trang nhà l trang sách l bản tin l thiền học l tiểu sử l trang thơ l h́nh ảnh l bài vở 

chương 1. 2.  3.  4.  5.  6.  7.  8.  9. 10. 11. 12. 13. 14. đầu sách. cuốí sách. mục lục. chú thích

 

H. P. BLAVATSKY

 

BÍ QUYẾT THÔNG THIÊN HỌC

 

NGUYÊN TÁC : THE KEY TO THEOSOPHY

Bản dịch Pháp ngữ : La clef de la Théosophie

Dịch bản tiếng Pháp của nhà xuất bản Les éditions de la compagnie

Théosophique 11, rue de l’Abbé-de-l’Epée Paris Ve.


chương 1. 2.  3.  4.  5.  6.  7.  8.  9. 10. 11. 12. 13. 14. đầu sách. cuốí sách. mục lục. chú thích
 

MỤC - LỤC

 

Lời tựa lần xuất bản thứ nh́
    
Lời tựa  của tác giả

CHƯƠNGI                                                                                                      

Minh Triết Thiêng Liêng và Hội TTH, ư nghĩa của danh từ

Kế hoạch của Hội Thông Thiên Học                                         

Tôn giáo Minh Triết Bí Truyền trải qua các thời đại

Thông thiên Học không phải là Phật Giáo

CHƯƠNG II

Minh Triết Thiêng Liêng Bí Truyền và Công Truyền

Người Thông Thiên Học và hội viên của Hội Thông Thiên Học

Sự khác nhau giữa  Thông Thiên Học và Huyền Bí Học

Sự khác nhau giữa Thông Thiên  Học và Thần Linh Học

V́ sao Thông Thiên  Học được chấp nhận ?

CHƯƠNGIII                                                                                                               

Phương pháp thực hành của Hội Thông Thiên Học, các mục đích của Hội

Nguồn cội chung của Con người

Những mục đích khác của chúng tôi

Sự cao trọng của lời thệ nguyện .

CHƯƠNG IV

Sự liên hệ giữa Hội Thông Thiên Học và Thông Thiên Học

Cải thiện Chơn Ngă

Trừu tượng và Cụ thể

CHƯƠNG V

Các giáo huấn căn bản của Thông Thiên Học

Thượng-Đế và lời cầu nguyện

Lời cầu nguyện có cần thiết không ?

Cầu nguyện làm giảm đức tin

Nguồn cội của Linh Hồn nhân loại

Giáo huấn của Phật giáo về vấn đề nêu trên

CHƯƠNG VI

Thiên nhiên và con người theo giáo huấn Thông Thiên Học, sự đơn nhất

trong vạn vật

Tiến hóa và ảo tưởng

Sự cấu tạo thất thể của hành tinh chúng ta

Bản chất “thất thể” của con người

Sự phân biệt giữa Linh Hồn và Chân Linh

Giáo huấn của Hi-Lạp

CHƯƠNG VII

Các trạng thái khác nhau sau khi chết, “Con người vật chất và con người

Tâm Linh”

Về sự vĩnh cửu của Thưởng, Phạt,và Niết Bàn

Các “khí thể” khác biệt của con người

CHƯƠNG VIII

Luân hồi hoặc tái sinh, kư ức là ǵ?

Theo giáo huấn của Thông Thiên Học  

Kư ức của những kiếp đă qua, v́ sao chúng ta

không nhớ lại tiền kiếp?                                                           

Cá thể tính và Phàm ngă tính 

Về sự thưởng, phạt của Chơn Ngă

CHƯƠNG  IX

Cơi Dục giới và Thiên Đàng

V́ sao các nhà Thông Thiên Học không tin tưởng sự trở lại của

Vài lời về SKANDHAS

Tâm thức hậu tử và tiền sinh

Ư nghĩa thực sự của danh từ tiêu diệt

Danh từ hạn định diễn tả các sự vật hạn định

CHƯƠNG X

Bản chất của nguyên khí suy tư

Chơn Ngă Huyền Nhiệm

Bản chất phức tạp của thể trí (De la Nature complexe de Manas)

Giáo lư nầy được giảng dạy trong Phúc âm theo Thánh Jean

CHƯƠNG XI

Huyền bí về ‘Luân Hồi’, kỳ hạn của sự tái sinh

Karma là ǵ ?

Những người hiểu biết là ai ?

Sự khác biệt giữa Đức tin và Tri thức; hoặc Đức tin mù quáng và Đức

tin lư luận

CHƯƠNG XII

Thông Thiên Học thực hành là chi ?, Bổn Phận

Sự liên quan của Hội Thông Thiên Học và sự cải cách chánh trị

Hy sinh Bản Ngă

Ḷng nhân từ

Thông Thiên Học đối với Quần chúng

Hội viên Thông Thiên Học giúp đỡ Hội ra sao

Những điều mà Nhà Thông THiên Học không nên làm

CHƯƠNG XIII

Những quan niệm sai lầm về Hội Thông Thiên Học,

Thông Thiên Học và sự khổ hạnh

Thông Thiên Học và Hôn Nhân

Thông Thiên Học và giáo dục

Tại sao hiện giờ có nhiều thành kiến chống lại Hội T.T.H  ? 

Phải chăng Hội T.T.H. là một tổ chức có mục đích tài chánh ?

CHƯƠNG XIV

Các vị Chơn Sư của Thông Thiên Học, các Ngài là “Tinh Quân Ánh Sáng

hay  Yêu Tinh bị nguyền rủa ?

Sự lạm dụng tên và thuật ngữ Thiêng Liêng

Kết luận, Tương lai của Thông Thiên Học                                                      


chương 1. 2.  3.  4.  5.  6.  7.  8.  9. 10. 11. 12. 13. 14. đầu sách. cuốí sách. mục lục. chú thích
 

TỰA  KỲ XUẤT BẢN THỨ NH̀

 

Kỳ xuất bản thứ nhất của tác phẩm nầy đă bị tiêu hủy v́ sự chiếm cứ  (của quân đội Đức). Nay chúng tôi xuất bản lần thứ nh́ để cống hiến độïc giả thông Pháp ngữ. Quyển sách được viết cho hai hạng. Một hạng gồm các nhà sưu tầm thành thật, muốn hiểu biết về phong trào và triết lư Thông Thiên Học. Các vị nầy sẽ thấy tác giả đă giải đáp một cách uyên bác những câu hỏi của họ bằng phương pháp hành văn theo lối đặt câu Vấn, Đáp.

Thứ đến, tác phẩm được dành cho sinh viên Minh Triết, một ch́a khóa hoàn hảo, khả dĩ mở được cánh cửa huyền nhiệm của Giáo Lư Bí Truyền.

Người sinh viên chân chính là người phụng sự; y học tập trong phạm vi y sẽ cố gắng giảng dạy lại. Khi viết quyển sách nầy tác giả là người đă hoạch đắc sự minh triết nên rất lưu tâm đến việc giáo huấn các môn đệ chân chính, để họ có đủ khả năng giảng giải giáo lư một cách trung thực và chính xác.

Đôïc giả nên dè dặt, v́ có vài kỳ xuất bản quyển “Bí Quyết Thông Thiên Học “ được bán trong các hiệu sách tân phái Thông Thiên Học, nếu so sánh kỹ, người ta phát giác được sự sai biệt, v́ bài đầu tiên bị sửa đổi, và có sự loại bỏ quan trọng trong kỳ xuất bản thứ nhất. Đây là một trong các phương tiện mà tân phái Thông Thiên Học dùng làm sai lạc ư nghĩa Giáo Lư Thông Thiên Học thuần túy của Bà H. P. Blavatsky và thử tiếm đoạt địa vị của Nó. Kỳ xuất bản của chúng tôi dựa vào công tŕnh dịch thuật nguyên tác của Bà H. P. Blavatsky, ấn hành vào năm 1889.

Trong khi quyển “Nữ Thần ISIS tiết lộ” và bộ “Giáo Lư Bí Truyền” là những tác phẩm vĩ đại, đă tŕnh bày tất cả các nguyên lư cùng vô số chi tiết về Tôn Giáo Minh Triết, th́ quyển “Bí Quyết Thông Thiên Học” lại tŕnh bày giản tiện, thiết thực, nên hợp thành lời giới thiệu đầy đủ về hai tác phẩm quan trọng kể trên. Thực sự, dù người đó là học giả, sinh viên hay kẻ chí nguyện, nó vẫn cung cấp bí quyết cho mọi vấn đề thuộc đời sống của mỗi linh hồn, cùng với bí quyết cho sự hiểu biết cũng như  phụng sự.

Đoàn thể Thông Thiên Học
 Ba-lê, tháng 9 năm 1946


chương 1. 2.  3.  4.  5.  6.  7.  8.  9. 10. 11. 12. 13. 14. đầu sách. cuốí sách. mục lục. chú thích
 

TỰA CỦA TÁC GIẢ

 

Mục đích của tác phẩm “Bí Quyết Thông Thiên Học” được giải bày chính xác bởi tựa đề của nó, và chỉ giải thích bằng vài từ ngữ mà thôi. Nó không nhằm  mục tiêu tŕnh bày đầy đủ về Thông Thiên Học, nhưng chỉ cung cấp một bí quyết khả dĩ mở được cửa hướng đến sự nghiên cứu sâu sắc hơn. Nó phác họa những nét chính yếu của Tôn Giáo Minh Triết, giải thích các nguyên lư căn bản về vấn đề nầy bằng cách đáp lại những biện bác của các nhà sưu tầm Tây phương nêu ra; đồng thời thử tŕnh bày các khái niệm ít quen thuộc bằng một ngôn ngữ rơ ràng, càng giản dị càng tốt. Chúng tôi cố gắng giải thích để Thông Thiên Học trở thành dễ hiểu đối với độc giả và cũng để trí năo độc giả khỏi phải phí sức nhiều. Đây là điều mà chúng tôi mong ước hơn hết, và nếu c̣n có sự khó lănh hội, th́ thật ra không do nơi ngôn ngữ được xử dụng mà bởi sự diễn tả các tư tưởng sâu sắc của vấn đề. Với những người trí năo lười biếng, cạn hẹp th́ danh từ Thông Thiên Học c̣n là một ẩn ngữ v́ trong giới tinh thần cũng như tâm linh, mỗi người phải phát triển bằng sự tự cố gắng. Tác giả không thể suy tưởng dùm độc giả, vả lại nếu sự thay thế để suy tưởng có thể thực hiện được, th́ độc giả cũng không hưởng chút lợi nào cả. Tính cách cần thiết của một quyển sách như tác phẩm nầy đă được xác nhận từ lâu bởi tất cả những người lưu tâm đến Hội Thông Thiên Học và công nghiệp của Hội. Do không quá nhiều danh từ chuyên môn, chúng tôi hy vọng quyển sách sẽ dẫn dắt đa sốâ những người mà tính hiếu kỳ đă khởi thức nhưng nay vẫn c̣n băn khoăn chưa vững ḷng tin.

Chúng tôi đă lưu ư sự phân biệt điều chân với điều giả trong việc giáo huấn các nhà Thần linh học về đời sống bên kia cửa tử, giúp họ thấy thực chất của các hiện tượng Thần linh. Trước đây có vài sự giải thích tương tự như vậy, khiến tác giả đă bị trút lên đầu nhiều phẩn nộ. Các nhà Thần linh học cũng như nhiều người khác, thích tin tưởng điều chi thú vị hơn là sự thật, và giận dữ  đối với ai tiêu diệt ảo tưởng êm đềm của họ. Trong năm cuối cùng nầy (1889), Thông Thiên Học là tấm bia cho những mũi tên độc Thần linh học nhắm vào. Người bảo tŕ một phần Chơn lư lại đối kháng mạnh mẽ người bảo tŕ toàn thể Chơn Lư hơn là đối với người hoàn toàn xa lạ với Chơn Lư.

Tác giả thành tâm cảm tạ các nhà Thông Thiên Học, đă đưa ư kiến và đặt các câu hỏi hoặc đă giúp vào việc thực hiện quyển sách. Nhờ quí bạn, mà tác giả thu hoạch một lợi ích lớn lao, công ơn nầy thật là của quí bạn.

                                                               H. P. BLAVATSKY 
 



chương 1. 2.  3.  4.  5.  6.  7.  8.  9. 10. 11. 12. 13. 14. đầu sách. cuốí sách. mục lục. chú thích
 

CHƯƠNG I


      MINH TRIẾT THIÊNG LIÊNG VÀ HỘI THÔNG THIÊN HỌC

 

Ư NGHĨA CỦA DANH TỪ 

Vấn: Người ta thường nói về Thông Thiên Học, và Giáo lư nầy như là một tôn giáo mới thành lập. Phải chăng Thông Thiên Học là một tôn giáo? 

Đáp: Thông Thiên Học không phải là một tôn giáo mà là sự Tri thức Thiêng liêng hay Khoa học Thiêng liêng.

 

Vấn: Ư nghĩa thật sự của danh từ nầy là chi ?

Đáp: Ư nghĩa chính xác nhất là “Minh Triết Thiêng Liêng “.Theosophia, hay là Minh Triết của các Đấng Cao Cả, tự ngữ Theogonia là thần phổ. Chữ Theos theo nghĩa Hy-Lạp là một vị Thiên-Đế, một trong các thực thể thiêng liêng, chớ không phải là “Thượng-Đế “, ư nghĩa mà ngày nay người ta hay gán cho danh từ nầy. Như vậy ta không nên gọi là “Minh Triết của Thượng Đế “, như vài người đă dịch, mà nên gọi là Minh Triết Thiêng Liêng, Minh Triết mà các Đấng Cao Cả đă hoạch đắc. Danh từ nầy đă có từ nhiều ngàn năm rồi.

 

Vấn: Nguồn gốc của danh từ Minh Triết Thiêng Liêng ra sao ? 

Đáp: Danh từ nầy ra đời do các triết gia thành Alexandrie, những người được gọi là Philalèthes hay người yêu mến Chơn lư. Phil là “yêu mến”, Aletheia là “Chân lư”. Tự ngữ Minh Triết Thiêng Liêng (Theosophia) có từ thế kỷ thứ ba của kỷ nguyên chúng ta, và Ammonius Saccas là người đầu tiên dùng chữ Theosophia. Chính ông và các môn đệ đă cải cách phương pháp củ[1] a các nhà Thông Thiên Học chiết trung (Théosophes éclectiques).

 

Vấn: Mục đích của hệ thống nầy ra sao ?

Đáp: Điểm chính là ghi vài Chân lư vĩ đại vào trí năo toàn thể môn đệ của Ammonius Saccas cùng tất cả những người yêu mến Chân lư. Do đó, mới có tiêu ngữ “Không tôn giáo nào cao hơn Chân lư “ và nó đă được Hội Thông Thiên Học chấp nhận. Mục đích chánh  yếu của trường phái Thông Thiên Học chiết trung là một trong ba mục đích của Thông Thiên Học, và những người kế vị tân tiến đă căn cứ vào các Chân lư vĩnh cữu để ḥa giải tất cả các tôn giáo, giáo phái, quốc gia trong một hệ thống cộng đồng luân lư.

 

Vấn: Làm sao chứng minh được điều đó không phải là một giấc mơ khó  thực hiện, và cũng để chứng minh rằng tất cả các tôn giáo trên thế gian đều căn cứ vào một Chân lư duy nhứt và tương đồng?

 Đáp: Chúng tôi chứng minh điều đó bằng cách nghiên cứu, đối chiếu và phân tích các tôn giáo. Trong thời cổ “Tôn Giáo Minh Triết” chỉ là Một và sự đồng nhất tính của tất cả triết lư tôn giáo sơ khai được chứng minh bởi sự đồng nhất tính của các giáo lư đă truyền dạy các bậc Thụ pháp trong Huyền môn, và đó là lối giáo dục mà xưa kia đă được truyền bá một cách phổ quát. Tất cả sự tôn thờ cũ đều phát giác rằng, trước đó, có sự hiện tồn của Minh Triết Thiêng Liêng duy nhất và chiếc ch́a khóa mở được một, sẽ mở được tất cả, bằng không đó là một ch́a khóa giả (Triết lư chiết trung).

 

KẾ HOẠCH CỦA  HỘI THÔNG THIÊN HỌC

 

Vấn: Vào thời Ông Ammonius Saccas đă có nhiều tôn giáo lớn, c̣n riêng các giáo phái Ai-Cập và Palestine cũng đông đảo lắm rồi. Làm thế nào Ammonius Saccas có thể ḥa giải được tất cả ?

Đáp: Bằng cách thực hiện điều mà chúng ta đang cố gắng hiện nay. Lúc đó các nhà Tân Platon (Néo-Platoniciens) rất đông, họ thuộc vào các trường triết lư tôn giáo khác nhau giống trường hợp các nhà Thông Thiên Học của chúng ta. Vào thời đó, Ông Aristobule, người Do-Thái, xác nhận rằng nhà đạo đức Aristote là đại diện cho huấn giáo bí truyền của luật Moise; rồi Ông Philon, cũng người Do-Thái, cố gắng ḥa giải Pentateuque [2] với triết lư của Đức Pythagore và của Platon hay Ông Josèphe th́ các tu sĩ Esséniens [3] phái Carmel chỉ là những người mô phỏng và tiếp nối công việc của các nhà chuyên khoa trị liệu Ai-Cập (hoặc các ngựi chữa bệnh). Ở thời kỳ chúng ta ngày nay cũng thế. Chúng ta có thể chứng tỏ nguồn gốc của mỗi Cơ Đốc Giáo, mỗi giáo phái; thậm chí đến những giáo phái ít quan trọng nhất. Những giáo phái sau nầy là nhánh nhỏ, chồi con của các nhánh chính; và tất cả đều cùng chung một thân cây”TÔN GIÁO MINH TRIẾT” mà ra. Đây là mục đích mà Ammonius Saccas cố ḥa giải các người Dị giáo, Cơ Đốc giáo và những người tôn sùng Ngẩu tượng nên chấm dứt các cuộc tranh luận, kích bác nhau. Ông nhắc cho họ nhớ Chân lư mà họ hoạch đắc dưới nhiều h́nh thức khác nhau chỉ là một. Họ là những đứa con cùng chung một mẹ thôi. Thật ra, mục đích của Ammonius Saccas là mục đích của Thông Thiên Học.

 

Vấn: Bạn có thể kể những điển cứ nào bạn dùng để chứng minh về những người Thông Thiên Học cổ của thành Alexandrie ?

 

Đáp: Ông Mosheim có nói đến một trong các văn nhân hữu danh là Ammonius Saccas. Chính Ammonius có giảng dạy rằng: “Tôn giáo của dân tộc được liên kết chặt chẽ với triết học, và sự liên kết nầy bị hủy hoại, mờ tối bởi ư kiến của người đời, bởi sự mê tín và dối trá; v́ vậy, người ta phải phục hồi sự thuần khiết nguyên thủy của tôn giáo bằng cách giải thích các nguyên lư triết học.Đức Christ muốn phục hưng nền Minh Triết thời xưa, tái lập nguyên vẹn  trạng thái sơ khai, giới hạn sự chế ngự của ḷng mê tín gần như phổ quát và bài trừ những sai lầm đă len lỏi vào các tôn giáo phổ thông.”

Đây chính là điều mà các người Thông Thiên Học ngày nay phải giải bày. Nhưng lúc đó Ông Ammonius đă được sự trợ giúp, nâng đỡ của hai tu sĩ giáo đường là Clément và Athénagore, và của các nhà uyên bác trong giáo hội Do-Thái, các triết gia trong Hàn lâm viện, cùng các triết gia của Bosquet. Ông giảng dạy giáo lư duy nhất cho tất cả mọi người, nhưng nay chúng tôi noi theo đường lối của ông th́ lại bị nguyền rủa và ngược đăi. Sự kiện nầy chứng tỏ con người của một ngàn năm trăm trước khoan dung hơn con người ở thế kỷ tân tiến của chúng ta ngày nay.

 

Vấn: Mặc dầu giáo lư duy nhất của ông Ammonius là tà thuyết (đối với giáo lư La-Mă) nhưng ông được nâng đỡ bởi ông vẫn giảng dạy giáo lư Cơ-Đốc, phải chăng v́ ông là một tín đồ ?

 

Đáp: Không phải thế. Ông được sinh ra trong gia đ́nh Cơ Đốc nhưng ông không chấp nhận giáo lư của Thánh Đường. Mosheim đă nói về Ammonius như sau:

“Ông chỉ thuyết minh các giáo huấn phù hợp với giáo huấn thuộc trụ cổ của Hermes mà triết gia Platon và Pythagore đă biết trước ông và đă lập thành nền triết học của hai Ngài. Nhờ t́m thấy những giáo lư giống như thế trong tự ngôn Phúc-Aâm (Eùvangile) của Thánh Jean, ông Ammonius giả thuyết rất chính xác rằng mục đích của Đức Jésus là phục hưng trạng thái nguyên vẹn, sơ khai của đại giáo lư Minh Triết. Theo ông, sự trần thuật của Thánh kinh (Bible), lịch sử của các Thánh, những ẩn dụ giải thích về chân lư cũng như những chuyện hoang đường cần được loại bỏ”. Hơn nữa, trong Bách khoa Toàn thư [4] có nói về Ammonius như sau:

“ Ông nh́n nhận Đấng Jésus-Christ là một Đấng tuyệt luân , là ‘Bạn của Thượng Đế’, nhưng ông chủ trương Đức Jésus không có ư định loại bỏ hoàn toàn sự thờ phượng thần minh, Ngài chỉ trù định thanh lọc tôn giáo cổ thời”. 


TÔN GIÁO MINH TRIẾT BÍ TRUYỀN TRẢI QUA CÁC THỜI ĐẠI

 

Vấn : Ông Ammonius Saccas không viết để lại điều chi cả. Vậy làm sao người ta có thể biết chắc rằng giáo lư của ông là đúng?

 

Đáp : Đức Phật, Đức Pythagore, Đức Khổng-Tử, Đức Orphée, Đức Socrate hay Đức Jésus đều không lưu truyền văn tự. Tuy nhiên các Ngài là những nhân vật lịch sử nên giáo lư của các Ngài vẫn được truyền đạt đến chúng ta. Các đệ tử của ông Ammonius (trong số đó có ông Origène và Herennius) đă viết những khái luận, đồng thời cũng giải thích giáo lư của Sư Phụ ḿnh. Những sách nầy c̣n có thật trong lịch sử hơn là những bức Thánh thư của các Sứ Đồ Cơ Đốc. Vả lại các đệ tử của ông như Origène, Plotin và Longin (Longin là cố vấn tối cao của Hoàng hậu nổi danh Zénobie) đều có lưu lại hậu thế nhiều bản tường tŕnh về học phái Philalèthe (yêu mến Chân lư), nhứt là nhờ sự truyền bá công khai mà dân chúng được hiểu biết tín ngưỡng của họ; hơn nữa, ngoài giáo lư công truyền, học phái Philalèthe cũng có giáo lư bí truyền.

 

Vấn : Làm sao giáo lư bí truyền được phổ biến khi bạn cho rằng cái đă gọi đúng theo danh từ là Tôn Giáo Minh Triết lại thuộc về nội môn bí truyền?

 

Đáp : Tôn Giáo Minh Triết lúc nào cũng là một, và là từ ngữ cuối cùng của mọi trí thức nhân loại, thế nên Nó được giữ ǵn cẩn thận. Danh từ nầy xuất hiện trước các thời đại của những người Thông Thiên Học thành Alexandrie. Nó được duy tŕ đến ngày nay, và sẽ trường tồn hơn tất cả các tôn giáo, triết lư khác.

 

Vấn : Ai đă ǵn giữ Tôn Giáo Minh Triết và ǵn giữ ở đâu?

 

Đáp : Nó được giữ ǵn bởi các Bậc đắc đạo của mọi quốc gia, bởi các nhà sưu tầm thâm sâu về Chân lư và các môn đồ của họ; bởi những nơi trên thế giới mà các đề tài phù hợp với điều do Tôn Giáo Minh Triết diễn tả và được dân chúng ưa thích nghiên cứu nhiều nhất như  ở Ấn-Độ, Trung Đông và Ba-Tư.

 

Vấn : Bạn có thể nào cho biết những bằng chứng và đặc tính bí truyền của Tôn Giáo Minh Triết không?

 

Đáp : Bằng chứng tốt nhất mà bạn có được là thuở xưa, mọi sự thờ phượng thuộc tôn giáo hoặc triết học đều gồm có phần bí truyền hay mật và phần công truyền hay hiển. Vả lại ở khắp các quốc gia, mọi người đều biết Huyền linh học của người xưa gồm có: “Huyền linh học thượng đẳng “(mật) và “Huyền linh học hạ đẳng” (hiển), thí dụ các nghi thức trang nghiêm, hữu danh được gọi là Eleusis ở Hy-Lạp. Từ các vị Đại tư giáo ở Samothrace Ai-Cập, các Bà-la-môn thụ pháp của xứ Ấn-Độ, đến các pháp sư Hy-ba-lai (Rabbins Hébreux), tất cả đều có thiện ư giữ ǵn bí mật tín ngưỡng chân thật của họ v́ sợ tội phạm thần. Các pháp sư Do-thái gọi lư thuyết về tín ngưỡng ngàn xưa của họ là Mercavah (cái thể bên ngoài), là “công cụ truyền đạo” hay lớp vỏ chứa đựng linh hồn ẩn tàng, đây là sự hiểu biết bí nhiệm, cao cả nhất của họ. Các tăng lử thuộc nhiều quốc gia cổ không bao giờ truyền dạy giáo lư nội môn thật sự của họ cho dân chúng. Họ chỉ tiết lộ những ǵ thuộc phần ngoài của giáo lư mà thôi. Phật giáo Bắc tông đă có phương tiện để truyền đạo: “thượng đẳng” và “hạ đẳng” được biết dưới danh từ Đại thừa (Mahayana), hoặc Trường Bí truyền, và Tiểu thừa (Hinayana) hay Trường Công truyền. Người ta không thể nào khiển trách sự phân chia ra công truyền và bí truyền của họ được, bởi lẽ làm sao cung cấp những bài nghị luận uyên bác cho các con cừu, thay v́ cho chúng nó cỏ. Đức Pythagore gọi Minh Triết Học của Ngài là “sự tri thức của hiện vật”; Ngài truyền dạy cho các đệ tử hữu thệ v́ đó là thực phẩm tinh thần rất thích hợp và v́ họ cũng đă nguyện giữ im lặng, kín đáo nữa. Các mẫu tự huyền bí và các con số mật nhiệm trích ra từ các tế văn cổ Ai-Cập mà ngày xưa, chỉ có các tu sĩ trong tự viện, hoặc các tăng lữ thụ pháp Ai-Cập được truyền cho bí quyết để mở mang trí thức thôi. Theo các sử gia viết về ông Ammonius Saccas thuật lại, th́ các đệ tử của Ammonius bị bắt buộc thệ nguyện giữ cẩn mật giáo lư thượng đẳng của ông, ngoại trừ những người đă được thụ huấn về sự tri thức sơ khởi; tuy nhiên họ cũng đă bị ràng buộc bởi lời thệ nguyện. Cuối cùng, có thể nào người ta lại không thấy sự khác nhau giữa giáo lư bí truyền và công truyền trong học phái Duy Trí, trong Cơ Đốc giáo nguyên thủy, và chính trong các giáo huấn của Đức Christ hay sao ?

Đức Christ chẳng nói trước đám đông rằng các ngụ ngôn đều có hai nghĩa, và Ngài đă không giải thích những ẩn ư cho đệ tử duy nhất của Ngài hay sao? Ngài nói với họ : “các người được phép hiểu biết sự huyền nhiệm của Thiên Quốc, nhưng đối với người ngoài, ta chỉ luận giải bởi ngụ ngôn thôi”.(Marc IV,II). Các vị Esséniens ở Judée [5] và ở Carmel [6] cũng thực hiện sự phân chia tương tự, nghĩa là họ chia các môn đồ ra hai hạng: hạng tân tín đồ hoặc huynh đệ, và hạng hoàn toàn hoặc thụ pháp (Philosophie  Eclectique) [7].

Ở khắp các quốc gia, người ta có thể kể ra nhiều thí dụ tương tự như vậy.

 

Vấn : Minh Triết Bí Truyền có thể đạt được bằng sự nghiên cứu đơn độc chăng? Trong Bách Khoa Toàn Thư có định nghĩa danh từ Minh Triết Thiêng liêng gần giống như trong quyển tự điển của Ông Webster đă ghi: “một sự giao cảm với Thượng Đế và với các Chơn linh thượng đẳng; do đó, trí thức siêu nhân loại có thể hoạch đắc được nhờ phương tiện vật lư hoặc phương pháp hóa học”. Có đúng như thế không ?

 

Đáp : Tôi không tin điều đó. Không một nhà từ ngữ học nào có đủ khả năng để giải thích cho ḿnh và cho người khác hiểu v́ sao người ta có thể đạt được sự tri thức siêu nhân nhờ phương pháp vật lư hoặc hóa học. Nếu ông Webster cho rằng:”nhờ phương pháp luyện kim và siêu h́nh học”, th́ định nghĩa của ông có thể gần đúng hơn; đằng này, ông đă đưa ra những điều phi lư. Các người Thông Thiên Học thời cổ cũng như hiện nay, đều xác nhận cái hữu hạn không thể nào hiểu biết được cái vô hạn, nghĩa là cái Ngă hữu hạn không tri thức được điều đó. Nhưng cái tinh túy thiêng liêng có thể tự giao cảm với cái Ngă Tâm linh thượng đẳng trong trạng thái xuất thần (extase). Thật ra rất khó đạt được đến trạng thái nầy cũng như trạng thái thôi miên bằng phương tiện vật lư và hóa học đều không thành công”.

 

Vấn : Bạn giải thích cách nào về vấn đề nầy?

 

Đáp : Trạng thái xuất thần thật sự như ông Plotin (đệ tử của ông Ammonius Saccas) đă định nghĩa là “ sự giải thoát tinh thần ra khỏi tâm thức hạn định của con người để được đồng hóa và trở thành  một với vô tận. Theo giáo sư Wilder, th́ trạng thái nầy là một điều kiện cao cả nhất mà con người có thể đạt đến, nhưng không thường xuyên, và chỉ có một số rất ít người có thể hoạch đắc thôi. Thật ra, ở Ấn Độ trạng thái xuất thần được  đồng hóa với danh từ Nhập Định (Samâdhi). Trạng thái nhập định được các nhà Yoguis luyện tập để chứng được và ngoài ra trên phương diện vật chất, họ c̣n hổ trợ bằng sự kiêng cử chặt chẽ các thức ăn uống, trên phương diện tinh thần, bằng sự cố gắng liên tục để thanh lọc các thể và nâng cao tâm thức. Tham thiền là lời cầu nguyện im lặng không thốt nên lời như  ông Platon đă định nghĩa như sau:

“Nguyện vọng nồng nhiệt của linh hồn hướng về Thiêng liêng không phải để cầu xin một điều lành riêng tư (ư nghĩa người ta gán cho lời cầu nguyện), nhưng cho chính Điều Thiện Tối Thượng phổ quát mà tất cả chúng ta đều là một  phần của Điều Thiện đó tại địa cầu và cũng từ đó chúng ta xuống cơi trần”. V́ vậy ông Platon nói thêm: “Ngươi hăy đứng lặng im trước các Đấng Thiêng Liêng cho đến khi nào các Ngài làm tan đi đám mây mờ nơi mắt ngươi và ban cho ngươi cái khả năng trông thấy nhờ thực chất trọn lành của ánh sáng phát tỏa ra từ các Ngài chớ chẳng phải những ǵ dường như chỉ trọn lành cho ngươi mà thôi”.

 

Vấn : Vậy Thông Thiên Học không phải là một học phái mới phát minh như người ta tưởng nghĩ  sao?

 

Đáp : Chỉ có những người không hiểu mới nói thế. Các giáo huấn và luân lư của Thông Thiên Học cũng xưa như quả địa cầu, nếu không về danh từ th́ cũng về sự việc. Không có một hệ thống nào rộng răi hơn, phổ quát hơn hệ thống của Thông Thiên Học.

 

Vấn : Nhưng v́ sao Thông Thiên Học chưa được các quốc gia Tây phương  hiểu biết? V́ sao mọi người  đều chứng minh rằng Thông Thiên Học là một quyển sách khép kín đối với những nhà trí thức và tiến bộ nhiều nhất?

 

Đáp :Nguyên do thứ nhất, bởi phần đông con người có tánh ích kỷ, tà vạy; do đó, họ có khuynh hướng luôn luôn t́m cách thỏa măn các điều ham muốn cá nhân nên gây thiệt hại cho đồng loại và những người lân cận. Vậy không thể nào ủy thác các điều huyền nhiệm thiêng liêng cho những hạng người như thế.Nguyên do thứ hai, bởi các bản thể đó không có khả năng giữ ǵn cẩn mật sự hiểu biết thiêng liêng, cao cả. Chính v́ lư do nầy mà các Chân lư và các biểu tượng siêu việt bị suy đồi. Mặt khác, sự biến đổi dần dần các điều thuộc lănh vực tâm linh trở thành những sự tŕnh bày về thần nhân hóa một cách vụng về và cụ thể. Do sự bất lực nêu trên đă làm suy giảm và biến tính các tư tưởng về Thánh linh và đưa đến việc tôn thờ ngẫu tượng (L’idolâtrie).

 

THÔNG THIÊN HỌC KHÔNG PHẢI LÀ PHẬT GIÁO

 

Vấn : Người ta thường gọi các bạn là người của “Phật Giáo Bí Truyền”. Phải chăng các bạn đều là đệ tử của Đức Phật Gautama?

 

Đáp : Không bắt buộc phải thế, cũng như  các nhạc sĩ đều không phải là học tṛ của Wagner [8]. Trong số chúng tôi có vài tín đồ Phật giáo,; tuy nhiên có nhiều người Ấn Độ giáo và Bà-la-môn giáo; ngoài ra c̣n có người Âu-Châu và người Mỹ-Châu gốc Cơ-Đốc nhiều hơn các Phật tử cải tông. Sự lầm lạc do việc giải thích không đúng ư nghĩa thực sự về tựa đề tác phẩm tuyệt hảo của ông Sinnett là: “Bouddhisme Esotérique”. Danh từ Bouddhisme phải viết với một chữ ‘d’ thay v́ hai, như thế Boudhisme mới có nghĩa chính xác là “Minh Triết” (Bodha, Bodhi, “Trí-tuệ”, “Minh Triết”) thay v́ Bouddhisme là triết giáo của Đức Phật Gautama. Vậy, Thông Thiên Học là Tôn Giáo Minh Triết như tôi đă tŕnh bày.

 

Vấn : Có sự khác biệt nào giữa Bouddhisme (Phật giáo) là tôn giáo được thành lập bởi vị Hoàng tử của xứ Kapilavastu, và Boudhisme “Minh Triết” đồng nghĩa với Thần Triết như bạn đă nói không?

 

Đáp : Giống như giữa nghi thức chủ nghĩa và tín điều thần học của các giáo đường, giáo phái và giáo huấn bí truyền của Đức Christ, được gọi là “các điều huyền nhiệm của Thiên quốc”. Phật (Bouddha) có nghĩa là “Giác ngộ” bởi Bodha hoặc trí tuệ hay Minh Triết. Cuối cùng, sự Minh Triết này tạo thành giáo huấn toàn vẹn bí truyền mà Đức Gautama chỉ giảng dạy các bậc La-Hán (Arhats) đă được Ngài lựa chọn thôi.

 

Vấn : Có vài nhà Đông phương học lại phủ nhận việc đó. Họ cho rằng Đức Phật không bao giờ giảng dạy giáo lư bí truyền.

 

Đáp : Họ cũng có thể phủ nhận việc đối với các nhà khoa học,Tạo Hóa có nhiều điều bí mật. Sau nầy tôi sẽ chứng minh điều đó bởi cuộc đàm thoại giữa Đức Phật và  đệ tử của Ngài là Ananda. Các giáo huấn bí truyền của Đức Phật chỉ thật giản dị là Kinh Gupta Vidya (tri thức huyền bí) của các Bà-la-môn xưa mà các người thừa kế tân tiến của họ đă đánh  mất hẳn đi cái bí quyết, ngoại trừ vài người c̣n giữ được. Về phần Vidya, chính Nó đă xâm nhập vào cái mà ngày nay người ta gọi là giáo lư nội môn của phái Đại Thừa (Ecole Mahayana) và của Phật giáo Bắc Tông. Những ai đă phủ nhận điều nầy chỉ là nhà Đông Phương Học giả dối, kém thông minh. Tôi khuyên bạn nên đọc quyển Phật Giáo Trung Hoa (Chinese Buddhism) của Giám mục J. Edkins nhất là những chương viết về trường phái công truyền và bí truyền cùng các lời giáo huấn. Bạn nên so sánh ư kiến của tác giả về vấn đề đó với chứng cứ của tất cả các giới thời cổ.

 

Vấn : Nhưng luân lư Thông Thiên Học há không tương tự với luân lư đă được Đức Phật huấn dạïy sao ?

 

Đáp : Đúng như thế, v́ luân lư nầy là linh hồn của Tôn Giáo Minh Triết . Bởi xưa kia, Nó là sở hữu cộng đồng của các Bậc Đắc Đạo của tất cả mọi quốc gia. Nhưng Đức Phật là người đầu tiên đă du nhập giáo lư siêu việt nầy và các giáo huấn công truyền của Ngài và dùng làm căn bản tinh túy cho hệ thống truyền bá công khai. Đây là sự phân biệt rơ rệt giữa Phật giáo công truyền với các tôn giáo khác. Trong các tôn giáo khác th́ nghi lễ và tín điều chiếm hàng đầu, c̣n trong Phật giáo, phần luân lư rất quan trọng. Do đó, mới có sự giống nhau gần như đồng nhất giữa luân lư của Thông Thiên Học và luân lư trong tôn giáo của Đức Phật.    
 

Vấn : Có sự sai biệt nào giữa hai luân lư chính yếu nầy không ?

 

Đáp : Một trong sự phân biệt lớn lao hiện có giữa Thông Thiên Học và Phật Giáo công truyền là việc phái Tiểu Thừa Nam Tông tượng trưng cho Phật Giáo công truyền đă phủ nhận:  

a)- sự trường tồn của một Đấng Thiêng Liêng nào đó,

b)- ư thức về sự sống bên kia cửa tử cho đến mọi cá thể tự tri thức sự sống c̣n của con người. Đây là giáo huấn của giáo phái Xiêm-La (Thái-Lan) mà hiện nay, người ta xem như h́nh thức thuần túy nhất của Phật giáo công truyền và sẽ như thế măi nếu người ta không chấp nhận các giáo huấn công truyền của Đức Phật. Sau nầy, tôi sẽ giải thích về các ẩn ư đó. Dù sao các trường phái của phái Đại Thừa Bắc Tông được thành lập trong những xứ mà các Đấng La-Hán (Arhats) thụ pháp ẩn dật sau khi Đức Phật tịch, đă giáo huấn tất cả những điều mà hiện nay người ta gọi là giáo lư Minh Triết bởi đó là thành phần tri thức của các Đấng được thụ pháp. Các giáo lư nêu trên chứng minh v́ sao Chân lư bị hi sinh cho sự truyền bá quá nồng nhiệt của phái Tiểu Thừa Nam Tông. Thật ra trong các Giáo lư diễn tả Minh Triết Thiêng Liêng, có biết bao điều vinh quang, vĩ đại, hàm súc những triết lư cao siêu và khoa học hơn bất cứ giáo đường hoặc tôn giáo nào khác. Tuy nhiên, Thông Thiên Học không phải là Phật Giáo.

 


chương 1. 2.  3.  4.  5.  6.  7.  8.  9. 10. 11. 12. 13. 14. đầu sách. cuốí sách. mục lục. chú thích
 

CHƯƠNG  II

 

MINH TRIẾT THIÊNG LIÊNG BÍ TRUYỀN VÀ CÔNG TRUYỀN

 

ĐIỀU MÀ HỘI THÔNG THIÊN HỌC THỜI ĐẠI KHÔNG CÓ ĐƯỢC

 

Vấn : Vậy các giáo lư của bạn không phải là sự phục hưng Phật giáo cũng không bắt chước theo phái Thông Thiên Học Tân Platon sao?

Đáp : Thực sự không phải thế. Để đáp lại các câu hỏi vừa nêu ra, tôi không thể có một câu trả lời nào hay hơn đoạn văn sau đây được trích nơi bài nghiên cứu về”Thông Thiên Học “ của Bác sĩ J.D. Buck , một hội viên, tŕnh bày tại Đại Hội Thông Thiên Học ở Chicago, Mỹ Châu (tháng tư năm 1889). Đúng ra chẳng có người Thông Thiên Học nào giải thích chính xác và thông suốt cái tinh túy thực sự của Thông Thiên Học hơn Bác sĩ  Buck, người Bạn khả kính của chúng ta:

“Hội Thông Thiên Học được thành lập với mục đích truyền bá giáo lư và giảng giải về đời sống Thông Thiên Học. Hội Thông Thiên Học không phải là Hội đầu tiên truyền bá giáo lư nầy. Tôi có một quyển sách tựa đề:”Thông Thiên Học Ḥa Giải do Hội Thông Thiên Học Philadelphie”, xuất bản tại Luân Đôn năm 1697, và một tác phẩm tựa đề “Thông Thiên Học nhập môn hay Khoa Huyền Học của Đức Christ, có nghĩa là của Thánh Linh, của Thiên Nhiên và Tạo Vật, gồm có triết lư của tất cả các quyền năng linh hoạt về đời sống tâm linh thần bí. Các điều nầy hợp thành người chỉ dẫn thực tiễn về sự thanh khiết, thánh thiện, siêu việt và sự hoàn thiện phúc âm, cũng như việc hoạch đắc thị lực thiêng liêng và quyền lực của Thiên Thần cùng các đặc quyền khác về sự phục sinh “. Sách đă được  xuất bản tại Luân Đôn năm 1885. Và đây là lời đề tặng của tác phẩm :

“ Sách nầy dành cho các sinh viên Đại Học, Trung Học và các trường Cơ Đốc Giáo, cho các Giáo sư  Siêu H́nh Học, Cơ giới học và Vạn vật học dưới tất cả mọi h́nh thức; cho tất cả những người nam và nữ có học vấn tổng quát và đức tin chính thống; cho các người theo Tự  Nhiên Thần Giáo (Déistes), Aryens, Duy Nhất Thần Giáo (Unitériens), Swedenborgiens và các môn đồ thuộc về tín ngưỡng sai lầm, không nguồn cội, cho các người thuần lư cũng như hoài nghi, cho các người Hồi giáo công bằng, sáng suốt cùng các người Do-Thái và tín đồ thuộc tôn giáo Tộc trưởng Đông phương; và nhất là dành cho các mục sư của Phúc âm cùng các nhà truyền giáo các dân tộc sơ khai hoặc tiến bộ. Xin khiêm tốn và thân ái cung hiến sự dẫn khởi Thông Thiên Học hay Khoa Huyền Học căn bản về vạn vật.”

“ Vào năm sau,(1856) lại xuất hiện một quyển sách khác độ 600 trang, loại đặc biệt tựa đề: “Thông Thiên Học Hỗn Hợp”. Tác phẩm nầy chỉ in có 500 quyển để trao tặng các thư viện và các Đại học đường. Các phong trào đầu tiên rất đông đảo, xuất phát từ giáo đường, do những người có ḷng sùng bái và được nhiều uy tín. Các tác phẩm nầy khoác một h́nh thức chính thống và xử dụng cách phát biểu theo Cơ Đốc Giáo như tác phẩm của Linh mục William Law, ông chỉ đem lại cho độc giả bậc trung sự chú ư về tín ngưỡng và ḷng tôn sùng sâu xa của ông thôi. Tất cả tác phẩm nêu trên đều nhằm mục đích làm rơ nguồn cội kinh sách Cơ Đốc, đồng thời giải thích ư nghĩa sâu sắc nguyên thủy của chúng cũng như làm rạng danh và phát triển đời sống Thông Thiên Học. Nhưng các tác phẩm đó bị lăng quên nhanh chóng và ngày nay ít được ai biết đến. Chính các tác phẩm nầy đă t́m cách cải thiện hàng tăng lữ và làm thức tỉnh ḷng sùng tín thuần khiết, nhưng chúng lại không được chân thành đón nhận. Chỉ mang tiếng là “tà thuyết” cũng đủ chôn vùi chúng vào quên lăng. Ở thời kỳ Tôn giáo cải cách, ông Jean Reuchlin thử thực hiện một công việc tương tự nhưng kết quả cũng thất bại mặc dù ông là bạn thân thiết và tín cẩn của ông Luther. Chính thống giáo không bao giờ muốn được giáo huấn và soi sáng. Người ta cho các nhà cải cách biết về trường hợp của ông Festus đă thực hiện đối với ông Paul. Ông Festus cho rằng sự uyên bác thái quá khiến họ trở thành điên khùng, có thể gặp nguy hiểm nếu họ muốn đi xa hơn. Việc chẳng lưu ư đến cách tŕnh bày dài ḍng là do ở thói quen phần nào, và cũng do tŕnh độ giáo dục của các tác giả, mặt khác do nơi sự cưỡng chế tôn giáo bị bắt buộc bởi quyền lực thế tục. Đi ngay vào vấn đề, chúng ta nhận thấy rằng các tác phẩm bị bỏ quên đó đă diễn tả Minh Triết Thiêng Liêng theo ư nghĩa thực sự nghiêm túc và chỉ duy nhất dành cho trí thức của nhân loại cũng như dành cho sự sống thượng đẳng của linh hồn. Phong trào Thông Thiên Học hiện tại đôi khi được xem như là công cuộc thử chuyển hóa Cơ Đốc Giáo thành Phật Giáo, có nghĩa giản dị là chữ ‘tà thuyết’ đă bị mất tất cả quyền lực để chỉ trích. Vào mọi thời đại, vài người đă hiểu biết một cách rơ ràng hơn hoặc ít ra Giáo lư Thông Thiên Học cũng đă du nhập vào chính cái tinh túy đời sống của họ. Các giáo lư nầy không thuộc một tôn giáo nào; cũng không tự giới hạn vào một xă hội hoặc thời kỳ nào. Chúng nó là tài sản của mỗi linh hồn nhơn loại. Chính thống giáo cần được bứng tận gốc rễ nơi tâm của mỗi người tùy theo bản tính, nhu cầu, và cũng tùy theo kinh nghiệm khác biệt của họ. Điều nầy giải thích v́ sao những ai tin tưởng rằng Thông Thiên Học là một tôn giáo mới th́ phải thất vọng khi t́m hiểu các tín điều và nghi thức của nó. Tín ngưỡng của Thông Thiên Học là sự Thành Thật đối với Chân lư, và nghi thức của Thông Thiên Học gồm có việc  áp dụng Chân lư với ḷng tôn kính.

Người ta sẽ thấy phần đông dân chúng hiểu biết rất nông cạn về hiệu lực của T́nh Huynh Đệ Đại Đồng, họ không nhận thức được tầm quan trọng và siêu việt của nó, bởi họ chỉ nh́n vào sự khác biệt do dư luận và sự giải thích hời hợt về Thông Thiên Học. Hội Thông Thiên Học được thành lập v́ một nguyên lư duy nhất: T́nh Huynh Đệ chính yếu của con người như đă phác họa và tŕnh bày sơ lược nơi đoạn trên. Người ta đă bài bác Hội Thông Thiên Học cho là Phật Giáo và bảo nó chống đối Cơ Đốc Giáo, nhưng nó có thể là cả hai v́ Phật giáo và Cơ Đốc giáo, theo các nhà sáng lập đă tŕnh bày, đều dùng T́nh Huynh Đệ làm giáo lư chính yếu cho sự giảng dạy cũng như cho đời sống. Người ta đă cho Thông Thiên Học là một triết học mới mẻ dưới ánh mặt trời, hoặc ít ra cũng là một thần bí thuyết cổ