân của nhân loại cho chân linh thuần khiết trong khi nó ban răi vào môi vật nầy ánh sáng thiêng liêng. Phải chăng là sự tự chứng tỏ luật công bằng đối với điều nầy và điều kia?  Không, đó là việc ném viên đá vào một hiệp hội để cho sự cố gắng, trải qua các khó khăn lớn lao nhất tự nâng cao lên, xứng đáng với lư tưởng mà nó truyền bá cho thế gian. Các người này sỉ nhục Hội Thông Thiên Học bởi v́ Hội dám đem thực hiện điều mà các giáo phái khác, nhất là Cơ Đốc Giáo của Giáo đường và của Quốc gia, không thể nào thực hành được, dĩ nhiên các người khác sỉ nhục Hội, v́ họ muốn giữ vững t́nh trạng hiện tại; đó là các người “Pharisiens” [14] và “Sadducéens” [15] trên diễn đàn của Moise, người “publicains” và những người tội lỗi trong hàng cao sang như vào thời của Đế Quốc La-Mă suy vi. Vào mọi trường hợp, các nhà trí thức chân chính nên nhớ rằng, trong thế giới mà các khả năng có tính cách tương đối, người đă đem hết sức ḿnh cũng bằng như đă hoàn tất được nhiều nhất. Đây là một chân lư tầm thường, một định lư cho những ai đă tin tưởng vào Phúc Âm, được chứng minh bởi câu ngụ ngôn của Đức Thầy (Đức Jésus) nói về các tài năng: Người phụng sự nào tăng gấp hai tài năng của ḿnh, y cũng sẽ được ban thưởng nhiều như người phụng sự khác đă nhận được tất cả năm tài năng. Mỗi người sẽ được trao tặng tùy theo khả năng của ḿnh”.

 

Vấn : Nhưng trong trường hợp nầy rất khó phân biệt giữa điều chi trừu tượng và cụ thể; vậy th́, chúng ta chỉ có thể xét đoán theo điều sau mà thôi.

 

Đáp : V́ sao bạn lại nêu ra một ngoại lệ cho Hội Thông Thiên Học? Sự công bằng, cũng như từ thiện, phải phát khởi tự nơi tâm. Bạn không khinh rẻ cũng như không chế nhạo “Bài thuyết pháp trên Núi” (Sermon sur la Montagne), bởi đến ngày nay, các định luật xă hội, chánh trị cũng như tôn giáo của bạn không thành công để áp dụng lời giáo huấn của Ngài (Đức Jésus); không những chúng ta phải theo đúng tinh thần, mà phải hiểu trọn ư nghĩa. Bạn hăy hủy bỏ lời thệ nguyện nơi Ṭa Án, Quân Đội, Quốc Hội và mọi nơi khác, bạn hăy làm như người Quakers  [16], nếu bạn muốn xứng đáng là một tín đồ Cơ Đốc giáo, bạn hăy phá bỏ các ṭa án, v́ rằng bạn muốn tuân theo các giới luật của Đấng Christ, bạn phải tặng chiếc áo của bạn cho kẻ nào lấy của bạn chiếc áo. Bạn hăy đưa thêm má trái nếu người ta đánh vào má phải của bạn. “Chớ nên kháng cự kẻ nào hại ngươi; hăy thương yêu kẻ nghịch thù cũng như chúc lành cho kẻ nào nguyền rủa ngươi, phải làm điều thiện cho ai oán ghét ngươi”; v́ chưng “ai đă vi phạm một điều nhỏ trong giới luật đó, và ai đă dạy cho người khác vi phạm chúng, sẽ bị xem như thấp kém nhất trong Thiên Quốc”; và “ai nói: Điên khùng sẽ bị xử phạt nơi hỏa ngục”. Và v́ sao bạn lại phán xét, nếu bạn muốn không bị phán xét trở lại? Khi nhấn mạnh về sự kiện không có điểm sai biệt giữa Thông Thiên Học và Hội Thông Thiên Học, bạn đă tŕnh bày học phái và tinh túy của Cơ Đốc Giáo, cùng với các sự tố giác hay tuyên bố về chúng một cách nghiêm trọng hơn.

 

Vấn : Tại sao lại nghiêm trọng hơn ?

 

Đáp : Bởi v́, trong khi thủ lănh của phong trào Thông Thiên Học nh́n nhận hoàn toàn các khuyết điểm, và tận lực sửa chữa những điều quấy hiện có trong Hội – mà các qui luật và điều lệ được dẫn khởi bởi tinh thần của Thông Thiên Học – th́ các nhà Lập pháp và các Giáo Đường của những Quốc Gia và những xứ theo Cơ Đốc Giáo đều làm trái ngược lại. Các nhà Thông Thiên Học Tây Phương gặp phải bao nhiêu điều khó khăn để duy tŕ một đời sống thực sự minh triết, v́ tất cả đều là con của thế hệ nầy. Mỗi người có thể là tín đồ của Cơ Đốc Giáo, họ được sinh ra và nuôi dưỡng theo lề lối của Giáo Đường, cũng như theo các tập quán xă hội hay các luật lệ nghịch lư tùy hoàn cảnh của họ. Đây là điều mà mỗi người đă hấp thụ trước khi trở thành nhà Thông Thiên Học hoặc đúng hơn là hội viên của Hội Thông Thiên Học. Bởi thế, người ta không ngớt lập lại, hiện có một sự sai biệt quan trọng nhất giữa lư tưởng trừu tượng và môi vật của nó.

 

TRỪU TƯỢNG VÀ CỤ THỂ

 

Vấn : Xin bạn giải thích rơ ràng hơn sự sai biệt nầy ra sao ?

 

Đáp : Hội là một cơ quan rộng răi gồm có các người nam và nữ đă hợp tác bởi các yếu tố dị biệt nhất. Theo ư nghĩa trừu tượng, Thông Thiên Học là Minh Triết Thiêng Liêng, hoặc sự kết hợp của trí thức và minh triết; chúng là nền tảng của vũ trụ đồng nhất về ĐIỀU THIỆN vĩnh cửu. Theo ư nghĩa cụ thể, Thông Thiên Học là sự tổng hợp của điều thiện mà thiên nhiên đă ban cho con người ở dăy Địa Cầu nầy. Vài hội viên t́m cách thực hành Thông Thiên Học theo cách nghiêm chỉnh trong đời sống, nghĩa là làm cho Thông Thiên Học trở thành khách quan; c̣n các người khác chỉ thích t́m hiểu hơn là thực hành. Có vài người gia nhập Hội do tánh hiếu kỳ, hoặc do một lợi lộc tạm thời; v́ họ có vài bạn thân đă tham gia vào Hội. Lúc ấy, làm sao người ta có thể phán đoán được học thuyết minh triết qua những người mang danh là nhà Thông Thiên Học nhưng không tiêu biểu được giáo lư nầy. Vậy người ta có phán đoán được thi ca và nàng thơ qua những cá nhân tự xưng là thi sĩ mà thi phẩm của họ lại làm nhức tai ta chăng?  Cũng giống như thế, Hội Thông Thiên Học không thế nào được xem như là việc cá nhân hóa Thông Thiên Học dưới h́nh thức những lư do trừu tượng; Hội không kỳ vọng vào môi vật cụ thể mà sự bất toàn và hèn yếu của nhân loại c̣n tồn tại trong ḷng nó; bằng không, Hội chỉ lập lại điều sai lầm và các tội phạm thánh rơ rệt ở những nơi tự xưng là giáo đường của Đấng Christ. Để áp dụng sự so sánh Đông Phương, Thông Thiên Học được xem như là đại dương vô bờ bến của Chân lư, của t́nh thương và minh triết phổ quát, nó phản chiếu ánh vinh quang rực rỡ xuống Địa Cầu; c̣n Hội Thông Thiên Học chỉ là một cái bọt hữu h́nh của sự phản chiếu đó. Thông Thiên Học là bản tính nhân loại tự cố gắng hướng về Từ Phụ Thiêng Liêng. Cuối cùng, Thông Thiên Học là vầng Thái Dương bất động, vĩnh cửu, Hội Thông Thiên Học là chiếc sao chổi thoáng qua đang t́m cách định trú vào một quỹ đạo hầu trở thành một hành tinh, và để quây luôn luôn trong ṿng hấp lực của mặt trời chân lư. Hội được thành lập để chứng minh cho con người thấy c̣n có Thông Thiên Học để giúp đỡ họ tự hướng thượng bằng sự học hỏi và đồng hóa các chân lư vĩnh cửu.

 

Vấn : Phải chăng bạn từng nói bạn không có tín điều hay giáo lư riêng biệt?

 

Đáp : Thật vậy, chúng tôi không có tín điều hay giáo lư, Hội không có một sự minh triết riêng tư nào để bảo vệ hoặc giáo huấn. Hội chỉ đơn giản là nơi tích lũy tất cả Chân lư đă được các bậc có huệ nhăn, các bậc được điểm đạo và các nhà tiên tri của những thời đại lịch sử và tiền sử đă từng công bố – ít nhất tất cả điều chi thuộc các Chân lư mà nó có thể thu thập được. Hội chỉ đơn giản là con đường mà nhờ đó được ban rải một phần nhiều hay ít Chân lư đă t́m thấy trong các giáo huấn tích lũy bởi những nhà Đại Giáo Chủ của nhân loại.

 

Vấn : Người ta không thể hoạch đắc Chân lư này ngoài Hội Thông Thiên Học hay sao ? Tất cả mọi Giáo Đường đều tự cho rằng đă chiếm hữu được Chân lư đó ?

 

Đáp : Không chắc hẳn. Sự hiện tồn không thể chối căi của vài bực đắc đạo – những người “con của Thượng Đế” thực sự – chứng minh rằng c̣n có những cá nhân sống đơn độc đă đạt được sự minh triết nhưng luôn luôn vào lúc ban sơ đều nhờ sự hướng dẫn của một Đấng Chân Sư. Nhưng phần đông các vị đệ tử nầy, đến phiên ḿnh trở thành Sư Phụ, đă làm giảm bớt phổ quát tính các giáo huấn đó để làm chúng thích hợp với tín điều eo hẹp và môn phái của ḿnh. Vậy, các lời giáo huấn của vị Sư Phụ duy nhất đă chọn lựa phải được tuân thủ và noi theo ngoài các lời giáo huấn khác; nên ghi nhớ rơ như trường hợp “Bài thuyết pháp trên Núi”. Mỗi tôn giáo là một phần của Chân lư thiêng liêng và trở thành trung tâm mà nơi đây lại chiếu rọi cái toàn cảnh rộng răi và sự ngông tín của nhân loại được tự hào đă tượng trưng và thay thế cho Chân lư.

 

Vấn : Nhưng bạn nói Thông Thiên Học không phải là một tôn giáo ?

 

Đáp : Thật vậy, Thông Thiên Học không phải là một Tôn Giáo mà là tinh túy của các Tôn giáo và là Chân lư tuyệt đối mà chỉ một giọt thôi cũng đủ làm nền tảng cho mỗi tín ngưỡng. Để dùng làm ẩn dụ ta có thể xem Thông Thiên Học, tại thế gian nầy, là ánh sáng trắng của quang phổ mặt trời,và mỗi Tôn giáo chỉ là một trong bảy màu sắc do lăng kính phát ra. Mỗi tia sáng nhuộm màu, không nhận ra được các tia sáng khác và tuyên bố rằng chúng là giả tạo, không những lầm tưởng rằng nó chiếm ưu thế mà c̣n xác định rằng nó chính là ánh sáng trắng nầy, và v́ lư do đó, lại kết án các biến sắc (nuances) riêng biệt của ánh sáng trắng, từ màu lợt đến màu đậm, như là bao nhiêu tà thuyết. Tuy nhiên, cũng như mặt trời Chân lư là một luôn luôn cao hơn chân trời tri giác của loài người, và cũng như mỗi tia sáng nhuộm màu tàn tạ lần lần và cuối cùng tiêu tan, nhân loại sau rốt sẽ không c̣n bị phiền nhiểu bởi các sự phân quang giả tạo và sẽ được thấm nhuần trong ánh sáng thái dương thuần khiết không màu sắc của Chân lư vĩnh cửu. Chân lư đó là Théosophia (Thông Thiên Học --Minh Triết Thiêng Liêng).

 

Vấn : Bạn tin tưởng rằng tất cả các đại tôn giáo đều xuất phát từ nền Minh Triết Thiêng Liêng, và khi tự đồng hóa với Thông Thiên Học th́ thế gian sẽ được giải thoát khỏi tai ách của các đại ảo tưởng và sai lầm.

 

Đáp : Đúng vậy. Chúng tôi xin nói thêm rằng Hội ThôngThiên Học của chúng tôi là hạt giống khiêm tốn, nếu được người ta vun tưới và để cho sinh sống, cuối cùng sẽ phát sinh cây Tri Thức về Thiện Aùc, được tháp vào cây Trường Sinh. Chỉ khi nào ta nghiên cứu các đại Tôn Giáo và triết lư khác biệt của nhân loại, và khi ta so sánh chúng không thiên vị và vô tư, th́ ta mới có thể hi vọng được Chân lư. Nhất là bằng cách phát minh và ghi chú các điểm tương đồng của Tôn giáo, người ta mới đi đến kết quả nầy. Thực sự, khi vừa nói thâm nhập được ư nghĩa bên trong do bởi sự nghiên cứu hoặc giả bởi sự giáo huấn của những người hiểu biết – người ta sẽ t́m thấy, trong hầu hết mọi trường hợp chúng giải bày đại Chân lư nào đó của Tạo Hóa.

 

Vấn : Chúng tôi có nghe nói về một Thời Đại Hoàng Kim (Age d’or) đă hiện tồn rồi, những điều bạn diễn tả phải chăng là một Thời Đại Hoàng Kim cần được thực hiện trong tương lai? Lúc nào nó sẽ đến ?

 

Đáp : Không thể đến trưóc lúc mà nhân loại được nhận xét toàn diện. Một câu châm ngôn của tác phẩm Ba-Tư “Javidan Khirad” có nói: “Chân lư có hai loại: một loại minh bạch và tự nó hiển nhiên; loại kia đ̣i hỏi luôn luôn có nhiều sự chứng minh và bằng cớ mới mẻ”.  Thời Đại Hoàng Kim  hưng thịnh chỉ khi nào loại  Chân lư thứ nh́ trở thành hiển nhiên đối với mọi người, cũng như  ngày nay c̣n tối tăm; do đó mối nguy cơ là bị những người ngụy biện làm sai lạc. Chỉ lúc nào hai loại Chân lư nầy được quay về điểm đơn nhất đầu tiên, th́ tất cả mọi người sẽ có cái khuynh hướng nh́n thấy giống nhau.

 

Vấn : Nhưng một số ít người thấy nhu cầu về Chân lư như thế, họ không tự quyết định để chấp nhận một tín ngưỡng xác định hay sao ? Bạn đă nói với tôi rằng Hội không có Giáo lư riêng, mỗi hội viên được tự do tin tưởng vào điều họ muốn, và chấp nhận điều họ ưa thích. Có thể giả thiết rằng Hội Thông Thiên Học nhắm vào mục tiêu làm sống lại t́nh trạng hỗn tạp của các ngôn ngữ và tín ngưỡng cổ. Các bạn không có tín ngưỡng cộng đồng hay sao ?

 

Đáp : Khi chúng tôi nói Hội không có tín điều, giáo lư là chúng tôi muốn nói rằng Hội không có Giáo Lư và Tín Điều đặc biệt bắt buộc các hội viên. Nhưng điều nầy chỉ áp dụng cho Hội qua sự nhận xét về phần toàn diện. Như tôi đă nói, Hội được phân ra làm hai phần, phần bên ngoài và bên trong. Những người thuộc về phần bên trong đương nhiên có một triết lư, hoặc, nếu bạn muốn, một học phái tôn giáo riêng của họ.

 

Vấn : Có thể hiểu biết học phái nầy ra sao chăng ?

 

Đáp : Chúng tôi không giấu điều chi cả. Vài năm trước, nó được phác họa trong tập san Theosophist và trong tác phẩm “Phật giáo Bí Truyền” (Le Bouddhisme Esotérique) và dưới một h́nh thức đầy đủ chi tiết hơn  trong tác phẩm “Giáo Lư Bí Truyền” (La Doctrine Secrète), căn cứ vào triết lư cổ nhất của thế gian được gọi là Tôn Giáo Minh Triết (La Religion-  Sagesse) hoặc giáo lư cổ truyền (Doctrine Achaique). Bạn có thể, nếu bạn muốn, đặt câu hỏi và bạn sẽ được giải đáp.

 


chương 1. 2.  3.  4.  5.  6.  7.  8.  9. 10. 11. 12. 13. 14. đầu sách. cuốí sách. mục lục. chú thích
 

CHƯƠNG  V

 

CÁC GIÁO HUẤN CĂN BẢN CỦA THÔNG THIÊN HỌC

THƯỢNG ĐẾ VÀ LỜI CẦU NGUYỆN

 

Vấn : Bạn tin có Thượng Đế không ?

 

Đáp : Tùy bạn muốn hiểu danh từ này ra sao .

 

Vấn : Tôi hiểu là Thượng Đế của các người Cơ Đốc Giáo, là Đức chúa Cha của Đức Jésus, là Đấng Sáng Tạo, là Thượng Đế của Moise và của Thánh kinh (Bible), tóm tắt như thế.

 

Đáp : Chúng tôi không tin nơi một Thượng Đế như vậy. Chúng tôi từ khước ư niệm về một Thượng Đế cá nhân, ngoài vũ trụ và thần nhân đồng h́nh (anthropomorphe), Ngài chỉ là h́nh bóng khổng lồ của con người và Ngài lại không tượng trưng được cái chi tốt đẹp nhất trong con người. Chúng tôi nói có đủ chứng cớ để biện minh rằng Ngài là một bất khả năng tính hợp lư. V́ thế tại sao chúng tôi không muốn nh́n nhận Ngài.

 

Vấn : Bạn hăy tŕnh bày những lư lẽ của bạn.

 

Đáp: Lư lẽ có nhiều, và người ta không sao dự định được tất cả.Nhưng có thể kể ra một vài. Thượng Đế nầy được các tín đồ gọi là vô tận và tuyệt đối, có phải như thế chăng ?

 

Vấn : Tôi tưởng như thế.

 

Đáp : Vậy th́! Nếu Ngài là vô tận nghĩa là vô giới hạn, và nhất là tuyệt đối, làm sao Ngài có thể mang một h́nh hài và là Đấng Sáng Tạo của bất cứ cái chi ? Một h́nh hài hàm súc một sự hạn chế, một khởi điểm cũng như kết thúc; và muốn sáng tạo cần phải có một Đấng suy tưởng và hành động theo một kế hoạch. Làm sao người ta có thể tưởng tượng được cái TUYỆT ĐỐI suy tưởng, nghĩa là liên lạc với một cái chi đó bị giới hạn, hạn định và có điều kiện?  Thật là vô lư trên phương diện triết lư cũng như  luân lư, ư tưởng nầy cũng không chấp nhận bởi Bí Thuật Giáo Hi-ba-lai (La Cabale Hébraique), làm cho Nguyên Lư Thiêng Liêng Tuyệt Đối thành một Đơn Nhất vô tận, gọi là Ain-Soph  [17]. Muốn tạo tác, Đấng Sáng Tạo phải trở thành linh động, và v́ điều đó không thể có được đối với cái TUYỆT ĐỐI, người ta phải tŕnh bày cái nguyên lư vô tận trở thành cái nguyên nhân của sự tiến hóa một cách gián tiếp (chớ không phải của sự sáng tạo), nhờ sự phát tỏa của các Séphiroth ra khỏi chính nó (đây là một sự vô lư khác, mà lần nầy ta phải qui vào các phiên dịch viên của Cabale).

 

Vấn : Nhưng làm sao bạn có thể giải thích được người Bí Thuật Giáo (Cabalistes) tuy không thay đổi phẩm cách, có thể tín ngưỡng vào Jéhovah hoặc Tứ Tự (Tétragramme) ?

 

Đáp : Họ có thể tin tưởng vào điều chi mà họ ưa thích; sự tín ngưỡng hay vô tín ngưỡng của họ sẽ không thay đổi chi hết một sự kiện tự nó rơ ràng. Các Thầy Tư (les Jésuites) có thể nói với chúng ta rằng hai lần hai không nhất thiết là bốn, và 2x2=5, nếu Thượng Đế muốn như thế. Phải chăng là một lư lẽ để chấp nhận lối ngụy biện của họ ?

 

Vấn : Vậy các bạn là những người Vô Thần (Athées) ?

 

Đáp : Chúng tôi không biết, ít ra h́nh dung từ “Vô Thần” không áp dụng cho tất cả những ai không tin tưởng vào một Thượng Đế thần nhân đồng h́nh (Dieu anthropomorphe). Chúng tôi tín ngưỡng nơi một Nguyên Lư Phổ Quát và Thiêng Liêng, cội rễ của TOÀN THỂ, nơi mà tất cả đều phát sinh ra và nơi đó tất cả sẽ bị thu hút về lúc cuối cùng của đại chu kỳ Bản Thể.

 

Vấn: Nhưng đó lại là kỳ vọng rất cổ của Phiếm Thần Giáo (Panthéisme)  [18]. Nếu bạn  là người  Phiếm  Thần  Giáo  (Panthéistes) ,  bạn  không  thể  là người  Tự Nhiên  Thần  Giáo (Déistes);  và nếu bạn không phải  là người  Tự Nhiên Thần Giáo, th́ bạn phải tự gọi là người Vô Thần.

 

Đáp : Không  nhất  thiết  như  thế. Danh từ  Phiếm Thần Giáo  c̣n  là  một  trong nhiều danh từ  được  dùng  không đúng, và ư nghĩa nguyên thủy thật sự bị sai lạc bởi thành kiến mù quáng. Nếu bạn chấp nhận ngữ  nguyên Cơ Đốc của chữ là do chư ơ “toàn thể”, và chữ “thần”; nếu bạn tưởng tượng và giảng giải rằng chữ phức tạp đó có nghĩa là một viên đá và mỗi cây trong Thiên Nhiên là một Thượng Đế, hoặc Thượng Đế Duy Nhất, dĩ nhiên bạn hữu lư. Bạn biến các người Phiếm Thần Giáo thành các người chiêm ngưỡng ngẫu tượng. Nhưng bạn  sẽ thành  công ít dễ dàng hơn, nếu bạn biết ngữ nguyên bí truyền của chữ ‘Phiếm Thần Giáo” như chúng tôi đă giải thích.

 

Vấn : Bạn định nghĩa ra sao?

 

Đáp : Bạn cho phép  tôi  đặt ra  một câu hỏi. Bạn hiểu nghĩa  Phiếm  (Pan), hoặc Thiên Nhiên ra sao không ?

 

Vấn : Tôi  tạm  cho  rằng  Thiên  Nhiên  là  tổng hợp  các sự vật  hiện tồn xung quanh chúng ta; là kết tinh của các nguyên nhân và hiệu quả trong thế giới vật chất, sáng tạo hoặc vũ trụ.

 

Đáp : Do đó,  phải chăng  tất cả tổng số cá nhân hóa của những nguyên nhân và hiệu quả  được hiểu biết, tổng số các năng lực, động lực  hữu hạn không liên lạc chi cả với một Đấng Sáng Tạo hay với các Đấng Sáng Tạo thông minh, và có lẽ được “ nhận thức như  là sự  cấu thành  một động lực  riêng biệt duy nhất ”, theo định nghĩa trong Bách khoa Toàn thư của bạn.

 

Vấn: Tôi giả sử quả là như thế.

 

Đáp: Vậy th́ ! chúng tôi không kể đến bản tánh khách quan và vật chất, mà chúng tôi gọi là một ảo tưởng giả tạo, chúng tôi cũng không muốn hiểu chữ Thiên Nhiên, theo ư nghĩa chữ chuyển hóa thông dụng la-tinh Natura(trở thành, do chữ nasci, sanh ra). Khi chúng tôi nói về Thần Tính (Déite) và cho là sự đồng nhất, như vậy đồng hiện tồn với Thiên Nhiên, đó là chúng tôi nói về Thiên Nhiên vĩnh cửu, hồn nhiên, chứ không phải là những kết tinh của h́nh bóng giả tạm, hăo huyền và hạn định. Chúng tôi giao cho các vị viết Thánh ca gọi trời hữu h́nh, hoặc bầu trời là ngai vàng của Thượng Đế, và trái đất của chúng ta là bùn. Thật ra THIÊN TÍNH của chúng ta không ở tại thiên đàng, cũng không ở trong bất cứ một cây, một nhà hay một núi riêng biệt nào, mà nó ở khắp mọi nơi, trong tất cả mọi nguyên tử của Đại Vũ Trụ hữu h́nh hoặc vô h́nh, cũng như trong tất cả mơâi phần tử khả phân, v́ nó là quyền năng bí mật của sự tiến hóa, là tiềm năng tính sáng tạo, toàn năng toàn giác.

 

Vấn : Bạn hăy dừng lại ! Sự toàn giác là đặc quyền của cái chi suy tưởng, và bạn lại từ khước không cho cái Tuyệt Đối của bạn có quyền năng suy tưởng.

 

Đáp : Chúng tôi từ khước cái TUYỆT ĐỐI, v́ tư tưởng bị giới hạn và điều kiện hóa. Nhưng bạn quên rằng khi nói về triết lư th́ sự vô tâm thức tuyệt đối lại cũng là tâm thức tuyệt đối, nếu khác hơn, sẽ không c̣n là tuyệt đối nữa.

 

Vấn: Vậy th́ cái Tuyệt Đối của bạn suy tưởng ?

 

Đáp: Không, nó không có sự suy tưởng, v́ lư do giản tiện chính nó là Tư Tưởng Tuyệt Đối. Nó cũng không hiện tồn, bởi v́ nó là sự hiện tồn tuyệt đối, Bản Thể-té (l’Etre-té)  [19], chớ không phải là một Bản Thể. Bạn hăy đọc bài thi ca Bí Thuật Giáo tuyệt diệu của Salomon Ben Johudah Gabriol, trong quyển Kéther Malchut, và bạn sẽ hiểu rơ: “Người là một, cội rễ của tất cả mọi con số, chớ không phải là yếu tố dùng để đếm; v́ chưng đơn nhất tính  không hề chấp nhận sự tăng bội, sự thay đổi. Người là một, và những người khôn ngoan nhất trong nhân loại bị ch́m đắm trong Đơn nhất tính bí mật của Người không hề suy giảm hay tăng gia, và không hề bị thay đổi. Người là một, và không một tư tưởng nào có thể qui định cho Người một giới hạn và cũng không thể định nghĩa được Người. Người HIỆN TỒN, nhưng không phải như một bản thể, v́ trí tuệ và thị lực của loài người không thể đạt được sự hiện tồn của Người, cũng như qui định giúp Người ở nơi nào, v́ sao và tại sao” .v . v . .Tóm lại, Thiên Tính của chúng ta là vị kiến trúc sư vĩnh cửu của vũ trụ - một kiến trúc sư tiến hóa không ngừng nhưng chẳng sáng tạo; và vũ trụ không tự lập ra, nhưng lại tự phát triển bằng cách nở ra khỏi tinh túy riêng biệt của nó. Theo biểu tượng học, đó là một viên h́nh không có ṿng tṛn, nó chỉ là một đặc tính luôn luôn động tác gồm có tất cả các đặc tính khác hiện tồn hay nhận thức được - nghĩa là CHÍNH NÓ. Đây là định luật duy nhất, cho sự thúc đẩy vào các định luật biểu hiện, vĩnh cửu và bất biến, được chứa đựng trong cái không bao giờ tự biểu hiện, bởi nó là định luật tuyệt đối; trong các thời kỳ biểu hiện là Cái luôn luôn Trở Thành.

 

Vấn : Tôi có nghe một trong các hội viên của bạn lưu ư rằng Thiên Tính Phổ Quát, ở khắp mọi nơi, trong một chén rượu hạnh phúc cũng như trong chén rượu đau khổ, và do đó cũng trong mỗi nguyên tử của tàn thuốc điếu của tôi ! Phải chăng đây là một tội phạm thần ?

 

Đáp : Theo ư tôi th́ không, v́ điều chi hợp lư không thể phạm thần được. Nếu từ một điểm toán học duy nhất của vũ trụ, hoặc từ một vi phần của vật thể, nó choán một khoảng nào đó, chúng ta loại bỏ cái nguyên lư Toàn Tại, làm sao chúng ta có thể cho nó là vô tận được ?

 

LỜI CẦU NGUYỆN CÓ CẦN THIẾT KHÔNG ?

 

Vấn : Bạn có tin tưởng nơi lời cầu nguyện, và bạn có cầu nguyện không ?

 

Đáp : Chúng tôi không cầu nguyện. Chúng tôi hành động thay v́ cầu nguyện.

 

Vấn : Bạn không gởi lời cầu nguyện nào đến với Nguyên Lư Tuyệt Đối sao ?

 

Đáp : Tại sao chúng tôi phải gởi lời cầu nguyện như thế. Chúng tôi có quá nhiều công việc để không c̣n th́ giờ gởi lời cầu nguyện cho một sự trừu tượng thuần lư. Cái Bất Khả Tri không thể có những liên lạc nào khác hơn các thành phần của chúng, nhưng lại không hiện tồn về điều chi liên quan đến các sự giao tiếp có hạn định. Sự sinh tồn và các hiện tượng của vũ trụ hữu h́nh tùy thuộc vào những h́nh hài động tác với nhau và vào các định luật, chớ không phải vào lời cầu nguyện.

 

Vấn : Bạn không tin tưởng ǵ về hiệu quả của lời cầu nguyện sao ?

 

Đáp : Tôi không tin tưởng vào hiệu quả của sự cầu nguyện gồm có việc giải bày vài lời nói nào đó mà người ta lập lại một cách hời hợt bên ngoài, nếu bạn hiểu nghĩa cầu nguyện là như thế để dâng lên một vị Thần bất khả tri. Chính người Do-Thái bày ra loại cầu nguyện nầy và người Pharisiens đă truyền bá.

 

Vấn : Có loại cầu nguyện nào khác chăng ?

 

Đáp : Chắc chắn có. Chúng tôi gọi là lời cầu nguyện của ư chí, và đúng hơn là một giới luật nội tâm, chớ không phải một sự lập lại.

 

Vấn : Và bạn cầu nguyện ai khi bạn gởi lời cầu nguyện như thế ?

 

Đáp : “Cha chúng ta ở trên Trời”, theo ư nghĩa bí truyền của danh từ.

 

Vấn : Ư nghĩa nầy có khác với ư nghĩa của Thần Học chăng ?

 

Đáp : Hoàn toàn khác hẳn. Một nhà Huyền Bí Học hoặc một người Thông Thiên Học gởi lời cầu nguyện đến Cha họ đang ở trên Trời (bạn hăy đọc và nên cố gắng hiểu Kinh Matthieu, VI,V. chớ không phải đến một vị Thần ngoài vũ trụ và hữu hạn. Người “Cha” nầy đang ở trong ta.

 

Vấn : Vậy th́, bạn làm cho con người trở thành một vị Thần ?

 

Đáp : Xin bạn nói “Thượng Đế”, chớ không phải một vị Thần. Theo ư kiến chúng tôi, con người nội tâm là Thượng Đế duy nhất mà chúng ta có thể trực nhận. Làm sao khác hơn được?  Chúng ta hăy chấp nhận định lư cho rằng Thượng Đế là một nguyên lư vô tận, được truyền bá một cách phổ quát; làm sao con người lại không bị thấm nhuần do bởi và trong Thiên Tính (Déité)?  Chúng ta gọi “Cha trên Trời” của chúng ta là cái tinh túy thiêng liêng mà chúng ta trực cảm đang hiện hữu trong tâm và trong ư thức tâm linh của ta. Nó không có một liên quan nào với quan niệm thần nhân đồng h́nh mà khối óc vật chất và sự tưởng tượng của ta có thể tạo thành. “Các người há không biết các người là Thánh Điện của Thượng Đế, và chân linh của Chúa (tuyệt đối) đang ngự nơi các người hay sao?  “Nhưng  chớ nên nhận thức cái tinh túy nầy nơi chúng ta theo ư nghĩa thần nhân đồng h́nh. Không một người Thông Thiên Học nào nên nói “Thượng Đế đang ở nơi bí mật” nghe rơ con người hạn định hay cái tinh túy vô tận hoặc Ngài phân biệt, v́ tất cả đều là một, nếu họ muốn tự liên kết với Chân lư Thiêng Liêng chớ không là Chân Lư của nhân loại. Cũng không nên xem, như chúng tôi vừa lưu ư, lời cầu nguyện như là một đơn thỉnh nguyện. Đúng hơn đây là một điều huyền bí, một phương thức của huyền môn, nhờ đó các tư tưởng và các ham muốn hữu hạn, có điều kiện, mà chân linh tuyệt đối, vô điều kiện không thể đồng hóa, được cải biến thành ư chí tâm linh, và chính đó là ư chí được gọi là sự “biến chất tâm linh”. Chính cường độ nguyện vọng nồng nhiệt của chúng ta biến cải lời cầu nguyện thành “tiên đơn” (pierre philosophale), như sự biến hóa ch́ thành vàng ṛng. Tinh túy đồng tính duy nhất và “quyền năng ư chí” của chúng ta trở thành động lực hoạt bát hay sáng tạo để phát sinh các hiệu quả tùy sự ham muốn của chúng ta.

 

Vấn : Có phải bạn muốn nói lời cầu nguyện là một phương thức huyền môn để phát sinh kết quả vật chất không ?

 

Đáp : Đúng vậy. Quyền năng của ư chí trở thành một quyền năng linh động. Nhưng nguy hại thay cho các nhà Huyền Bí Học và Thông Thiên Học nầy, thay v́ hủy diệt dục vọng của cái ngă hạ đẳng của cá nhân hoặc của con người vật chất, và thay v́ họ nói, khi đề cập đến Chân Ngă Thượng Đẳng và Tâm linh được thấm nhuần trong ánh sáng của Atma-Bouddhi : “Mong ư chí của Ngài được thực hiện, chớ không phải ư muốn của tôi” .v.v.., họ khêu gợi các lượn sóng quyền năng của ư chí  vào  những mục tiêu ích kỷ và vô đạo!  Điều đó chính là tà đạo (magie noire), là một điều khủng khiếp và là một tà thuật tâm linh. Vô phước thay ! đó lại chính là sự bận tâm ưa thích nhất của các nhà Cầm Quyền, các vị tướng Cơ-Đốc, nhất là khi các vị sau nầy đưa ra những đạo quân để giết hại lẫn nhau. Cả hai bên tự cho ḿnh đôi chút tà thuật trước trận chiến đấu bằng cách cả hai đều cầu nguyện cùng một vị Thần Chiến Tranh, và bằng cách, mỗi bên cầu đảo sự trợ giúp của Ngài để giết hại kẻ thù địch.

 

Vấn : Ông David cầu nguyện vị Thần Chiến Tranh trợ giúp ông chiến thắng người Philistin, giết người Syriens, người Moabites  và “Đấng Vĩnh Cửu bảo trợ ông David đến khắp mọi nơi mà ông muốn”. Về việc đó, chúng tôi chỉ tuân theo điều chi chúng tôi t́m gặp trong Thánh Kinh (Bible).

 

Đáp : Dĩ nhiên như thế. Nhưng v́ bạn rất thích, theo như chúng tôi biết, tự gọi là người Cơ Đốc Giáo, chớ không phải người Do Thái, sao bạn không tuân theo lời của Đức Christ? Ngài ra lịnh nghiêm minh cho bạn đừng nên theo các “người xưa”, hoặc luật lệ của Moise, mà phải làm điều chi Ngài đă nói với bạn, và cảnh cáo những ai cầm kiếm sẽ bị chết về nghiệp kiếm cung. Đấng Christ chỉ ban cho bạn một lời cầu nguyện, mà bạn chỉ có một câu cầu nguyện nơi đầu môi và làm thành đề tài để khoe khoang, nhưng một nhà Huyền Môn thực sự không sao hiểu nổi. Khi bạn lập lại theo nghĩa đen câu Ngài ban cho bạn, bạn nói: “Người hăy hoăn nợ cho chúng tôi, cũng như chúng tôi đă hoăn cho các người thiếu nợ chúng tôi”, điều mà bạn không khi nào thực hành. Ngài cũng đă nói với bạn: “Hăy thương yêu kẻ thù nghịch của ngươi, và nên giúp ích cho những kẻ đă oán ghét ta”. Chắc chắn không phải Đấng “Tiên tri hiền lành tại thành Nazareth” (Đức Jésus) đă dạy bảo bạn nên cầu nguyện “Cha” của bạn để giết hại kẻ thù nghịch ḿnh và để giúp cho bạn chiến thắng họ. Bạn đă hiểu v́ sao chúng tôi lại từ khước điều chi bạn gọi là “ lời cầu nguyện”.

 

Vấn: Nhưng bạn làm sao giải thích được sự kiện phổ quát mà tất cả các quốc gia, tất cả các dân tộc đă cầu nguyện và chiêm ngưỡng một hoặc các vị Thần ? Thậm chí vài người lại chiêm ngưỡng và cầu khẩn ma quỉ cùng các chân linh hung ác giúp đỡ họ,nhưng điều đó là chứng cứ phổ quát của tín ngưỡng về sự hữu hiệu của lời cầu nguyện.

 

Đáp: Các sự kiện đó giải thích rằng lời cầu nguyện c̣n có nhiều ư nghĩa khác ngoài ư nghĩa mà người Cơ Đốc đă gán cho nó. Lời cầu nguyện không những là một sự khẩn cầu hoặc một thỉnh nguyện, mà thuở xưa c̣n là một cuộc cầu đảo hay phù chú. Mantra hay lời cầu nguyện của người Ấn Độ được ca hát một cách nhịp nhàng, đúng nghĩa v́ người Bà-la-môn tự xem ḿnh cao hơn các thiên thần bậc thường, hoặc các “Vị Thần”. Lời cầu nguyện có thể là một sự kêu gọi hoặc một phù chú để nguyền rủa, hoặc trù ếm (cũng như trong trường hợp hai đạo quân cầu nguyện cùng một lúc để tiêu diệt lẫn nhau), cũng như một sự chúc phúc. Nhưng, phần đông con người  rất ích kỷ, họ chỉ biết cầu nguyện cho họ mà thôi, họ xin được ban “cho cơm hằng ngày” thay v́ tự kiếm ăn do sức làm việc, họ cầu khẩn Thượng Đế đừng “xui dục cho họ bị cám dỗ” mà nên giải thoát họ (các người thỉnh nguyện) khỏi điều ác, v́ vậy lời cầu nguyện như được hiểu biết ngày nay,thật có hại gấp đôi:

a/ con người không c̣n tự tin nơi ḿnh.

b/ phát triển nơi con người tính ích kỷ c̣n hung bạo hơn họ đă có cách tự nhiên. Tôi xin lập lại, chúng tôi tin tưởng nơi sự “tương ứng” và nhu cầu hành động ḥa hợp với “Cha chúng ta ở trên Trời”, và trong những lúc có được lạc phúc xuất thần, nhờ khả năng hợp nhất chặt chẽ với linh hồn thượng đẳng thu hút về nguồn cội, trung tâm và về cái tinh túy phổ quát – trạng thái được gọi là Samadhi trong đời sống và Niết Bàn (Nirvana) sau khi chết. Chúng tôi từ khước cầu nguyện nơi các bản thể hữu hạn và sáng tạo, nghĩa là nơi các vị thần, thánh, thiên thần, v.v.. bởi v́ chúng tôi xem điều đó như là sự sùng bái ngẫu tượng (l’idolâtrie); chúng tôi không thể cầu nguyện nơi TUYỆT ĐỐI, v́ những lư do đă giải thích rồi; vậy th́ chúng tôi cố gắng thay thế lời cầu nguyện vô ích và hăo huyền bằng hành động xứng đáng để phát sinh điều thiện.

 

Vấn : Người Cơ Đốc Giáo xem như thế là ngạo mạn và phạm thánh. Họ có lư chăng ?

 

Đáp : Đúng vậy. Trái lại, chính họ đă tỏ ra ngạo mạn quá đáng khi tin tưởng rằng cái Tuyệt Đối hoặc Vô Tận – giả thuyết có sự tương quan giữa vô hạn và hữu hạn có thể tự hạ để nghe mỗi lời cầu nguyện hăo huyền, ích kỷ của thế nhân. Chính họ c̣n phạm thánh khi dạy rằng một Thượng Đế Toàn Giác và Toàn Năng cần đến lời cầu nguyện của chúng ta để hiểu biết phải làm cái chi ! Về ư nghĩa bí truyền, điều nầy được xác nhận bởi Đức Phật cũng như  Đức Jésus. Đức Phật dạy: “Các người chớ nên trông cậy vào những vị Thần bất lực, các người chớ nên cầu nguyện ! Tốt hơn hết các người nên hành động, v́ chưng bóng tối không tự sáng tỏ được. Các người chớ nên đ̣i hỏi ở sự im lặng điều chi cả, bởi nó không nói được, cũng không nghe được”. Đức Jésus khuyên bảo: “Tất cả điều chi mà các ngựi cầu xin nhân danh ta (của Christos),ta sẽ làm. Lẽ dĩ nhiên câu nầy, nếu lấy theo nghĩa đen, sẽ trái ngược lại với lập luận của chúng tôi. Nhưng nếu người ta chấp nhận theo ư nghĩa bí truyền và trọn vẹn danh từ “Christos” th́ danh từ đó tượng trưng cho Atma-Bouddhi-Manas. Trên phương diện “NGĂ”, th́ câu trên có ư nghĩa như sau: “Vị Thần duy nhất mà chúng ta phải hành động hợp nhất với Ngài, là chân linh mà thân xác chúng ta là Thánh điện.”

 

CẦU NGUYỆN LÀM GIẢM ĐỨC TIN NƠI TA.

 

Vấn: Nhưng chính Đấng Christ không cầu nguyện và không khuyên bảo ta cầu nguyện hay sao ?

 

Đáp: Khẩu truyền là như vậy; nhưng các lời “cầu nguyện” nầy tùy thuộc chính xác vào sự tương ứng mà chúng tôi vừa nói nghĩa là sự tương ứng với “Cha đang ở trên Trời”. Nói cách khác, khi đồng nhất hóa Đức Jésus với Thiên Tính Phổ Quát (Déité Universelle), th́ kết quả không thể tránh được và quá vô lư v́ ”Chính vị Thần thực sự” sẽ tự ḿnh cầu nguyện, và sẽ phân cách ư chí của vị Thần nầy với ư chí của chính Ngài !

 

Vấn: C̣n một lư luận nữa; lư luận mà vài người Cơ Đốc Giáo thường hay sử dụng. Họ nói : “Tôi cảm thấy không đủ khả năng để chế ngự các dục vọng và tật xấu nhờ sức của riêng tôi. Nhưng, khi tôi cầu nguyện Đức Jésus-Christ, tôi cảm được Ngài ban cho tôi sức mạnh, và nhờ quyền năng của Ngài mà tôi có đủ nghị lực để tự chinh phục tôi”.

 

Đáp: Điều đó không có chi lạ. Nếu Đức Jesus-Christ là Thượng Đế độc lập và cách biệt với cầu nguyện dĩ nhiên tất cả phải là việc có thể đối với vị “Thần quyền uy”. Vậy công lao hoặc sự công bằng của một chiến thắng như thế ở đâu ? Tại sao kẻ chinh phục ngụy tạo lại được ban thưởng do bởi những điều chi đáng giá bằng các lời cầu nguyện?  Là người phàm, bạn có muốn trả ngày lương trọn cho người thợ mà bạn đă làm gần xong công tác, trong lúc họ ngồi vất vưởng trên ngọn cây và chỉ thị cho bạn làm việc thế cho họ không? Ư tưởng nầy trải qua trọn kiếp sốntg của ta do sự lười biếng tinh thần, trong khi để cho kẻ khác làm các bổn phận và công việc cực nhọc nhất cho ta, dù cho họ là một vị Thần hoặc một người.

 

Vấn : Có thể là như thế. Tuy nhiên, tư tưởng về sự tin cậy vào một Đấng Cứu Thế cá nhân trợ giúp, thêm sức mạnh cho ta trong cuộc tranh đấu với đời, là tư tưởng căn bản của Cơ Đốc Giáo thời đại. Sự tín ngưỡng này chắc chắn hữu hiệu một cách chủ quan, nghĩa là những ai tin tưởng như vậy cảm thấy được trợ giúp và tăng sức thực sự.

 

Đáp : Ngoài ra không c̣n nghi ngờ có vài bịnh nhân được chữa trị bởi những nhà “Khoa học trí năng” (Mental scientists)  [20] và những nhà “Khoa học Cơ Đốc”, những người “Phủ nhận” (Négateurs)  [21] cũng đôi khi được lành bịnh. Khoa thôi miên, khoa ám thị, khoa tâm lư học, và đồng bóng, thường hay phát sinh những kết quả tương tự, nếu không nói rất thường. Nhưng ta chỉ xem xét vài trường hợp thành công để rút ra một lư luận th́ không thể cho là đầy đủ được. Bạn nghĩ sao về các trường hợp không thành công mười lần nhiều hơn ? Chắc chắn bạn không có ư định cho rằng những người Cơ Đốc Giáo cuồng tín không nếm sự thất bại, dù họ đă tự phụ bởi đức tin mù quáng.

 

Vấn : Nhưng  làm sao bạn giải thích được các trường hợp thành công hoàn toàn ? Người Thông Thiên Học t́m gặp quyền năng để chủ trị dục vọng và tính ích kỷ ở đâu ?

 

Đáp : Họ t́m thấy quyền năng nầy trong Chân Ngă Thượng Đẳng, trong chân linh thiêng liêng hay vị Thượng Đế trong họ, cũng như trong Nhân Quả (karma). Chúng tôi đă nhắc lại biết bao nhiêu lần người ta nh́n biết cây nhờ trái của nó, biết được nguyên do nhờ hiệu quả?  Bạn nói về sự chế ngự các dục vọng và trở thành chí thiện, do sự trợ giúp của Thượng Đề hoặc Đấng Christ. Chúng tôi xin hỏi: ở nơi nào chúng ta gặp được nhiều nhất người hiền đức, ngây thơ, họ tránh gây tội lỗi, can phạm án mạng? Phải chăng trong Cơ Đốc Giáo hay trong Phật Giáo? Trong các xứ Cơ Đốc Giáo hay trong các xứ ngoại giáo ? Thống kê giải đáp câu hỏi nầy và tăng gia điều chúng tôi nói. Theo sự kiểm tra cuối cùng lập tại Tích-Lan và Ấn Độ, bảng so sánh các trọng tội do những người Cơ Đốc, Hồi Giáo, Ấn Độ Giáo, Eurasiens [22], Phật Giáo, v.v. . phạm phải, trong một dân số độ hai triệu dân chọn lựa t́nh cờ, - bảng so sánh nhiều tội trong nhiều năm – chứng tỏ cho chúng ta thấy tỷ lệ trọng tội do dân số Cơ Đốc phạm phải là 15 đối với 4 nếu ta so sánh với các trọng tội do dân số Phật giáo phạm phải. (Xem Lucifer tháng tư năm 1888, trang 147, chương : “Các giảng viên Cơ Đốc về Phật giáo”). Không một nhà Đông Phương Học nào, không một sử gia danh tiếng nào, không một người nào đă du lịch sang các xứ Phật Giáo, kể từ Giáo Chủ Bigandet và Tu viện trưởng Huc  cho đến Sir William Hunter, không một người có ḷng thành tín nào lại không nh́n nhận tác phong đức hạnh của các người theo Phật giáo. Tuy nhiên, người theo Phật giáo (ít  nữa là những người thuộc môn phái Phật Giáo thực sự của các người Thái Lan) không tin tưởng nơi Thượng Đế và nơi một sự ban thưởng vị lai nào khác hơn là trong cơi thế gian nầy. Họ không khi nào cầu nguyện – các tư tế cũng như các người ngoại đạo. Họ thốt ra một cách lạ lùng: “Cầu nguyện ! nhưng cầu nguyện  ai  và cái chi ?

 

Vấn : Vậy th́ đó chính là các người Vô Thần thực sự ?

 

Đáp : Vô Thần, không chối căi được; nhưng đó cũng là những kẻ thương mến đức hạnh hơn tất cả và họ thực hành đức hạnh hơn mọi dân tộc nào khác trong thế gian. Phật giáo nói:”Anh hăy tôn kính tôn giáo của kẻ khác và anh hăy trung thành với tôn giáo của anh” ; nhưng Cơ Đốc Giáo của Giáo Hội tố giác tất cả các vị Thần của những quốc gia khác như là ma quỉ và muốn xử phạt trầm luân mọi người không thuộc Cơ Đốc Giáo.

 

Vấn : Song các vị tế tự Phật Giáo không làm như thế hay sao ?

 

Đáp : Không khi nào. Họ tuân giữ quá khắc khe câu phương châm khôn ngoan của kinh DHAMMAPADA để không hành động như thế, v́ họ biết rằng: “Nếu một người nào đó có học thức hay không, tự cho ḿnh là bậc vĩ đại và khinh miệt người khác, đều giống như người mù cầm cây nến – họ soi sáng các người khác, nhưng chính họ vẫn bị mù”.

 

NGUỒN CỘI CỦA LINH HỒN NHÂN LOẠI

 

Vấn : Làm thế nào bạn giải thích việc con người được thiên phú cho một Chân Linh và một Linh hồn ? Chúng nó phát sinh từ đâu ?

 

Đáp : Chúng nó phát sinh từ linh hồn phổ quát và chắc chắn không phải là tặng phẩm của một vị Thần cá nhân. Người  ta t́m thấy những phân tố ẩm ướt nơi con sứa. Trong biển cả nó có được bản thân, sinh sống và sẽ trở về đó khi bị tiêu tan.

 

Vấn: Như thế bạn từ khước nh́n nhận điều giáo huấn về Thượng Đế đă ban hoặc truyền Linh hồn vào con người hay sao ?

 

Đáp: Bắt buộc phải như thế. “Linh hồn” được tŕnh bày trong Chương II của Khởi Nguyên thuyết (V.7) là “Linh hồn linh động” hoặc Nephesh (Linh hồn linh hoạt ) mà Thượng Đế (nên gọi là “thiên nhiên” và định luật bất di dịch ) ban cho loài người, cũng như cho loài thú. Không phải Linh hồn suy tưởng hay trí năng, và không phải là Chân linh bất tử.

Vấn: Đúng lắm. Vậy chúng ta nên đặt câu hỏi như thế nầy: phải chăng Thượng Đế ban cho con người một Linh hồn thuần túy và một Chân Linh Bất Tử ?

 

Đáp: Dù bạn có đặt câu hỏi như vậy cũng bị phủ nhận. Chúng ta không đặt tin tưởng vào một vị Thần cá nhân, làm sao chúng ta có thể nh́n nhận rằng Ngài ban cho con người bất cứ điều chi? Nhưng chúng ta hăy giả thuyết rằng có một vị Thần sáng tạo một linh hồn mới cho mỗi trẻ sơ sinh: những điều tŕnh bày này khó cho chúng ta chấp nhận một vị Thần có nhiều Minh Triết và dự tính như thế. Vài điều khó khăn khác, như việc không thể dung hợp động tác sáng tạo riêng biệt nầy với ḷng nhân từ, sự công bằng, vô tư và toàn giác, được qui cho Thượng Đế. Có biết bao nhiêu trở ngại mà tín điều thần học thường hay vấp phải.

 

Vấn: Bạn muốn nói chi ? Và đó là những khó khăn nào ?

 

Đáp: Hiện giờ tôi đang suy nghĩ đến một lư luận không thể biện bác được mà vị sư Phật Giáo Tích-Lan, một nhà thuyết giáo danh tiếng đă xử dụng trước mặt tôi để trả lời cho một nhà truyền giáo Cơ Đốc. Ông nầy không phải là một người dốt nát v́ đang chuẩn bị để thảo luận trước công chúng về đề tài vừa nói. Cuộc tranh luận diễn ra tại Colombo, nhà truyền giáo đă thách đố vị tư-tế Megattivati chứng minh v́ sao các người “ngoại đạo” (paiens) lại không chấp nhận vị Chúa của người Cơ Đốc giáo. Cũng như việc thường xảy ra trong trường hợp tương tự, nhà truyền giáo bị thua trong cuộc bàn căi sôi nổi.

 

Vấn: Tôi muốn biết v́ sao lại thế ?

 

Đáp: Vị sư Phật giáo chất vấn nhà truyền giáo v́ sao Chúa đă ban cho Moise các giới điều mà con người phải tôn kính, nhưng chính Chúa lại vi phạm. Nhà truyền giáo từ khước việc nầy một cách giận dữ. Vị sư nói: “Tốt lắm! Ông bảo rằng Chúa không nhận một ngoại lệ nào, và không một Linh hồn nào sinh ra ngoài ư chí của Ngài. Trong bao nhiêu điều khác, Chúa cấm ngoại t́nh, nhưng bạn lại nói chính Ngài sáng tạo mỗi đứa trẻ sơ sinh rồi ban cho nó một Linh hồn. Như vậy hàng triệu đứa trẻ đă sinh ra bởi tội trọng ngoại t́nh là công nghiệp của Chúa hay sao ? Chúa của ông ngăn cấm và trừng phạt sự vi phạm các định luật của Ngài, tuy nhiên Ngài lại sáng tạo hằng ngày, hằng giờ những linh hồn dành riêng cho các đứa trẻ như thế sao? Theo lư luận sơ đẳng nhất, Chúa của Ngài đồng phạm trọng tội; v́ nếu không có sự trợ giúp và can thiệp của Ngài, th́ các đứa con của tội lỗi không sao sinh ra được; có phải sự công bằng không những xử phạt cha mẹ phạm tội, mà c̣n luôn cả những đứa trẻ vô tội không? Phải chăng bởi Chúa đă phạm nên bạn miễn trừ mọi tội trạng? “ Vị truyền giáo nh́n xem đồng hồ của ḿnh và thấy đă quá trễ để tiếp tục cuộc tranh luận.

 

Vấn: Bạn quên rằng tất cả các trường hợp không thể giải thích được, như trường hợp trên đây, là những điều huyền bí mà tôn giáo của chúng tôi cấm chúng tôi t́m hiểu sự bí nhiệm của Chúa chăng ?

 

Đáp: Không, chúng tôi không quên điều đó, nhưng chúng tôi chỉ từ khước tính cách bất hảo như thế. Chúng tôi cũng không bắt buộc bạn tin tưởng như chúng tôi. Chúng tôi chỉ trả lời các câu hỏi do bạn nêu ra mà thôi. Vả lại, chúng tôi xin tặng một danh từ khác cho các điều “Huyền bí” của bạn.

 

GIÁO HUẤN CỦA PHẬT GIÁO VỀ CÁC VẤN ĐỀ NÊU TRÊN.

 

Vấn: Phật giáo dạy  chi về Linh hồn ?

 

Đáp: Việc nầy tùy theo ư bạn muốn nói về Phật Giáo công truyền hoặc các giáo huấn bí truyền. Phật giáo công truyền được giải thích trong Giáo Lư Phật Giáo đại cương như sau đây : “Linh hồn được xem như một danh từ mà các người kém cỏi dùng để giải bày một ư tưởng sai lầm. Nếu tất cả đều thay đổi th́ con người cũng thế, và tất cả phần vật chất cấu tạo con người cũng phải thay đổi. Điều chi thay đổi th́ không thể thường hằng. Không có sự thường tồn bất tử của một vật tạm thời”. Điều nầy có vẻ giản dị và rơ ràng. Nếu chúng ta cứu xét cá thể tính mới trong mỗi kiếp tái sinh kế tiếp là sự kết tinh của các Skandhas (Ngũ Uẩn) hay các đặc tính của cá thể tính cũ, hay nếu chúng ta hỏi sự kết tinh mới về các Skandhas lại cũng là một bản thể mới, mà trong đó không c̣n sót lại cái chi của bản thể cũ. Đây là điều mà chúng ta được đọc:” Theo ư nghĩa nầy th́ đó là một bản thể mới, theo ư nghĩa khác lại không. Trong kiếp sống các Skandhas thay đổi liên tục, khi con người A.B. 40 tuổi mà cá thể tính giống như một thanh niên A.B. 18 tuổi, tuy là một bản thể khác biệt do sự hao ṃn liên tục và sự tái tạo bất biến của xác thân, cũng như do sự thay đổi của trí thông minh và tánh t́nh. Tuy nhiên, lúc về già, con người gặt hái một cách công b́nh sự ban thưởng hoặc nghiêm phạt tiếp theo những tư tưởng và hành động của họ trong tất cả các giai đoạn trước kia của kiếp sống. Bởi thế, bản thể mới tái sinh, tuy vẫn một cá thể tính như trước (nhưng không cùng chung một cá nhân tính) dưới một h́nh thức mới hoặc một kết tinh mới về Skandhas; bản thể nầy thâu thập một cách đúng đắn các hậu quả của những hành động và tư tưởng của kiếp sống trước”. Điều nầy thuộc về siêu h́nh học trừu tượng, và không hề chứng minh sự  phủ nhận vấn đề tin tưỏng về Linh hồn.

 

Vấn: Người ta không t́m thấy điều nào tương tự trong Phật giáo bí truyền hay sao ?

 

Đáp: Thưa có; v́ giáo huấn nầy thuộc Phật giáo bí truyền, hoặc Minh Triết Huyền nhiệm, và cũng thuộc về Phật giáo Công Truyền hay triết lư tôn giáo của Đức Phật Gautama.

 

Vấn: Nhưng người ta nói rơ ràng với chúng tôi rằng phần đông các người theo Phật Giáo đều không tin có Linh hồn bất tử.

 

Đáp: Chúng tôi cũng không tin như thế, nếu bạn tưởng rằng Linh hồn là Chân Ngă cá nhân, hay Linh hồn linh hoạt Néphesh. Nhưng tất cả các Phật tử  học thức đều tin có một Chân Ngă thiêng liêng cá nhân như chúng tôi. Những ai không tin như thế đều bị sai lầm cũng như người Cơ Đốc Giáo xem những đoạn văn thần học được thêm vào do những nhà chú thích Phúc Âm, như việc bị đày địa ngục, hỏa ngục là những lời dạy thực sự của Đức Jésus. Đức Phật cũng như Đức “Christ” không hề viết ra điều chi về các Ngài; hai Ngài chỉ giảng dạy bằng “ẩn dụ” (allégories) và dùng những “lời khó hiểu”, như tất cả các Bậc Đắc Đạo đều làm, và sẽ c̣n áp dụng trong một thời gian lâu dài. Kinh sách Phật giáo và Cơ Đốc giáo bàn luận rất dè dặt về các vấn đề siêu h́nh học; và cả hai đều đi xa trong thuyết công truyền bởi nghĩa đen không diễn đạt được điều người ta muốn dạy.

 

Vấn: Phải chăng bạn muốn nói đến ngày nay, người ta không hiểu rành rẽ lời dạy của Đức Phật, cũng như của Đức Christ.

 

Đáp: Vâng, chính thế. Cả hai Phúc Âm, Phật giáo và Cơ Đốc giáo, được giảng dạy cùng chung một mục đích. Hai Bậc cải cách nầy là những Đấng thương yêu nhân loại nhiệt thành và là các Đấng Từ Bi thực tiễn, cố tâm giảng dạy một học thuyết về xă hội cao cả nhất: đó là sự hy sinh toàn vẹn tự ngă. Đức Phật nói: “ Cầu mong tội lỗi của thế gian trao hết về ta để ta có thể an ủi mọi khốn khổ và đau đớn của con người!…” Đức Phật chỉ khoát vào thân chiếc áo rách bỏ ở nghĩa địa, Ngài dạy: “ Ta không để một kẻ mà ta có thể cứu giúp phải khóc ”. Và Ngài c̣n nói: “ Hởi các người khổ cực và lo lắng,hăy đến với ta và ta sẽ an ủi các người ”, đó là lời mà “Đấng Cứu khổ” kêu gọi kẻ nghèo khó, khốn nàn; thật ra Ngài không có lấy một chỗ để nằm nghỉ. Cả hai Ngài đều giảng dạy về t́nh thương nhân loại vô bờ bến, về ḷng từ thiện và khoan dung mọi tội lỗi cũng như sự hi sinh tự Ngă và xót thương một số người bị lợi dụng; cả hai Ngài đều từ khước sự giàu sang. Tuy không tiết lộ cho tất cả mọi người những điều bí mật tôn nghiêm về sự đắc đạo, nhưng các Ngài muốn ban cho kẻ lầm lạc phải mang gánh nặng trần gian có đầy đủ hi vọng, hiểu biết về Chân lư để có thể chịu đựng những giờ phút cực nhọc nhất. Nhưng về sau, mục tiêu của hai Bậc Cứu Thế bị nhiệt tâm thái quá của các đệ tử làm sai lạc. Giáo lư của các Đấng Giáo Chủ bị hiểu biết và giải thích sai, thế nên hậu quả thật to tác là dường nào .

 

Vấn: Chắc chắn Đức Phật đă phủ nhận sự bất tử của Linh hồn! Tất cả các nhà Đông Phương Học cho đến các vị tăng đồ của Ngài đều nh́n nhận như vậy.

 

Đáp: Các vị La-Hán (Arhats) đầu tiên tuân theo Giáo lư của Sư Phụ; nhưng phần lớn các tăng đồ kế tiếp không phải là những Bậc Điểm Đạo, cũng như bên Cơ Đốc Giáo; cho nên dần dần các đại Chân lư Bí truyền hầu như bị sai lạc ư nghĩa. Một chứng cớ hiển nhiên là ngày nay, trong hai tông phái c̣n hiện hữu tại Tích-Lan th́ tông phái nầy tin rằng chết là sự hủy diệt hoàn toàn của cá thể tính cũng như cá nhân tính, c̣n tông phái kia lại giải thích Niết-Bàn (Nirvâna) theo quan niệm của Thông Thiên Học.

 

Vấn: Nhưng v́ sao, trong trường hợp nầy, Phật giáo và Cơ Đốc giáo lại tượng trưng  cho hai cực đối lập của tín ngưỡng đó ?

 

Đáp: V́ chúng không được giảng giải trong những điều kiện tương tự. Ở Ấn Độ, người Bà-la-môn, v́ ganh tị về sự hiểu biết thượng đẳng và họ muốn loại trừ các giáo phái khác, nên bắt buộc hàng triệu người tuân theo lối sùng bái ngẫu tượng, gần như của Bái Vật giáo. Chỉ nhờ Đức Phật mới chấm dứt được niềm sung măn về sự tưởng tượng lầm lẫn và mê tín mù quáng, kết quả của vô minh. Thà theo triết lư vô thần c̣n hơn sự thờ phượng dốt nát của những kẻ: “cầu cứu đến các vị thần của họ mà không được đáp lại, và cũng không thấy ai lưu ư đến”. Họ sống và chết trong nỗi niềm thất vọng của tinh thần. Trước tiên, Đức Phật chấm dứt cái trào lưu mờ ám và mê tín đó, diệt căn các sai lầm trước khi tiết lộ chân lư. V́ Ngài không thể tiết lộ tất cả – cũng một lư do mà Đức Jésus nhắc các môn đệ của Ngài nhớ rằng các điều Huyền Bí của Trời không thể tŕnh bày cho dân chúng thiếu trí thông minh mà chỉ dành riêng cho những người được chọn lựa mà thôi. Ngài “chỉ nói với dân chúng bằng các ẩn ngôn”. (kinh Mathiêu, XIII,11).- v́ cẩn thận,Đức Phật đi đến chỗ quá che đậy. Ngài từ khước nói với tu sĩ Vacchagotta rằng có hay không có Chân Ngă trong con người và khi bị bắt buộc phải trả lời, Đức Phật lặng thinh.

 

Vấn: Điều  đó nói  về Đức  Gautama, nhưng có liên quan chi đến kinh Phúc Âm ?

 

Đáp: Bạn hăy đọc lịch sử và suy gẫm kỹ. Vào thời kỳ mà người ta cho rằng các biến cố xảy ra được tường thuật trong các Kinh Phúc Âm th́ một sự dấy động Tinh Thần tương tự lại xảy ra trong thế giới văn minh, nhưng kết quả của nó lại khác biệt tại Đông Phương cũng như Tây Phương. Các vị Đắc Đạo xưa đă mất, các giai cấp văn minh bị lôi cuốn nghe theo các môn đồ Sadducéens  [23] không tin đạo, nghe theo sự phủ nhận của phái duy vật và chấp nhận theo nguyên thuyết của luật Moise tại xứ Palestine. Ở La-Mă, chính các giai cấp thống nhất, nghèo nhất lại chạy theo tà thuật và thờ phượng các vị thần ngoại lai, hoặc trở thành kẻ đạo đức giả hay môn đồ của Pharisiens [24]. Một lần nữa, thời giờ đă đến  cho một sự cải cách tâm linh. Vị Thần của người Do-Thái hung bạo, ganh tỵ cùng các luật khát máu: “ăn miếng trả miếng” bắt buộc làm tuôn máu v́ sự tế lễ bằng thú vật; vị Thần đó phải được xếp vào hạnh phụ thuộc để nhường chỗ cho Đức Thánh Cha từ bi “đang ở trên Trời”. Cần phải chứng minh rằng Đấng nầy không phải là vị Thần siêu vũ trụ, mà lại là một Đấng Cứu Thế Thiêng Liêng của con người bằng xương bằng thịt, được khắc sâu vào tim và linh hồn của người nghèo khổ cũng như giàu có. Tại Palestine cũng như ở Ấn Độ, sự bí mật của cuộc điểm đạo không thể phổ biến được, v́ nếu người ta tặng các vật thánh thiện cho chó, hoặc liệng các viên ngọc cho heo con, người ta thấy nguy cơ rằng Người tiết lộ và sự tiết lộ bị chà đạp dưới chân. Bởi thế, Đức Phật hay Đức Jésus không nói hết lời, dù Đấng nầy có sống nữa hay không; số năm tháng mà lịch sử đă gán cho Ngài, Ngài tránh tiết lộ rơ ràng những điều bí ẩn về sự sống và sự chết, ẩn ư nầy trong trường hợp thứ nhất là sự phủ nhận của Phật Giáo Nam Tôn, và trong trường hợp thứ hai, ba đại phân bộ đối lập của Giáo Đường Cơ Đốc, và 300 giáo phái Tin lành của Anh Quốc.


chương 1. 2.  3.  4.  5.  6.  7.  8.  9. 10. 11. 12. 13. 14. đầu sách. cuốí sách. mục lục. chú thích
 

CHƯƠNG  VI

 

THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI THEO GIÁO HUẤN THÔNG THIÊN HỌC

 

SỰ ĐƠN NHẤT TRONG VẠN VẬT

 

Vấn: Theo quan niệm của bạn th́ Thượng Đế, Linh hồn và Con Người không phải là thế; bạn có thể cho tôi biết  họ là chi theo giáo lư của bạn ?

 

Đáp: Theo căn nguyên và vĩnh cửu th́ tất cả ba: Thượng Đế, Linh hồn và Con Người là một với Đơn Nhất tuyệt đối như vũ trụ và tất cả cái chi nó chứa đựng. Đó là tinh túy thiêng liêng bất khả tri mà tôi vừa giải thích. Chúng tôi không tin một sự sáng lập, nhưng chúng tôi tin nơi sự xuất hiện định kỳ và kế tiếp của vũ trụ, từ cảnh giới chủ quan đến cảnh giới khách quan của bản thể, nơi các khoảng thời gian đều đặn được duy tŕ trong nhiều thời đại.

 

Vấn: Bạn có thể giải thích vấn đề nầy một cách tỉ mỉ hơn không ?

 

Đáp: Để giúp bạn có một quan niệm chính xác hơn, bạn nên dùng sự so sánh đầu tiên về một năm dương lịch và kế tiếp nơi Bắc Cực, hai nửa của năm làm thành một ngày và một đêm dài trong sáu tháng. Bây giờ bạn thử tưởng tượng nếu bạn có thể thực hiện sự VĨNH CỬU thay v́ một năm Dương lịch là 365 ngày. Bạn hăy chấp nhận rằng mặt trời tượng trưng cho vũ trụ; ngày và đêm dài sáu tháng tại Bắc Cực sẽ tượng trưng, thay v́ 182 ngày, cho một kỳ gian là 182 triệu triệu (trillions) và ngàn triệu triệu (quadrillions) năm. Cũng như mặt trời mọc mỗi buổi b́nh minh khỏi chân trời khách thể ngoài không gian chủ thể, và đối cực (đối với chúng ta); giống như thế, Vũ Trụ xuất hiện từng định kỳ trên cơi giới khách thể, khỏi cơi giới chủ thể. Vậy “chu kỳ sự sống” là thế. Và, giống như mặt trời lặn vào chân trời, vũ trụ biến mất vào những thời kỳ nhất định khi “Đêm Phổ quát” bắt đầu. Người Ấn Độ gọi sự luân phiên nầy là “Ngày và đêm của Brahma”(Phạn Thiên), hay thời kỳ của Đại Khai Nguyên (Manvantara) và của Đại Hỗn Nguyên (Pralaya) “tiêu tan”. Nếu người Tây Phương chấp nhận, họ có thể gọi  chúng là Ngày và Đêm Phổ Quát. Trong Đêm cuối cùng nầy, Toàn Thể ở trong Toàn Thể, mỗi nguyên tử bị thu hút vào Đồng Nhất Tính duy nhất.

 

TIẾN HÓA VÀ ẢO TƯỞNG

 

Vấn: Ai sáng tạo Vũ Trụ mỗi lần vũ trụ tái sinh ?

 

Đáp: Không ai sáng tạo cả. Diễn tŕnh nầy khoa học gọi là sự tiến hóa. Các triết gia tiền Cơ Đốc và người Đông phương gọi là sự phân thân, c̣n nhà Huyền Bí Học và Thông Thiên Học chỉ nh́n nhận có một thực tại phổ quát, vĩnh cửu mà thôi. Từ các vực thẳm vô hạn của Không gian, thực tại này phóng ra một phản ảnh của chính nó. Bạn xem phản ảnh đó là Vũ trụ khách thể, vật chất, nhưng đối với chúng tôi là một ảo ảnh giả tạm; chỉ có cái chi trường cửu mới được gọi là Thực tại.

 

Vấn: Vậy bạn và tôi, chúng ta đều là ảo ảnh cả hay sao ?

 

Đáp: Đúng thế. Với tư cách là cá thể giả tạm v́ nó thay đổi qua mỗi kiếp. Bạn có cho các tia chớp của Bắc cực quang (Aurore Boréale) là “thật” chăng ? Bạn nh́n thấy rơ ràng mà ? Thật sự không phải thế, v́ thực tại duy nhất là nguyên nhân phát sinh vốn thường xuyên, và bất hoại, c̣n hiệu quả chỉ là ảo ảnh thoáng qua.

 

Vấn: Tất cả các điều vừa giải thích không  làm tôi hiểu rơ hơn v́ sao lại phát sinh các ảo ảnh được gọi là vũ trụ; làm sao ư thức có thể xuất lộ từ cái vô ư thức đang hiện tồn.

 

Đáp: Đây chỉ là điều không ư thức được đối với tâm thức bị hạn chế của chúng ta. Thực sự chúng ta có thể chú giải những lời của Thánh Jean như sau: “Aùnh Sáng (tuyệt đối) (là bóng tối) chói sáng trong bóng tối (có nghĩa là trong ánh sáng ảo tưởng của vật chất) và bóng tối lại không hay biết ǵ về ánh sáng đó. Aùnh sáng tuyệt đối này là định luật vừa bất di dịch, vừa tuyệt đối. Chúng tôi không muốn tranh luận về danh từ phát tán hay sáng tạo; vũ trụ xuất hiện từ chủ quan tính đồng nhất của cơi giới biểu lộ đầu tiên. Cơi giới nầy gồm có bảy. Trên mỗi cơi, vũ trụ lần lần trở nên nặng trược và vật chất, cho đến cơi giới cuối cùng của chúng ta là cơi giới được hiểu biết theo sự phỏng đoán của khoa cấu tạo vật lư. Cơi trần là hệ thống hành tinh hoặc Thái Dương có tính chất đặc biệt (sui  generis).

 

Vấn: Xin bạn giải thích về tính chất đặc biệt vừa kể.

 

Đáp: Điều nầy chứng tỏ định luật căn bản cùng với sự diễn tiến của các định luật thiên nhiên là sự đều đặn. Hệ thống Thái dương của chúng ta (cũng như hằng triệu hệ thống khác trong Đại Vũ Trụ) cho đến Địa Cầu, được biểu hiện theo một phương thức riêng biệt, khác hẳn sự hổ tương của tất cả các hệ thống khác. Khi nói về dân cư trên các hành tinh, chúng ta tưởng tượng họ cũng là con người như ḿnh, nghĩa là một thực thể biết suy tưởng. Trí tưởng tượng của nhà thi sĩ, họa sĩ thường hay tượng trưng; ngay đến các vị Thiên Thần được lư tưởng hóa có thêm hai cánh. Chúng tôi xác nhận rằng tất cả sự việc nầy chỉ là ảo tưởng và sai lầm. Địa Cầu nhỏ bé của chúng ta có một tạp đa về thảo mộc, động vật và nhân loại - từ rong rêu đến cây bá hương ở Liban, từ con sứa biển đến con voi, từ người sơ khai đến bức tượng cổ Apollon của Belvédère – nếu bạn đổi các điều kiện về vũ trụ, về hành tinh, đương nhiên sẽ có những thảo mộc, động vật và nhân loại hoàn toàn khác biệt phát sinh. Cho đến cơi giới này (cơi giới vật chất), gồm các hành tinh của chúng ta, cũng ở dưới những định luật tương tự, nghĩa là chúng phát sinh một loạt về vật thể và bản thể hoàn toàn dị biệt. Vậy thể chất bên ngoài của các hệ thống Thái dương khác c̣n xa lạ biết bao! Thật là hăo huyền khi chúng ta nghiên cứu về các v́ tinh tú, cũng như các thế giới khác theo quan niệm của thế giới nầy như  khoa vật lư thường làm.

 

Vấn: Bạn dựa vào bằng chứng nào để tŕnh bày như thế ?

 

Đáp: Thật sự những bằng chứng này không được khoa học chấp nhận, nhưng chúng đă tích lũy từ vô tận nhờ các Bậc có Huệ nhăn chứng minh các sự kiện đó. Thị lực tâm linh của các Ngài đă được kiểm soát, và so sánh có hệ thống, đồng thời tính chất của nó, được cứu xét kỹ lưỡng. Những khám phá thực hiện được nhờ cảm giác vật chất và tâm linh đă thoát khỏi sự trở ngại của thể xác thường làm cho mù quáng. Tất cả điều chi không do kinh nghiệm cộng đồng và tập thể tăng cường, đều bị bác bỏ. Duy những điều thích hợp hoàn toàn và được xem như là Chân lư thiết lập qua sự xác định, trong nhiều giai đoạn khác nhau, ở những nơi khí hậu khác nhau, và cũng được quan sát không ngừng. Như bạn thấy, những phương pháp được các nhà thông thái, và các sinh viên khoa tâm lư tâm linh áp dụng, không hề sai biệt với phương pháp của các sinh viên khoa vạn vật học và vật lư học. Nhưng các lănh vực sưu tầm nầy, ở vào hai cơi giới không  giống nhau, và dụng cụ quan sát của chúng tôi, không do bàn tay của con người làm ra. Có lẽ v́ lư do đó, mà dụng cụ của chúng tôi vững chắc hơn. B́nh cổ cong, b́nh tích điện, kính hiển vi của nhàhóa học và vạn vật học có thể sai lạc; kính viễn vọng và các dụng cụ  đo thời gian có thể bị hư hỏng, trái lại dụng cụ ghi nhận của chúng tôi không bao giờ chịu ảnh hưởng của các nguyên tố hoặc thời gian.

 

Vấn: V́ vậy mà bạn tin tưởng hoàn toàn vào đó phải không ?

 

Đáp: Tin tưởng là danh từ không t́m thấy trong tự điển Thông Thiên Học. Chúng tôi chỉ nói sự hiểu biết được căn cứ vào kinh nghiệm và sự quan sát. Tuy nhiên bạn hăy ghi nhận sự sai biệt này: trong lúc quan sát, và kinh nghiệm của khoa vật lư hướng nhà thông thái đến các giả thuyết “tạm thời” và được phát triển do trí thông minh, th́ sự hiểu biết của chúng tôi chỉ chấp nhận thêm những sự kiện không thể phủ nhận bởi đă được chứng minh đầy đủ. Chúng tôi không thể nào chấp nhận hai tín ngưỡng, hai giả thuyết cùng chung một đề tài.

 

Vấn: Có phải v́ lư do nầy khiến bạn nh́n nhận lư thuyết kỳ lạ của Phật Giáo Bí Truyền chăng ?

 

Đáp: Đúng thế. Lư thuyết đó có thể sai lạc trong vài chi tiết phụ thuộc, ngay trong sự tŕnh bày của các sinh viên ngoại đạo; nhưng đây là các sự kiện của thiên nhiên gần Chân lư hơn bất cứ một giả thuyết khoa học nào.

 

SỰ CẤU TẠO THẤT THỂ CỦA HÀNH TINH CHÚNG TA

 

Vấn: Có phải bạn nói địa cầu chúng ta thuộc thành phần của một dăy các địa cầu không ?

 

Đáp: Đúng vậy. Những sáu ‘địa cầu” hoặc sáu bầu kia chúng ta không trông thấy v́  chúng không ở cùng một cơi giới khách quan với địa cầu chúng ta.

 

Vấn: Phải chăng do quăng cách quá xa với địa cầu chúng ta ?

 

Đáp: Không phải thế, bởi chúng ta vẫn nh́n thấy các hành tinh, và cả những ngôi sao ở khoảng xa tí mù. Sự thật v́ sáu bầu đó ở ngoài phạm vi tri thức vật chất của ta, hay là cơi giới đang biểu hiện này. Mật độ vật chất, trọng lượng và cách cấu tạo không giống với mật độ, trọng lượng và cách cấu tạo địa cầu chúng ta, và các hành tinh khác được biết. Thật ra các bầu đó (đối với chúng ta), đang ở trong một lớp không gian hoàn toàn khác biệt, hay là một lớp mà chúng ta không thể nào tri thức hoặc càm giác bằng giác quan hồng trần. Tuy chúng tôi gọi “lớp” (couche) bạn chớ tưởng tượng đó là những lớp chồng chất lên nhau như các lớp địa tầng (strates), bởi điều này sẽ đem đến cho bạn một quan niệm sai lầm, phi lư khác. Tôi gọi là “lớp” đây là cơi giới không gian vô tận mà bản chất của nó không thể nào thích ứng với trạng thái thức tỉnh hay tri thức tầm thường của chúng ta, cùng với trí năng và vật chất. Nhưng nó vẫn có trong thiên nhiên, ngoài phạm vi trí năng và tâm thức thông thường, ngoài khoảng không gian có ba bề đo, cũng như sự phân chia về thời gian của con người. Theo định nghĩa của triết gia Locke, th́ một trong bảy giới căn bản (hoặc “lớp”), thuộc khoảng không gian hữu hạn. Khoảng không gian của chúng ta có khách thể tính và chủ thể tính cùng với thời gian, trạng thái tâm thức và một loạt tri giác riêng biệt của nó. Nhưng tất cả điều đó ít rơ ràng đối với người mà trí năng đă được huấn luyện theo đường lối tư tưởng ngày nay.

 

Vấn: Bạn muốn nói về loạt tri giác khác biệt ấy ? Trên cơi giới biểu hiện của nhân loại, không có cái chi giúp bạn để cấu kết một ư tưởng rơ rệt hơn điều bạn muốn tŕnh bày về sự khác biệt của tri giác, của không gian và của tri thức hay sao ?

 

Đáp: Điều đó không có; ngoại trừ chỉ có một điều là khoa học lấy cớ để chống đối lại với chúng tôi. Trong trạng thái chiêm bao, phải chăng chúng ta đă có những loạt tri giác khác nhau. Lúc đó chúng ta cảm, nói, nghe, thấy, nếm và hành động trên một cơi giới khác hơn cơi giới chúng ta đang sinh sống. Sự thay đổi đang thực hiện trong trạng thái tâm thức, và được chứng minh bởi sự kiện của một loạt hành động và biến cố, trải qua một thời kỳ nhiều năm tháng. Tuy nhiên đối với trí năng của chúng ta,dường như các sự kiện đó xuyên qua tư tưởng chỉ một khoảnh khắc thời gian. Vậy, sự nhanh chóng phi thường của các thực nghiệm trí năng trong giấc mơ và khi chúng ta ở vào một trạng thái thật tự nhiên về mọi phương diện, chứng tỏ chúng ta đang ở trong một cơi giới, khác hẳn với cơi giới này. Giáo lư Thông Thiên Học dạy: có bảy động lực căn bản trong thiên nhiên, bảy cơi của bản thể, và bảy trạng thái tâm thức, trong đó, con người sinh sống, suy tưởng, nhớ nhung và tồn tại. Chúng tôi không thế nào kể hết ra đây được; muốn hiểu biết cần phải nghiên cứu về khoa Siêu h́nh học Đông Phương.  Nhưng hai trạng thái; tỉnh và mơ đủ chứng tỏ cho mọi người thấy , từ nhà triết học thông thái đến người sơ khai dốt nát, có sự sai biệt giữa hai trạng thái đó.

 

Vấn: V́ thế, Bạn sẽ không chấp nhận sự giải thích của khoa Sinh vật học và Sinh lư học về căn nguyên của giấc mơ sao ?

 

Đáp: Chắc chắn không. Chúng tôi c̣n từ khước giả thuyết của các nhà Tâm lư học, và chỉ ưa chuộng giáo huấn của nền Minh Triết Đông Phương. Về sự liên quan đến Vũ trụ và Đại Thiên Địa (Macrocosme), chúng tôi chỉ đặt tin tưởng vào bảy thể của bản thể Đại Vũ trụ, cũng như bảy trạng thái Tâm thức. Tuy nhiên, chúng tôi dừng lại nơi cơi giới thứ tư, v́ người cơi này chúng tôi không có sự hiểu biết chắc chắn nào cả. Nhưng chúng ta sẽ thảo luận rộng răi về bảy trạng thái và bảy khí thể của Tiểu Thiên Địa (Micocosme) hay con người.

 

Vấn: Bạn giải thích thế nào ?

 

Đáp: Thoạt tiên chúng tôi nhận thấy có hai bản thể khác nhau nơi con người là tâm linh và vật chất; con người biết suy tưởng và con người ghi nhận những ǵ mà các tư tưởng có thể đồng hóa được. Do đó, chúng tôi có thể chia con người ra hai bản tính khác nhau: phần thanh cao hay bản thể tâm linh gồm có ba “khí thể” hay trạng thái, và phần thấp kém hay tứ thể vật chất, được cấu tạo bởi bốn khí thể – tất cả có bảy. 

 

BẢN CHẤT THẤT THỂ CỦA CON NGƯỜI

Vấn: Phải chăng người ta gọi hai bản thể vừa kể là Chân linh hay linh hồn và con người bằng xương bằng thịt ?

 

Đáp: Thưa không. Sự phân chia này của phái Platonicien thời cổ. Platon là một bậc Điểm Đạo nên không thể đi sâu vào các chi tiết bị cấm đoán. Chỉ có ai thông hiểu giáo lư cổ thời sẽ t́m thấy bảy khí thể trong sự kết hợp khác nhau của linh hồn và Chân linh được ông Platon nêu ra. Người ta sẽ nh́n nhận hai phần trong con người: phần vĩnh cửu được cấu tạo cùng một tinh túy với cái Tuyệt Đối; phần “được sáng tạo” bởi các vị Thiên Đế tiểu đẳng (Dieux mineurs) và phần có chết, có diệt. Con người được cấu tạo bởi: l/- một thân xác khả tử; 2/- một khí thể bất tử; 3/- “một linh hồn thuộc loại khả tử và tách rời ra”. Đó chính là cái mà chúng ta gọi theo thứ tự là con người vạât chất, Linh hồn hay Chân Linh (Nous), và Linh hồn động vật (psyché). Sự phân chia này cũng được một bậc Điêûm Đạo khác là Thánh Paul chấp nhận. Ngài cho rằng có một thể tâm linh được gieo trong thể bị hủy diệt (linh hồn tinh tú hay cảm thể) [25], và một thể trí linh sẽ phục sinh  chất bất diệt. Thánh Jacques cũng tăng cường đoán ngôn này khi Ngài nói (III, I5): sự “Minh Triết” (của linh hồn hạ đẳng) không do từ cơi trên nhưng do từ cơi phàm, (“tâm lư”, “thuộc về ma quỉ” xem bản văn Hi-Lạp), c̣n điều kia là minh triết thiêng liêng. Ông Platon và cả Đức Pythagore đều nh́n nhận có bảy tác dụng khác nhau trong các sự kết hợp, tuy các Ngài chỉ nói về ba “khí thể”  mà thôi. Chúng tôi vững ḷng tin bằng cách so sánh giáo huấn của chúng tôi với giáo huấn của các Ngài. Chúng ta hăy trực nhận thoáng qua bảy trạng thái kể trên trong hai bảng phân chia theo Thông Thiên Học sau đây:

 

PHÂN CHIA THEO THÔNG THIÊN HỌC

 

Danh từ Phạn ngữ

Ư nghĩa công truyền

Giải thích

(a)Roupa hay Sthula Sharira

(a) thể xác

(a) là môi vật của tất cả các ”khí thể”khác, trong đời sống.

(b)  Prana

(b)Sự sống, hoặc nguyên lư sống

(b)Chỉ cần thiết cho a,c,d, và cho các dụng của Manas II, nghĩa là cho tất cả tác dụng được giới hạn vào khối óc (vật chất)

(c) Linga Sharira

(c) Thể vía

(c) Cái Phách hay thể ma.

(d) Kama-roupa

(d)Nơi toạ lạc của các điều ham muốn và dục vọng thú tánh.

(d)Là trung tâm của con người vật chất,nơi ghi dấu sự tách rời giữa con người khả tử với thể bất tử.

(e)Manas,khí thể đối trọng các tác dụng của nó.

(e)Trí năng, Thông trí; thể trí năng nhân loại thượngđẳng do ánh sáng hay sự phóng quang kết hợp CHÂN THẦN (MONADE) vào con người khả tử, trong kỳ gian của sự sống.

e)Trạngthái vị lai và định mạng Nhân Quả của con người, tùy thuôïc vào việc Manas giáng xuống Kama-roupa, nơi tọa lạc của các dục vọng thú tánh hoặc thăng vượt lên đến Bouddhi (Bồ Đề), Chân Ngă Tâm linh. Trong trường hợp này, tâm thức thượng đẳng của các nguyện vọng Tâm Linh và cá nhân của trí thông minh (Manas),đồng hoá với Bouddhi và bị thu hút cấu thành Chân Ngă, nó bước vào lạc phúc Thiên Đàng

(f)Bouddhi (Bồ Đề)

(f)Linh hồn TâmLinh

(f) Môi vật của Chân linh thuần khiết, phổ quát.

(g) Atma

(g) Chân Linh

(g) Một với Tuyệt Đối, như là sự phóng quang.

 

Ông Platon dạy điều chi? Ông nói rằng con người nội tâm gồm hai phần: phần bất di dịch, được cấu tạo cùng một bản chất với Chân Linh; và phần kia th́ khả tử, khả diệt. “hai  phần” này được t́m thấy trong Tam thể thượng và trong Tứ thể hạ của chúng ta (xem bảng). Ngài giải thích khi Linh hồn (psyché) “phối hợp với Nous (Chân Linh thiêng liêng hoặc bản chất thiêng liêng) tất cả điều chi được thực hiện đều tốt đẹp và thành tựu”.

Nhưng khác hẳn khi nó liên kết với Anoia (sự điên cuồng hay linh hồn động vật, bất duy lư). Nơi đây có Manas (hoặc linh hồn tổng quát) dưới hai h́nh thức; khi liên kết với Anoia (Thông Thiên Học gọi là Kama-roupa; “Phật giáo bí truyền” gọi là Linh hồn động vật) th́ Linh hồn tiến đến sự tiêu diệt hoàn toàn đối với cái chi thuộc về Chân Ngă cá nhân. Trái lại khi phối hợp với Nous (Atma-Bouddhi) Linh hồn sẽ hoà tan trong Chân Ngă bất tử, bất diệt; lúc ấy, tâm thức Chân Linh của cá nhân tính trở thành bất tử.

 

SỰ PHÂN BIỆT GIỮA LINH HỒN VÀ CHÂN LINH

 

Vấn: Bạn có giảng dạy cá nhân tính bị tiêu diệt như vài nhà Duy linh và Thần thuật của Pháp đă tố giác chăng ?

 

Đáp: Không. Những người đối lập đă phổ biến sự tố giác phi lư này, bởi vấn đề nhị nguyên tính, cá thể tính (l’individualité) của Chân Ngă Thiêng liêng và cá nhân tính (personnalité) – lại hàm súc khả năng hiện h́nh của một Chân Ngă bất tử trong các buổi gọi hồn dưới h́nh thức một “Chân linh hiện h́nh”, điều mà chúng tôi đă phủ nhận và đă giải thích.

 

Vấn: Bạn có nói; Psyché tiến tới sự tận diệt hoàn toàn một khi nó liên kết với Anoia. Về vấn đề này, ông Platon và bạn giải thích ra sao ?

 

Đáp: Theo tôi nghĩ, sự tận diệt hoàn toàn của một tâm thức cá nhân là một trường hợp ít xảy ra, và rất đặc biệt. Thật sự tâm thức cá nhân tự ḥa tan trong tâm thức cá thể và bất tử của Chân Ngă, v́ theo qui tắc tổng quát gần như bất di dịch – một sự biến hóa hay biến h́nh thiêng liêng – chỉ có tứ thể hạ đẳng bị tận diệt mà thôi. Chắc chắn bạn không c̣n hi vọng con người bằng xương bằng thịt, hay cá thể tính giả tạm, hay cái bóng hoặc “cảm thể” của nó, cùng với bản năng thú tánh, và đời sống vật chất được thườøng tồn với “Chân Ngă Tâm Linh” để trở thành hằng cữu chăng?  Dĩ nhiên tất cả điều đó ngưng hiện hữu lúc xác thân chết, hoặc ngay sau đó, để rồi cùng với thời gian tan ră và biến mất hoàn toàn.

 

Vấn: Vậy bạn phủ nhận khả năng phục sinh của xác thịt hay sao ?

 

Đáp: Vâng, chắc chắn như vậy! Tại sao chúng tôi có thể chấp nhận sự suy lư thiếu triết học của thần học Cơ Đốc thuộc thời đại hậu lai, đă nói theo học thuyết công truyền của phái Duy trí Ai-Cập và Hi-Lạp ?

 

Vấn: Người Ai-Cập tôn thờ từ Chân linh Ngũ hành đến củ hành; ngày nay, người Ấn Độ thuộc Bái ngẫu tượng và Bái hỏa giáo cũng c̣n chiêm ngưỡng mặt Trời như thuở xưa. Trong số các triết gia Hi-Lạp lỗi lạc nhất lại là những người mơ mộng hoặc duy vật thí dụ: Platon và Démocrite. Làm thế nào bạn có thể so sánh họ với người Cơ Đốc Giáo ?