trang nhà l trang sách l bản tin l thiền học l tiểu sử l trang thơ l h́nh ảnh l bài vở
(THE LIFE AFTER DEATH)
đầu sách cuối sách mục lục chương 1 2 3 4 5 6 7 8 9
Tác giả C.W.Leadbeater
Bản Dịch Tâm Như, Hè 2006
Nhà xuất bản Thông Thiên Học, Adyar
Tái bản lần thứ mười hai 2004
In tại nhà in Vasanta
Hội Thông Thiên Học
Adyar, Chennai 6000 020, India
Charles Webster Leadbeater sinh năm 1847 – 1934, là một giáo sĩ thuộc Giáo hội Anh quốc cho tới khi ông gia nhập Hội Thông Thiên Học vào năm 1883. Ông đă sống một số năm ở Tích Lan làm việc để phục hưng Phật giáo. Năm 1893, ông bắt đầu việc khảo cứu bằng thần nhăn, thỉnh thoảng có hợp tác với bà Annie Besant là Hội trưởng thứ nh́ của Hội Thông Thiên Học. Những tác phẩm của ông hé lộ khía cạnh ẩn tàng của các sự vật và đời sống bên kia cửa tử. Những bài thuyết tŕnh của ông trên khắp thế giới đưa ra một quan niệm mới cho cả ngàn người chiêm nghiệm. Chính ông đă phát hiện ra tiềm năng vĩ đại của J. Krishnamurti, và đă giáo dục Krishnamurti nhằm vào công việc tương lai của đứa trẻ này.
đầu sách cuối sách mục lục chương 1 2 3 4 5 6 7 8 9
I. Liệu có bất kỳ kiến thức chắn chắn nào không ?
III. Luyện ngục
IV. Cơi Trời
VI. Bạn bè của chúng ta ở Cơi Trời
VIII. Những Con người hoạt động trong Cơi Vô h́nh
đầu sách cuối sách mục lục chương 1 2 3 4 5 6 7 8 9
LIỆU CÓ BẤT KỲ KIẾN THỨC CHẮC CHẮN NÀO KHÔNG ?
Đề tài đời sống sau khi chết là một đề tài rất thú vị đối với tất cả chúng ta, chẳng những v́ bản thân chúng ta chắc chắn là một ngày kia cũng phải chết, mà c̣n hơn thế nữa v́ trong số chúng ta có lẽ ngoại trừ những người rất trẻ th́ hầu như chẳng có ai mà không bị thần chết cướp mất (theo như ta gọi điều này) một người nào đó rất thân cận với chúng ta. Như vậy, nếu có bất kỳ thông tin khả dụng nào liên quan tới đời sống sau khi chết th́ tự nhiên là chúng ta rất nôn nóng muốn có được thông tin đó.
Nhưng tư tưởng đầu tiên xuất hiện trong tâm trí của kẻ nào thấy một đề tài như thế thường là thắc mắc: “Liệu ta có thể biết chắc chắn điều ǵ về đời sống sau khi chết hay chăng ? Tất cả chúng ta đều có được nhiều lư thuyết khác nhau trưng dẫn trước mắt ḿnh về đề tài này do đủ thứ đoàn thể tôn giáo đưa ra, thế nhưng ngay cả những tín đồ sùng đạo nhất của các giáo phái này dường như cũng khó ḷng mà tin được giáo huấn đó về vấn đề này, v́ họ vẫn c̣n nói tới sự chết như là “vị vua kinh hoàng” và dường như coi trọn cả vấn đề này đều bị bao quanh bởi sự bí mật và khiếp sợ. Họ có thể dùng thuật ngữ “yên ngủ nơi Chúa Jesus”, nhưng họ vẫn c̣n dùng bộ quần áo đen và chùm lông vũ, cờ tang khủng khiếp và giấy mỏng viết thư ghê tởm có bờ mép màu đen, họ vẫn c̣n bao quanh sự chết với mọi chuyện vẽ vời đầy thù nghịch, và với đủ mọi thứ được trù tính để khiến cho nó dường như là u uẩn và khủng khiếp. Về vấn đề này chúng ta có một di sản tồi tệ; chúng ta đă kế thừa những sự khủng khiếp tang chế này từ cha ông của ḿnh, và thế là chúng ta đă làm quen với nó, tuyệt nhiên không thấy nó thật là phi lư và quái gở. Về phương diện này, cổ nhân c̣n khôn ngoan hơn chúng ta, v́ họ không gắn liền mọi cơn ác mộng u ám này với cái chết của thể xác – có lẽ một phần v́ họ có một phương pháp hợp lư hơn nhiều để xử trí xác chết – một phương pháp chẳng những vô cùng tốt hơn cho người chết và lành mạnh hơn cho người sống mà c̣n không có những hàm ư rùng rợn liên quan tới sự thối rữa từ từ. Họ biết nhiều hơn chúng ta về sự chết ngay cả từ thời đó, và v́ họ biết nhiều hơn cho nên họ than khóc ít hơn.
Điều đầu tiên mà chúng ta phải nhận thức về sự chết đó là: đây là một sự cố hoàn toàn tự nhiên trong quá tŕnh sinh hoạt của ta. Điều này ắt phải là hiển nhiên ngay tức khắc đối với chúng ta, v́ nếu chúng ta có tin vào một đấng Thượng Đế là một bậc Từ phụ, th́ chúng ta nên biết rằng một số phận vốn xảy ra cho tất cả mọi người như là sự chết ắt không thể là điều xấu xa, và cho dù chúng ta ở trên thế giới này hoặc đă chuyển sang thế giới bên kia, th́ chúng ta cũng đều an toàn trong ṿng tay của Ngài. Chỉ nội nhận xét này không thôi ắt cũng đă cho ta thấy rằng sự chết không phải là một điều ǵ đó dễ sợ, mà chỉ là một bước cần thiết trong cuộc tiến hóa của ta. Thông Thiên Học cũng chẳng cần đến với các nước theo Ki Tô giáo và giảng dạy rằng sự chết là một người bạn chứ không phải một kẻ thù. Việc đó cũng không cần thiết trừ phi Ki Tô giáo đă quên hết phần lớn truyền thống tốt đẹp của riêng ḿnh. Nó đă đạt đến mức coi ngôi mộ là “ḍng suối mà không một kẻ lữ khách nào quay về từ đó”, và việc băng qua ḍng suối là một bước nhảy vào đêm tối và một cơi hư vô dễ sợ nào đó mà chưa ai biết tới. Về vấn đề này cũng như nhiều vấn đề khác, Thông Thiên Học có một phúc âm dành cho thế giới phương Tây; nó phải loan báo rằng vượt ngoài ngôi mộ không hề có một vực sâu u ám mà ta không vượt qua nỗi, thay vào đó chỉ có một thế giới ánh sáng và sự sống mà ta có thể biết được một cách trọn vẹn và chính xác giống như những đường phố ở đô thị của chính chúng ta. Chúng ta đă tự tạo ra cho ḿnh sự u buồn và khủng khiếp giống như những đứa trẻ tự nhác ḿnh bằng những câu chuyện ma, và chúng ta chỉ cần nghiên cứu những sự kiện trong trường hợp này th́ mọi đám mây nhân tạo đó sẽ biến đi ngay tức khắc. Sự chết không phải là một ông vua khủng bố nơi chốn âm ty, không phải là một bộ xương cầm lưỡi hái cắt đứt sợi chỉ sự sống, mà đúng hơn là một vị thiên thần cầm một ch́a khóa vàng để mở cửa cho chúng ta bước vào một cuộc sống viên măn hơn và cao siêu hơn cuộc sống của ta.
Nhưng tự nhiên là người ta sẽ hỏi: “Điều này thật là đẹp đẽ và thi vị, nhưng làm sao chúng ta có thể biết chắc được nó quả thực là như thế ?” Bạn có thể biết nó theo nhiều cách khác nhau; có nhiều bằng chứng sẵn có để trao cho bất kỳ người nào mất công thu thập bằng chứng. Phát biểu của Shakespeare quả thật là đáng chú ư khi chúng ta xét thấy rằng ngay từ buổi b́nh minh của lịch sử và nơi mọi xứ sở mà ta chẳng biết ǵ, các khách lữ hành luôn luôn đă từ bên kia ngôi mộ trở về và hiện h́nh ra với đồng loại của ḿnh. Có nhiều bằng chứng về sự hiện h́nh như thế (người ta gọi chúng như vậy). Có một lúc việc chế nhạo tất cả những câu chuyện đó mang tính cách thời thượng, song giờ đây không c̣n như vậy nữa v́ các nhà khoa học như ngài William Crookes (người khám phá ra kim loại Thallium và phát ḿnh ra bức xạ kế Crookes) cùng với ngài Oliver Lodge (nhà khoa học vĩ đại) và những nhân vật công quyền lỗi lạc như ông Balfour, cố Thủ tướng Anh, đều đă gia nhập và hoạt động tích cực trong một Hiệp hội được tạo lập để khảo cứu về những hiện tượng như thế. Ta hăy đọc những phúc tŕnh công tác của Hội Khảo cứu Tâm linh th́ ắt thấy được một điều ǵ đó làm chứng cho việc người chết quả thực có trở về. Ta hăy đọc những quyển sách như Chuyện Ma Có Thực của ông Stead hoặc Kẻ Ẩn Ḿnh của Camille Flammarion, th́ ắt thấy rằng có nhiều bài tường thuật về những sự hiện h́nh ra – không phải cách đây hàng thế kỷ ở một xứ xa xăm nào đó, mà là ở đây và ngay bây giờ trong đám chúng ta – cho những người vẫn c̣n sống; ta có thể thẩm vấn những người này và họ có thể làm chứng cho thực tại trong kinh nghiệm của ḿnh.
Một đường lối khác t́m bằng chứng về đời sống sau khi chết là việc nghiên cứu thần linh học hiện đại. Tôi biết rằng có nhiều người nghĩ là chẳng có chi để phát hiện theo đường lối này ngoại trừ sự gian lận và lừa đảo; nhưng bản thân tôi có thể làm chứng cá nhân rằng không phải như thế đâu. Trong một vài trường hợp có thể có – thậm chí đă có – sự gian lận và lừa đảo; tuy nhiên tôi xin mạnh dạn khẳng định rằng đằng sau điều này có những sự thật lớn lao vốn có thể phát hiện được do bất cứ người nào sẵn ḷng dành trọn sự kiên nhẫn và thời gian cần thiết để phát lộ chúng. Lại nữa, ở đây ta có một kho tài liệu lớn lao để mà nghiên cứu hoặc nếu người nào thích th́ bản thân y có thể khảo cứu trực tiếp giống như chính tôi vậy. Nhiều người có thể không sẵn ḷng mất công dành nhiều thời gian đến như thế; tốt thôi, đó là chuyện của họ. Nhưng nếu họ không chịu khảo sát th́ họ không có quyền chế nhạo những kẻ nào đă chứng kiến, và do đó biết rằng những sự việc này là chân thực.
Một đường lối thứ ba để t́m bằng chứng mà người ta rất khuyến khích tán thành đối với kẻ nghiên cứu Thông Thiên Học, đó là việc trực tiếp khảo cứu. Mọi người đều có bên trong bản thân những năng lực tiềm tàng, những giác quan chưa phát triển, nhờ vào đó ta có thể trực tiếp nhận biết được thế giới vô h́nh, và bất cứ kẻ nào chịu khó triển khai những quyền năng này, th́ trọn cả thế giới bên kia cửa tử sẽ mở rộng ra như ánh sáng thanh thiên bạch nhật. Khá nhiều người Thông Thiên Học đă phát triển được những giác quan nội tại này và tôi muốn nêu ra trước mắt bạn những bằng chứng thu thập được như thế. Tôi thừa biết rằng đây là một lời rêu rao đáng chú ư, một lời rêu rao mà bất kỳ giáo sĩ nào, bất kỳ nhà thờ nào cũng chẳng dám nêu ra khi y tŕnh bày phiên bản của ḿnh về những trạng thái sau khi chết. Y ắt bảo rằng: “Giáo hội dạy như thế” hoặc “Thánh kinh nói như thế”, nhưng y chẳng bao giờ nói rằng: “Khi tôi nói với bạn th́ tôi đă nh́n thấy chuyện đó và biết rằng nó là đúng sự thật”. Nhưng trong Thông Thiên Học, chúng tôi có thể nói hoàn toàn dứt khoát với bạn rằng cá nhân trong nhiều người chúng tôi biết rơ điều mà ḿnh nói, v́ chúng tôi đang bàn tới một loạt nhất định sự kiện mà chúng tôi đă khảo cứu, và đến lượt bản thân bạn cũng có thể khảo cứu. Chúng tôi tŕnh bày với bạn điều mà chúng tôi biết, thế nhưng chúng tôi xin nói với bạn rằng: “Nếu bạn không tán thành điều này là cực kỳ có lư th́ bạn đừng bằng ḷng với những lời quả quyết của chúng tôi; bản thân bạn hăy khào sát những sự việc này rốt ráo đến mức tối đa, nhiên hậu bạn mới ở vào vị thế nói với những người khác một cách đầy thẩm quyền giống như chúng tôi”. Nhưng đâu là những sự kiện mà những cuộc khảo cứu đó đă tiết lộ cho chúng ta ?
đầu sách cuối sách mục lục chương 1 2 3 4 5 6 7 8 9
NHỮNG SỰ KIỆN CHÂN THỰC
T́nh trạng những sự việc thật sự tồn tại tỏ ra hợp lư hơn nhiều so với hầu hết các thuyết hiện hành. Người ta không phát hiện thấy rằng có bất cứ sự thay đổi đột ngột nào diễn ra nơi con người vào lúc y chết, hoặc y biến đi tới một cơi trời nào đó xa tít mù vượt khỏi các v́ sao. Ngược lại, con người sau khi chết vẫn giống y hệt như trước khi chết: cũng như vậy về trí năng, về những phẩm tính và quyền năng; và t́nh huống mà y thấy ḿnh ở trong đó chính là t́nh huống mà những tư tưởng và dục vọng của riêng ḿnh đă tạo ra cho ḿnh rồi. Không có sự thưởng phạt nào từ bên ngoài, mà chỉ có kết quả thực sự của điều mà chính con người đă tạo ra, đă nói năng và suy nghĩ trong khi c̣n ở đây trên trần thế. Thật vậy, trong khi sống ở cơi trần con người đă dọn giường và sau đó y phải nằm lên trên đó. Đây là sự kiện đầu tiên nổi bật nhất: ở đây chúng ta không hề có một sinh hoạt mới mẻ kỳ lạ mà chỉ là một sự nối tiếp sinh hoạt hiện nay. Chúng ta không tách rời khỏi người chết v́ lúc nào họ cũng ở đây, xung quanh chúng ta. Sự chia cách duy nhất đó chính là sự hạn chế của ư thức chúng ta sao cho chúng ta đă không đánh mất những người thân thương của ḿnh mà chỉ mất đi khả năng thấy được họ thôi. Chúng ta hoàn toàn có thể nâng cao tâm thức lên sao cho ta có thể thấy được họ và nói chuyện với họ giống như trước kia; tất cả chúng ta đều thường xuyên làm như thế mặc dù chúng ta hiếm khi nhớ được trọn vẹn điều đó. Một người có thể học cách tập trung ư thức vào thể vía trong khi thể xác của y vẫn c̣n thức tỉnh, nhưng điều đó cần có sự phát triển đặc biệt, và trong trường hợp của kẻ phàm phu th́ điều này ắt phải mất nhiều thời giờ. Nhưng trong khi thể xác đang yên ngủ, th́ mọi người đều sử dụng thể vía đến một chừng mực nào đó, và bằng cách này hằng ngày chúng ta đă gần gũi với những người bạn đă quá cố của ḿnh. Đôi khi chúng ta cũng nhớ lại được phần nào việc gặp gỡ họ, lúc bấy giờ ta bảo rằng ḿnh nằm mơ thấy họ; thường ra th́ chúng ta không nhớ tới những sự gặp gỡ đó và vẫn không biết rằng những sự gặp gỡ đó đă xảy ra. Thế nhưng có một sự kiện dứt khoát là những mối ràng buộc t́nh cảm vẫn c̣n mạnh mẽ như thuở nào, và như vậy lúc mà con người được giải thoát khỏi những xiềng xích trong xác phàm của ḿnh th́ tự nhiên là lại được đoàn tụ với những người mà ḿnh yêu mến. Thật vậy, điều đó chỉ có một sự thay đổi duy nhất là y sinh hoạt ban đêm với họ thay v́ sinh hoạt vào ban ngày, và y có ư thức về họ trên cơi trung giới thay v́ trên cơi trần.
Việc chuyển giao trí nhớ từ cơi trung giới xuống cơi hồng trần là một chuyện khác mà ta cần phải xem xét hoàn toàn riêng biệt, nó tuyệt nhiên không ảnh hưởng tới ư thức của ta trên cơi đó cũng như khả năng của ta hoạt động một cách hoàn toàn thoải mái và tự do trên cơi này. Cho dù bạn có nhớ hay chăng, th́ họ vẫn c̣n sống cuộc đời của ḿnh gần kề bạn và sự khác biệt duy nhất là họ đă cởi bỏ cái bộ áo bằng xác thịt mà bạn gọi là thể xác. Điều này không làm cho bạn thay đổi chút nào, cũng giống như nó không làm cho nhân cách của bạn thay đổi khi bạn cởi chiếc áo khoác ngoài ra. Thật ra bạn hơi được tự do hơn v́ bạn ít phải mang theo một gánh nặng, và trường hợp của họ cũng giống y hệt như thế. Những đam mê, t́nh cảm, xúc động và trí năng của con người tuyệt nhiên không bị ảnh hưởng khi y chết đi, v́ không có một thứ nào thuộc về xác phàm mà y đă dẹp qua một bên. Y đă bỏ đi bộ áo này và đang sống trong một bộ áo khác, nhưng y vẫn c̣n có thể suy nghĩ và cảm xúc giống như trước kia.
Tôi thấy một đầu óc trung b́nh khó ḷng mà có thể lĩnh hội được thực tại của điều mà chúng ta có thể thấy được bằng mắt phàm. Chúng ta thật khó nhận ra được việc thị giác của chúng ta có tính chất riêng phần biết chừng nào, chúng ta khó ḷng mà hiểu được rằng ḿnh đang sống trong một thế giới rộng lớn mà ḿnh chỉ thấy được một phần nhỏ bé. Thế nhưng khoa học vẫn nói với chúng ta một cách chắc như đinh đóng cột là vậy, v́ nó mô tả cho chúng ta trọn cả thế giới các sinh vật nhỏ bé (vi trùng); chúng ta hoàn toàn không biết ǵ về sự tồn tại của vi trùng khi chỉ dùng giác quan của ḿnh mà thôi. Những tạo vật thuộc thế giới này đâu phải là không quan trọng v́ quá nhỏ bé, ngược lại khả năng của chúng ta nhằm bảo tồn sức khỏe (và trong nhiều trường hợp bảo tồn sinh mệnh nữa) vốn tùy thuộc vào việc hiểu biết t́nh trạng và thói quen của một số vi trùng này. Nhưng các giác quan của ta vốn bị hạn chế theo một chiều hướng khác. Chúng ta không thể thấy được chính không khí bao xung quanh ḿnh; các giác quan của ta không biểu thị cho ta sự tồn tại của không khí, ngoại trừ khi nó đang chuyển động th́ chúng ta mới biết được nó qua xúc giác. Thế nhưng trong đó cũng có một lực vốn có thể làm đắm những chiếc tàu vững chắc nhất của ta và quật đổ những ṭa nhà kiên cố nhất của ta. Bạn thấy xung quanh ta có những mănh lực vẫn c̣n ẩn khuất được so với những giác quan tồi tàn và riêng phần của ta; v́ vậy rơ ràng là ta phải cảnh giác đừng để ḿnh rơi vào cái sai lầm thông thường chết người khi giả sử rằng điều mà chúng ta thấy được là tất cả những ǵ cần phải thấy.
Có thể nói là chúng ta bị nhốt lại trong một ngôi tháp và giác quan của ta là những cửa sổ mở ra theo một vài hướng. Chúng ta hoàn toàn bị che kín về nhiều hướng khác, nhưng thần nhăn tức thị giác trên cơi trung giới mở ra cho chúng ta một hay hai cửa sổ thêm nữa, và như vậy mở rộng viễn cảnh của ta, trải ra trước mắt ta một thế giới mới mở rộng lớn hơn vốn vẫn c̣n là một phần của thế giới cũ mặc dù trước đó chúng ta không hề biết tới.
Khi nh́n vào thế giới mới mẻ này liệu chúng ta thấy điều ǵ trước tiên ? Giả sử rằng một người trong chúng ta chuyển dời tâm thức của ḿnh sang cơi trung giới th́ có sự thay đổi nào làm cho y phải chú ư trước hết ? Thoạt nh́n th́ có lẽ có rất ít sự khác nhau và y ắt giả sử rằng ḿnh đang nh́n vào cũng thế giới trước kia. Tôi xin giải thích cho bạn hiểu tại sao lại như thế, ít ra là một phần nào, v́ muốn được giải thích rốt ráo th́ ta cần có trọn cả một bộ khảo luận về khoa vật lư thuộc cơi trung giới. Cũng giống như ở đây, chúng ta có các trạng thái vật chất khác nhau, thể đặc, thể lỏng và thể hơi, th́ cũng vậy, vật chất cơi trung giới cũng có các t́nh trạng hoặc mức độ thô trược khác nhau, mỗi mức độ này là đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu với mức độ tương tự như nó trên cơi hồng trần. V́ thế cho nên bạn của ta vẫn c̣n thấy những bức tường và đồ đạc mà y đă từng quen thuộc, v́ mặc dù y không c̣n thấy được vật chất thuộc cơi hồng trần vốn cấu tạo nên những thứ nêu trên song loại vật chất trung giới thô trược nhất vẫn c̣n phác họa chúng cho bản thân y rơ rệt như bao giờ. Thật ra nếu y khảo sát tỉ mỉ vật đó, th́ y ắt nhận thức được rằng mọi hạt (particles) nh́n thấy bằng cách đó đều chuyển động nhanh chóng thay v́ chỉ không thấy được như trường hợp trên cơi trần; nhưng có rất ít người quan sát tỉ mỉ như thế cho nên thoạt tiên kẻ nào chết đi thường không biết rằng đă có một sự thay đổi nào đó đối với ḿnh.
Y nh́n xung quanh và vẫn thấy những căn pḥng mà ḿnh quen thuộc, trong đó vẫn có những người mà y đă từng biết và yêu mến, v́ họ cũng có những thể vía vốn ở trong phạm vi tầm nh́n mới mẻ của y. Chỉ dần dần th́ y mới nhận thức được rằng về một số phương diện nào đó th́ quả là có sự khác nhau. Chẳng hạn như không bao lâu sau, y phát hiện ra rằng mọi cơn đau và mệt mỏi đều biến mất đối với ḿnh. Nếu bạn chỉ cần ư thức được điều này có nghĩa là ǵ, th́ bạn ắt bắt đầu có được một ư niệm nào đó về việc đời sống ở cơi cao thực sự là ǵ. Bạn hăy nghĩ tới nó, bạn hiếm khi nào có được một phút giây thoải mái, bạn cứ bị căng thẳng với cuộc sống bận rộn cho nên khó ḷng mà nhớ ra nỗi lần cuối cùng bạn cảm thấy không mệt mỏi là vào lúc nào; liệu có bao giờ bạn biết trở lại cái ư nghĩa của cụm từ mệt mỏi và đau đớn hay chăng ? Chúng ta đă vận dụng sai lạc giáo huấn về đề tài bất tử ở các xứ sở Tây phương đến nỗi mà người chết thường thấy rằng thật khó mà tin được ḿnh đă chết, chỉ v́ y vẫn c̣n nh́n thấy, nghe thấy, suy nghĩ và cảm xúc. Y thường tự nhủ rằng “Tôi đâu có chết, tôi vẫn sống nhăn như thuở nào và c̣n khỏe khoắn hơn bao giờ hết”. Dĩ nhiên là như vậy, nhưng đó chính là điều mà y phải trông mong nếu y đă được dạy dỗ đúng đắn. Có lẽ sự thực chứng sẽ đến với y theo phương cách này.
Y trông thấy bạn bè xung quanh ḿnh, nhưng chẳng bao lâu sau y sẽ phát hiện ra rằng không phải lúc nào ḿnh cũng liên lạc được với họ. Đôi khi y nói với họ nhưng họ dường như chẳng nghe thấy; y thử sờ vào họ và phát hiện ra rằng ḿnh không thể gây ấn tượng lên họ. Ngay cả đến lúc ấy, th́ trong một thời gian nào đó y vẫn c̣n tự thuyết phục ḿnh rằng y đang nằm mơ và giờ đây mới thức tỉnh lại v́ có những lúc khác (khi bạn của y đang ở vào t́nh trạng mà chúng ta gọi là ngủ) th́ bạn của y lại hoàn toàn có ư thức về y và nói chuyện với y giống như xưa. Nhưng dần dần y khám phá ra sự thật là xét cho cùng th́ y đă chết rồi. Thê là y thường bắt đầu đâm ra bức rức. Tại sao vậy ? Cũng lại chỉ v́ cái giáo huấn què quặt mà y đă tiếp thu. Y chẳng hiểu ḿnh đang ở đâu hoặc chuyện ǵ đă xảy ra, v́ t́nh thế của y chẳng giống như điều mà y trông mong theo quan điểm chính thống. Một vị tướng người Anh có lần phát biểu về cơ hội này như sau: “Nhưng nếu tôi chết rồi th́ tôi đang ở đâu ? Nếu đây là thiên đường th́ tôi cũng chẳng nghĩ nhiều tới nó; c̣n nếu đây là địa ngục th́ nó lại tốt hơn mức mà tôi mong đợi”.
đầu sách cuối sách mục lục chương 1 2 3 4 5 6 7 8 9
LUYỆN NGỤC
Những kẻ nào c̣n tiếp tục giảng dạy cho thế gian những câu chuyện ngụ ngôn ngu ngốc về những điều ghê tờm không hề tồn tại thay v́ dùng tới lư trí và óc suy xét phải trái thông thường th́ chính họ đă gây ra rất nhiều điều bất ổn hoàn toàn không cần thiết và thậm chí c̣n là sự đau khổ quằn quại nữa. Thuyết lửa địa ngục vô căn cứ và phạm thượng đă gây tai hại hơn mức mà những kẻ chủ trương biết tới, v́ nó đă gây ra nhiều điều ác ở phía bên kia ngôi mộ cũng như ở phía bên này cuộc sống. Nhưng giờ đây người “chết” ắt gặp một số những người chết khác vốn đă được giáo huấn một cách chí lư hơn và sẽ học được rằng chẳng có lư do ǵ phải sợ hăi, và ở thế giới mới này cũng có một sinh hoạt thuần lư mà người ta phải trải qua cũng giống như ở thế giới cũ. Dần dần y ắt thấy rằng có rất nhiều điều mới mẻ cũng như nhiều điều là một đối thể của điều mà y đă biết rồi; đó là v́ trong cơi trung giới này, tư tưởng và dục vọng biểu hiện thành những h́nh dạng nh́n thấy được mặc dù chúng được cấu tạo hầu hết là từ vật chất tinh vi của cơi này. Khi sinh hoạt trên cơi trung giới của y tiếp diễn, th́ những điều này càng ngày càng trở nên nổi bật v́ chúng ta phải nhớ rằng lúc nào y cũng đều đều triệt thoái thêm nữa vào trong tự thể. Toàn thể của thời kỳ một kiếp lâm phàm mà chơn ngă thực ra đang trải nghiệm trước hết là việc đặt ḿnh thâm nhập vào vật chất để rồi triệt thoái với những nỗ lực của ḿnh. Nếu người ta yêu cầu một kẻ phàm phu vẽ một đường tượng trưng cho cuộc sống, th́ có lẽ y sẽ vẽ một đường thẳng bắt đầu vào lúc sinh ra đời và chấm dứt vào lúc chết; nhưng môn sinh Thông Thiên Học đúng hơn th́ biểu diễn cuộc sống thành một h́nh bầu dục lớn, bắt đầu từ chơn ngă trên cơi thượng trí rồi lại trở về với chơn ngă. Con đường này ắt giáng xuống vào trong phần thấp của cơi trí tuệ rồi giáng xuống vào trong cơi trung giới. Một phần tương đối rất nhỏ ở đáy của h́nh bầu dục ắt ở trên cơi hồng trần, và chẳng bao lâu sau đường này sẽ lại thăng lên nhập trở lại vào cơi trung giới và cơi trí tuệ. Do đó cuộc sống trên cơi trần chỉ được biểu diễn bởi cái phần nhỏ của đường cong nằm bên dưới đường biểu thị ranh giới giữa cơi trung giới và cơi hồng trần; c̣n sự sinh ra và sự chết đi chỉ là những điểm nơi mà đường cong băng ngang qua đường ranh giới đó – rơ rệt tuyệt nhiên nó không phải là những điểm quan trọng nhất trong tổng thể.
Điểm trung tâm thật sự ắt rơ rệt là điểm xa cách chơn ngă nhất – có thể nói là điểm ngoặc – điều mà trong thiên văn học chúng ta gọi là viễn điểm. Đó không phải là sự sinh ra cũng như không là sự chết đi, mà là một điểm giữa của cuộc sống trên cơi trần, khi lực từ chơn ngă đă tiêu tan hết sức bật hướng ngoại của ḿnh và chuyển sang bắt đầu quá tŕnh dài triệt thoái. Dần dần tư tưởng của y sẽ hướng lên trên, y càng ngày càng ít quan tâm tới những vấn đề thuần túy vật chất và rốt cuộc th́ y bỏ xác hoàn toàn. Cuộc sống của y trên cơi trung giới bắt đầu, nhưng trong toàn bộ sinh hoạt đó th́ quá tŕnh triệt thoái vẫn tiếp tục. Kết quả của điều này là khi thời gian trôi qua y càng ngày càng ít chú ư tới phần vật chất thấp thỏi cấu tạo thành những đối thể của các đồ vật trên cơi trần và y càng ngày càng quan tâm tới phần vật chất cao siêu để kiến tạo nên các h́nh tư tưởng – cho đến nay đó chỉ là những h́nh tư tưởng xuất hiện trên cơi trung giới thôi. Như vậy sinh hoạt của y càng ngày càng trở thành sinh hoạt trong thế giới tư tưởng và cái đối thể của thế giới mà y đă rời bỏ ắt mờ nhạt đi trước tầm nh́n của y, không phải v́ y thay đổi vị trí của ḿnh trong không gian mà v́ mối quan tâm của y đă chuyển dời tiêu điểm. Những ham muốn của y vẫn c̣n và những h́nh tư tưởng bao xung quanh y phần lớn là biểu hiện những ham muốn đó, và cuộc sống của y là hạnh phúc hoặc khó chịu ắt chủ yếu là tùy thuộc vào bản chất của những ham muốn này.
Việc nghiên cứu sinh hoạt trên cơi trung giới cho ta thấy rất rơ lư do của nhiều huấn điều đạo đức. Hầu hết mọi người công nhận rằng những tội lỗi gây thiệt hại cho người khác th́ dứt khoát và rơ rệt là sai trái, nhưng đôi khi họ lại thắc mắc tại sao lại bảo là sai trái khi họ cảm thấy ghen tuông oán ghét hoặc đầy tham vọng chừng nào mà họ c̣n chưa để cho ḿnh biểu lộ những xúc cảm này ra bên ngoài thành hành động hoặc lời nói. Việc thoáng nh́n vào thế giới sau khi chết này ắt cho ta thấy chính xác những xúc cảm như thế đă gây thiệt hại như thế nào cho kẻ ấp ủ chúng, và sau khi y chết th́ chúng đă khiến cho y đau khổ một cách quằn quại nhất. Chúng ta sẽ hiểu được điều này rơ ràng hơn nếu ta khảo sát một vài trường hợp tiêu biểu của sinh hoạt trên cơi trung giới để xem đâu là những đặc điểm chủ yếu của chúng.
Trước hết ta hăy nghĩ tới kẻ phàm phu không có cá tính, y chẳng đặc biệt tốt mà cũng chẳng đặc biệt xấu, thật vậy, y chẳng có một đặc tính nổi bật nào. Con người đó tuyệt nhiên không hề thay đổi, v́ vậy sau khi chết sự vô thưởng vô phạt vẫn c̣n là đặc trưng chủ yếu của y (tạm gọi là tính vô kư). Y sẽ không hề đặc biệt đau khổ mà cũng chẳng đặc biệt vui sướng, rất có thể là y sẽ thấy sinh hoạt trên cơi trung giới khá buồn tẻ, v́ trong buổi sinh thời trên trần thế y chẳng hề phát triển được bất kỳ sự quan tâm thuần lư nào. Nếu y chẳng biết suy nghĩ ǵ ngoại trừ việc ngồi lê đôi mách hoặc tham gia vào cái gọi là tṛ thể thao, và cũng chẳng suy nghĩ ǵ cao xa hơn chuyện làm ăn kiếm tiền hoặc chạy theo thời trang th́ y rất có thể là thấy thời gian sẽ kéo dài đằng đẵng khi không c̣n có thể có được những sự việc như thế nữa. Nhưng trường hợp của một người có những ham muốn mạnh mẽ thuộc loại thấp hèn về mặt vật chất (chẳng hạn như những loại chỉ có thể được thỏa măn ở trên cơi trần) th́ t́nh trạng của y càng tồi tệ hơn nữa. Ta hăy nghĩ tới trường hợp của một kẻ nghiện rượu hoặc một kẻ đa dâm. Y đă là nô lệ cho cái sự khao khát đè bẹp đó trong buổi sinh thời và nó vẫn c̣n chưa chấm dứt sau khi y chết – nói cho đúng th́ nó c̣n mạnh mẽ hơn bao giờ hết v́ những rung động của nó không c̣n phát động những hạt nặng nề của cơi trên nữa. Nhưng khả năng thỏa măn được sự khao khát khủng khiếp này đă xa vời hơn bao giờ hết v́ y đă bị mất xác mà chỉ có nhờ vào thể xác th́ những ham muốn đó mới được thỏa măn thôi. Ta thấy rằng lửa ở trong luyện ngục là những biểu tượng không hay ho lắm để diễn tả những rung động của một sự ham muốn đay nghiến như thế. Nó có thể kéo dài một thời gian lâu, v́ nó phải dần dần trải qua việc bị ṃn mỏi đi, và số phận của con người chắc chắn là rất khủng khiếp. Thế nhưng có hai điều mà ta phải nhớ kỹ khi xét tới vấn đề này. Trước hết là con người đă hoàn toàn tự tạo ra cho chính ḿnh và xác định mức độ chính xác của quyền năng cũng như thời gian kéo dài ham muốn đó. Nếu trong buổi sinh thời y đă kiểm soát được sự ham muốn đó th́ sau khi y chết đi nó đâu c̣n bao nhiêu hơi sức để mà quậy được y. Hai là, đó là phương cách duy nhất để con người có thể dẹp bỏ được thói xấu. Nếu y chuyển từ một cuộc đời đa dâm và nghiện rượu trực tiếp sang một kiếp lâm phàm sắp tới, th́ khi mới sinh ra đời y đă là nô lệ cho thói xấu này – nó sẽ chế ngự y ngay từ lúc sơ sinh và y không có khả năng thoát khỏi nó được. Nhưng giờ đây khi ḷng ham mnuốn đă ṃn mỏi đi th́ y sẽ bắt đầu đời sinh hoạt mới mẻ của ḿnh mà không có gánh nặng đó, và linh hồn v́ đă có một bài học nghiêm khắc như vậy cho nên sẽ tinh tấn bằng mọi cách để kềm chế những hạ thể của ḿnh không cho nó lập lại một lỗi lầm giống như thế nữa.
Thế gian đều biết rơ mọi điều này ngay cả trong thời cận đại cũng như thời cổ điển. Ta thấy nó được minh họa rơ rệt trong chuyện thần thoại về Tantalus, y luôn luôn đau khổ v́ sự khao khát thôi thúc, thế nhưng số phận của y là bao giờ cũng thấy nước bị rút lại ngay khi nó chạm tới đôi môi nứt nẻ của y. Nhiều tội lỗi khác cũng tạo ra những kết quả rùng rợn như thế, mặc dù mỗi tội đều có những đặc điểm riêng ḿnh. Ta hăy xem kẻ hà tiện sẽ đau khổ như thế nào khi y đâm ra không c̣n tích trữ được vàng bạc nữa, và có lẽ y biết được rằng những bàn tay xa lạ đang tiêu phí đống vàng bạc mà y tích cóp được. Ta hăy xem kẻ ghen tuông sẽ tiếp tục đau khổ với thói quen của ḿnh như thế nào, v́ biết rằng giờ đây y không c̣n khả năng can thiệp vào mọi chuyện trên cơi trần, thế nhưng cái xúc cảm ghen tuông đó lại mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Ta hăy nhớ tới số phận của Sisyphe trong thần thoại Hi Lạp – y đă bị kết tội măi măi phải lăn một ḥn đá nặng nề lên tới đỉnh một ngọn núi để rồi trơ mắt ra nh́n nó lại lăn xuống vào đúng lúc mà sự thành công dường như đă ở trong tầm tay của ḿnh. Ta hăy xem điều này tiêu biểu chính xác bao nhiêu cho cuộc sống sau khi chết của kẻ có đầy tham vọng thế gian. Y đă trải qua suốt cuộc đời ḿnh có thói quen tạo ra những kế hoạch ích kỷ, và v́ vậy y tiếp tục làm như thế trên cơi trung giới; y cẩn thận xây dựng âm mưu của ḿnh cho tới khi nó đă hoàn chỉnh trong tâm trí của y để rồi lại nhận thức được rằng ḿnh đă mất xác phàm rồi mà điều này rất cần thiết để thành tựu được âm mưu. Những hi vọng của y bèn tan thành mây khói, thế nhưng cái thói quen đó đă thâm căn cố đế đến nỗi mà y cứ tiếp tục lăn đi lăn lại ḥn đá ấy lên tới tận đỉnh núi tham vọng măi cho tới khi thói xấu này đă bị ṃn mỏi. Thế rồi cuối cùng y nhận ra được rằng ḿnh không cần phải lăn ḥn đá nữa và để cho nó nằm im thoải mái ở dưới chân của ngọn đồi.
Chúng ta đă xét tới trường hợp của kẻ phàm phu và của người khác với kẻ phàm phu v́ có nhiều ham muốn ích kỷ và thô tục. Giờ đây ta hăy xem xét trường hợp của người khác với kẻ phàm phu theo một chiều hướng khác, y có một quan tâm nào đó có bản chất thuần lư. Để hiểu được cuộc sống sau khi chết dường như tỏ ra thế nào đối với y, ta phải nhớ rằng đa số mọi người trải qua phần lớn sinh hoạt trong lúc thức tỉnh và tốn hầu hết sức lực của ḿnh trong công việc không thực sự thích thú; họ ắt chẳng thèm làm chuyện đó nếu không bắt buộc phải kiếm sống và cấp dưỡng cho những người tùy thuộc vào ḿnh. Ta hăy nhận thức được t́nh trạng của con người khi không c̣n cái nhu cầu phải nai lưng ra làm việc kiếm sống nữa v́ thể vía đâu có cần thức ăn quần áo hoặc nhà cửa. Lúc bấy giờ lần đầu tiên từ khi c̣n tấm bé con người mới tự do làm đúng cái điều mà ḿnh ưa thích và có thể dành trọn thời giờ của ḿnh cho bất cứ điều ǵ có thể là nghề nghiệp mà ḿnh đă chọn lựa – nghĩa là chừng nào nó c̣n có bản chất sao cho y có thể thực hiện mà không cần tới vật chất trên cơi trần. Giả sử sự thú vị lớn lao nhất của con người là nơi âm nhạc; ở trên cơi trung giới y có cơ hội lắng nghe mọi thứ âm nhạc hùng vĩ nhất mà cơi trần có thể tạo ra được, và trong những điều kiện mới mẻ này thậm chí y c̣n có thể nghe được nhiều hơn bao giờ hết v́ ở đây có những hài âm khác trọn vẹn hơn mức mà đôi tai không tinh xảo của ta lĩnh hội được cũng ở trong phạm vi chọn lựa của y. Kẻ nào thích thú với nghệ thuật và yêu mến vẻ đẹp trong h́nh tướng và màu sắc ắt có được mọi sự dễ thương của thế giới cao siêu này mở ra cho y tha hồ chọn lựa. Nếu y thích thú với những vẻ đẹp trong Thiên nhiên th́ y ắt có được khả năng vô song để say đắm với nó, v́ y có thể dễ dàng và nhanh chóng di chuyển từ nơi này sang nơi khác và thưởng ngoạn những kỳ quan của Thiên nhiên nhanh chóng trôi qua trước mắt y mà con người trên cơi trần cần phải mất hàng năm mới đi tham quan hết được. Nếu óc tưởng tượng của y hướng về khoa học hoặc lịch sử th́ những thư viện và pḥng thí nghiệm trên thế giới ắt ở trong tầm sử dụng của y, sự hiểu biết của y về cái quá tŕnh hóa học và sinh học ắt rốt ráo hơn bao giờ hết v́ giờ đây y có thể thấy được sự vận hành bên trong cũng như ở bên ngoài, và nhiều nguyên nhân cũng như hậu quả. Trong mọi trường hợp nêu trên th́ lại có thêm một sự thích thú kỳ diệu đó là y không thể bị mệt mỏi nữa. Ở đây, khi chúng ta tiến bộ trong việc nghiên cứu hoặc thực nghiệm th́ chúng ta rất thường xuyên phải nếm trải việc ḿnh không thể xúc tiến mọi việc thêm nữa v́ bộ óc không thể chịu đựng thêm hơn được một mức độ căng thẳng nào đó, nếu không có xác phàm th́ dường như không có sự mệt mỏi v́ quả thật là bộ óc mới mệt mỏi chứ cái trí th́ không biết mệt.
Cho tới nay tôi chỉ nói đến sự thỏa măn ích kỷ mặc dù nó thuộc một loại trí thức và thuần lư. Nhưng có những người trong đám chúng ta đâu có hài ḷng nếu không có điều ǵ cao siêu hơn nữa – niềm vui lớn nhất của họ trong bất kỳ kiếp sống nào ắt là phụng sự cho đồng loại của ḿnh. Vậy th́ sinh hoạt trên cơi trung giới dành điều ǵ cho họ ? Họ sẽ theo đuổi công tŕnh nhân ái của ḿnh một cách sung sức hơn bao giờ hết và trong những hoàn cảnh tốt đẹp hơn trên cơi trần. Có cả ngàn người mà họ giúp đỡ được và chắc chắn là họ có thể thực sự làm việc tốt hơn mức mà họ thường đạt được trên cơi trần. Vậy là một số người dành trọn đời ḿnh cho phúc lợi chung chung, c̣n một số người đặc biệt quan tâm tới những trường hợp trong gia đ́nh hoặc bạn bè ḿnh, cả những trường hợp c̣n đang sống lẫn những trường hợp đă chết. Việc dùng nhóm từ c̣n đang sống hoặc đă chết quả là một sự đảo ngược kỳ lạ của sự thật, v́ chắc chắn là chúng ta đă chết khi chúng ta bị chôn vùi trong những xác phàm thô trược và câu thúc; c̣n quả thực là họ đang sống với nhiều tự do và năng lực hơn v́ họ ít bị cản trở hơn. Thường thường th́ người mẹ đă chuyển vào sự sinh hoạt cao siêu này vẫn c̣n chăm sóc đứa con của ḿnh và quả thật là một thiên thần hộ mệnh cho nó, thường thường th́ người chồng “đă chết” vẫn c̣n lẩn quẩn tiếp xúc với bà vợ đang đau buồn của ḿnh, thậm chí thỉnh thoảng c̣n lấy làm cảm ơn v́ y có thể khiến cho bà ta cảm thấy rằng y sống một cách mạnh mẽ và yêu thương kề cận bên bà hơn bao giờ hết.
Bạn ắt nghĩ rằng nếu thế th́ chắc chắn là chúng ta chết càng sớm càng tốt; sự hiểu biết như thế dường như khuyến khích người ta tự tử ! Nếu bạn chỉ biết nghĩ đến bản thân và chỉ nghĩ đến vui sướng của ḿnh th́ dứt khoát là như thế đấy. Nhưng nếu bạn nghĩ đến bổn phận của ḿnh đối với Thượng Đế và đối với đồng loại th́ bạn sẽ ngay tức khắc thấy rằng nhận xét sau đây phủ nhận quan điểm đó. Bạn ở đây v́ có một mục đích – một mục đích mà bạn chỉ có thể đạt được trên cơi hồng trần thôi. Linh hồn phải mất công rất nhiều, phải chịu đựng nhiều sự hạn chế để có được kiếp lâm phàm trên cơi trần, do đó ta không được buông bỏ những nỗ lực của nó một cách không cần thiết. Bản năng sinh tồn đă được đấng thiêng liêng lồng ghép vào trong thâm tâm ta và bổn phận của ta là phải tận dụng cuộc sống trên cơi trần và duy tŕ nó trong chừng mực mà hoàn cảnh cho phép. Có những bài học mà ta phải học trên cơi này vốn không thể học được ở bất cứ nơi nào khác, và chúng ta học được chúng càng sớm th́ chúng ta càng có được tự do măi măi khỏi cần phải trở lại cơi hạ giới này với những sinh hoạt bị hạn hẹp nhiều hơn. Do vậy, không ai được quyền tự tử khi chưa tới số, mặc dù khi tới số rồi th́ y rất lấy làm vui sướng v́ thật ra y sắp chuyển từ việc lao động mệt mỏi sang việc giải lao thoải mái. Thế nhưng mọi thứ mà tôi đă nói với bạn cho đến nay thật là vô nghĩa bên cạnh sự vinh quang của cuộc sống tiếp theo đó – tức là cuộc sống trên cơi trời. Đây là luyện ngục – đó là sự phúc lạc vô hạn mà các tu sĩ đă mơ ước tới và các nhà thơ đă ca tụng – tuyệt nhiên không phải là một giấc mơ mà là một thực tại sống động và vinh diệu. Sinh hoạt trên cơi trung giới là hạnh phúc đối với một số người và bất hạnh đối với những người khác tùy theo sự chuẩn bị mà họ đă thực hiện; nhưng điều tiếp theo sau đó là sự hạnh phúc toàn bích cho tất cả mọi người và thích hợp chính xác với nhu cầu của mỗi người.
Trước khi kết thúc chương này ta hăy xét tới một hoặc hai thắc mắc vốn cứ lẩn quẩn trở đi trở lại trong tâm trí của những kẻ mưu t́m về cuộc sống sau khi chết. Một số người ắt thắc mắc, liệu chúng ta có tiến bộ ở đó chăng ? Hẳn nhiên rồi, v́ sự tiến bộ là qui tắc của Thiên Cơ. Nó có thể dành cho chúng ta hoàn toàn tỉ lệ với sự phát triển của ta. Kẻ nào nô lệ cho dục vọng chỉ có thể tiến bộ bằng cách làm cho sự ham muốn đó ṃn mỏi đi; thế nhưng đó là điều tốt nhất mà y có thể đạt được ở giai đoạn này. Nhưng kẻ nào vốn tử tế và ưa giúp đỡ người khác th́ sẽ học được nhiều điều bằng nhiều cách qua công việc mà y có thể thực hiện trong sinh hoạt trên cơi trung giới đó; y sẽ trở lại trần gian và có thêm nhiều quyền năng và đức tính v́ y đă thực hành trên đó với một sự cố gắng bất vị kỷ. Như vậy chúng ta chẳng cần e ngại ǵ về vấn đề sự tiến bộ.
C̣n một điều nữa thường được nêu ra đó là liệu chúng ta có nhận ra được những người thân thương của ḿnh vốn đă từ trần trước chúng ta ? Chắc chắn là chúng ta sẽ nhận ra được v́ cả họ và chúng ta có ǵ thay đổi đâu, thế th́ tại sao ta không nhận ra được họ ? Ở đó c̣n có sự hấp dẫn và nó sẽ đóng vai tṛ nam châm thu hút lại với nhau những kẻ nào cảm nhận được điều đó một cách dễ dàng và chắc chắn hơn cả dưới đây nữa. Thật vậy nếu người thân thương đă từ trần cách đây rất lâu rồi th́ y có thể đă vượt qua bên kia cơi trung giới để nhập vào sinh hoạt trên cơi trời; trong trường hợp đó chúng ta phải chờ cho đến khi chúng ta đạt tới mức đó th́ mới gặp lại y được, nhưng khi ta đạt đến mức đó th́ ta sẽ có được người bạn của ḿnh hoàn hảo hơn mức mà ta có thể nhận ra được trong cái nhà tù khốn khổ này. Nhưng chắc chắn là những người mà bạn yêu thương đều chẳng hề mất đi đâu cả; nếu họ mới chết gần đây th́ bạn ắt t́m thấy họ trên cơi trung giới; nếu họ đă chết lâu rồi th́ bạn ắt t́m thấy họ trong sinh hoạt trên cơi trời, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào th́ sự đoàn tụ là chắc chắn khi vẫn c̣n t́nh xưa nghĩa cũ. Đó là v́ t́nh thương là một trong những quyền năng mănh liệt nhất trong vũ trụ cho dù khi c̣n đang sống hay khi đă chết.
Có vô số thông tin thú vị đă tŕnh bày sinh hoạt ở cơi cao này. Bạn nên đọc trong kho tài liệu như quyển Sự Chết và Sau đó của bà Annie Besant, cũng như quyển sách của chính tôi viết về Cơi Trung giới và Phía Bên kia cửa Tử. Bạn nghiên cứu đề tài này th́ cũng bơ công thôi v́ có biết được sự thật th́ bạn mới không c̣n sợ chết nữa và mới cảm thấy đời sống dễ thở hơn v́ chúng ta đă hiểu được mục đích và cứu cánh của nó. Đối với những kẻ nào sống một cuộc đời chân chính và vị tha th́ sự chết không hề mang lại đau khổ mà chỉ có niềm vui. Câu ngạn ngữ xưa cũ của La Tinh – Mors janua vita – vốn đúng theo sát nghĩa Sự chết là cánh cổng dẫn vào sự sống. Điều này chính xác là như vậy, đó là cánh cổng dẫn vào một cuộc sống cao siêu và viên măn hơn. Ở phía bên kia cũng như ở phía bên này của ngôi mộ vẫn lồng lộng cái định luật vĩ đại Sự Công Bằng của Đấng Thiêng liêng, và ở đó chúng ta cũng mặc nhiên tin cậy vào tác động của định luật này giống như ở đây đối với cả bản thân chúng ta lẫn những người mà chúng ta yêu mến.
đầu sách cuối sách mục lục chương 1 2 3 4 5 6 7 8 9
CƠI TRỜI
Cho tới nay các tôn giáo đều đồng ư tuyên bố về sự tồn tại của cơi trời và xác định rằng sự hưởng thụ phúc lạc trên cơi trời nối tiếp một cuộc sống trên trần thế đă được trải qua hoàn măn. Ki Tô giáo và Hồi giáo bảo rằng nó là phần thưởng mà Thượng Đế ban cho những kẻ nào đă làm vừa ḷng ngài, nhưng hầu hết tín ngưỡng khác đều mô tả nó đúng hơn là kết quả cần thiết của một cuộc sống tốt lành cũng giống hệt như quan điểm của chúng ta trong Thông Thiên Học. Thế nhưng mặc dầu mọi tôn giáo đều đồng ư mô tả cuộc sống hạnh phúc này bằng những từ ngữ huy hoàng th́ không một tôn giáo nào lại thành công tạo cho ta được một ấn tượng chân thực khi mô tả. Tất cả những ǵ được viết ra về cơi trời hoàn toàn không giống ǵ với bất cứ thứ nào mà chúng tôi biết cho đến nỗi mà chúng tôi thấy nhiều sự mô tả dường như rất buồn cười. Chúng tôi lấy làm ngần ngại khi công nhận điều này liên quan tới những huyền thoại quen thuộc với chúng ta từ khi c̣n tấm bé, nhưng nếu người ta kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện của một trong các tôn giáo lớn khác th́ chúng tôi cũng dễ dàng thấy được điều đó. Trong các thánh thư của Phật giáo và Ấn Độ giáo bạn ắt thấy có những bài tường thuật đao to búa lớn về những khu vườn bạt ngàn trong đó cấy cối đều bằng vàng hoặc bạc, c̣n trái cây thuộc đủ loại ngọc quí, bất giác bạn cũng phải mỉm cười nếu bạn không chợt nghĩ ra rằng xét cho cùng th́ đối với những tín đồ Phật giáo hoặc Ấn Độ giáo th́ những câu chuyện của chúng ta về đường phố bằng vàng và những cái cổng bằng ngọc trai thật ra cũng có vẻ hoang đường không kém. Sự thật là yếu tố lố bịch chỉ được du nhập vào những câu chuyện này khi chúng ta xét chúng theo nghĩa đen và không nhận ra được rằng mỗi người chép kinh đều phải trải nghiệm cái nhiệm vụ đó theo quan điểm của riêng ḿnh, và tất cả đều thất bại v́ sự thật lớn lao ẩn đằng sau mọi điều đó đều hoàn toàn không thể mô tả được. Người chép kinh Ấn Độ chắc chắn đă thấy một số khu vườn rực rỡ của các vị quốc vương Ấn Độ nơi người ta thường sử dụng những điều trang điểm mà y mô tả. Người chép kinh Do Thái giáo không quen thuộc với những điều như thế, nhưng y ở trong một đô thị to lớn và tráng lệ - có lẽ là Alexandria; v́ vậy quan niệm của y về sự lộng lẫy giống như một đô thị nhưng được trang bị không giống bất kỳ đô thị nào trên trần thế bằng những vật liệu trang điểm xa hoa. Như vậy mỗi người đều cố gắng mô tả một sự thật vĩ đại đến nỗi không một ngôn từ nào mà họ dùng trong những dụ ngôn như thế lại quen thuộc với tâm trí của y.
Từ thời đó trở đi đă có những người chứng kiến được sự vinh quang của cơi trời và đă cố gắng mô tả nó một cách hết sức không hài ḷng. Trong số những người đó có một vài người nghiên cứu Thông Thiên Học và trong quyển Cẩm nang Thông Thiên Học Số 6 [1], bạn ắt thấy một nỗ lực của chính tôi theo chiều hướng đó. Giờ đây chúng tôi không nói tới vàng bạc, hồng ngọc và kim cương khi chúng tôi muốn truyền đạt ư niệm về sự tinh vi lớn lao nhất cũng như vẻ đẹp của màu sắc và h́nh tướng; đúng ra th́ chúng tôi rút lấy những dụ ngôn từ màu sắc lúc mặt trời lặn và từ mọi sự vinh quang thuộc biển cả và bầu trời v́ đối với chúng tôi những thứ này c̣n hơn cả thiên đường nữa. Thế nhưng những người nào trong chúng tôi đă thấy được sự thật đều thừa biết rằng bất chấp mọi nỗ lực mô tả, chúng tôi đă thất bại hoàn toàn trong việc truyền đạt bất kỳ ư tưởng nào về thực tại cũng giống như những người chép kinh ở Đông phương th́ không một ngôn từ nào có thể mô tả được mặc dù mọi người đều một ngày kia sẽ tự ḿnh chứng kiến được nó và biết được nó.
Đó là v́ cơi trời này không phải là một giấc mơ; nó là một thực tại chói lọi; nhưng nếu muốn hiểu được bất cứ điều ǵ về nó th́ trước hết chúng ta phải thay đổi một trong những ư niệm tiên quyết của ḿnh về đề tài này. Cơi trời không phải là một nơi chốn mà là một trạng thái tâm thức. Nếu bạn vặn hỏi tôi “Cơi trời ở đâu?” th́ tôi ắt phải trả lời bạn rằng nó ở ngay đây, xung quanh bạn vào chính lúc này, gần kề bên bạn giống như không khí mà bạn đang hít thở. Cách đây đă lâu, Đức Phật cũng có dạy rằng ánh sáng luôn luôn ở xung quanh bạn; bạn chỉ cần giựt cái băng bịt mắt ḿnh ra là sẽ thấy ánh sáng. Nhưng việc giựt cái băng ra là thế nào ? Nó có ư nghĩa biểu tượng ra sao ? Đó chỉ là vấn đề nâng tâm thức lên tới một mức độ cao hơn, học cách tập trung tâm thức vào một hiện thể bằng vật chất tinh vi hơn. Tôi đă nói tới khả năng làm như vậy liên quan đến thể vía, nhờ đó ta thấy được cơi trung giới; việc này chỉ cần đẩy tiến tŕnh đó lên một giai đoạn tiếp nối nữa qua việc nâng tâm thức lên tới cơi trí tuệ, v́ con người cũng có một cơ thể tương ứng với mức độ đó, thông qua nó y có thể nhận được những rung động của cơi trí tuệ, và nhờ vậy sống trong sự rực rỡ chói lọi của cơi trời trong khi vẫn c̣n đang ở trong thể xác, mặc dù quả thật là sau khi trải qua một kinh nghiệm như thế th́ y ắt chẳng lấy ǵ làm thích thú khi phải trở lại với xác phàm.
Kẻ phàm phu chỉ đạt đến t́nh trạng phúc lạc này sau khi chết và không phải ngay tức khắc sau khi chết ngoại trừ những trường hợp rất hiềm hoi. Tôi đă giải thích sau khi chết Chơn ngă đă đều đều triệt thoái vào trong bản thân như thế nào. Trọn cả sinh hoạt trên cơi trung giới thật ra là một quá tŕnh thường xuyên triệt thoái, khi trải qua thời gian linh hồn đạt đến giới hạn của cơi này th́ linh hồn cũng chết đi với cơi đó giống hệt khi linh hồn chết đi với cơi trần. Điều này có nghĩa là linh hồn vứt bỏ hiện thể thuộc cơi này, bỏ nó lại đằng sau trong khi chuyển sang một sinh hoạt cao siêu hơn và c̣n viên măn hơn nữa. Trước khi có sự chết lần thứ nh́ này th́ cũng chẳng có một loại đau khổ hoặc đau đớn nào, nhưng cũng giống như sự chết lần thứ nhất thường có một thời kỳ vô ư thức mà Chơn nhơn chỉ thức tỉnh dần dần khỏi trạng thái đó. Cách đây một vài năm, tôi có viết một quyển sách tên là Cơi Devachan, trong ấy ở một chừng mực nào đó tôi cố gắng mô tả điều mà ḿnh chứng kiến và sắp xếp thành bảng biểu đến mức tối đa đủ thứ phân bộ của Vùng Đất Ánh Sáng vinh diệu này, cung cấp những ví dụ mà chúng tôi quan sát được trong quá tŕnh khảo cứu về sinh hoạt của cơi trời. Bây giờ tôi sẽ cố gắng tŕnh bày vấn đề đó theo một quan điểm khác, và những người nào nếu muốn đều có thể bổ sung thông tin bằng cách đọc chính quyển sách đó. Có lẽ phát biểu mở đầu bao quát nhất chính là: Đây là cơi của Tư tưởng Thượng Đế, ở đây chúng ta đang ở chính phạm vi của tư tưởng và mọi thứ mà con người có thể nghĩ ra được đều là một thực tại sống động linh hoạt ở đây. Chúng ta lao động vất vả với một điểm bất lợi lớn lao v́ ta có thói quen coi những sự việc vật chất là có thực, c̣n những sự việc không thuộc về vật chất là giống như giấc mơ và v́ vậy không có thực. Trong khi đó th́ thực ra mọi sự việc có tính cách vật chất đều bị chôn vùi và ẩn giấu trong loại vật chất này; v́ thế cho dù nó có bất kỳ loại thực tại nào th́ thực tại đó cũng ít hiển nhiên và khó ḷng nhận ra được hơn là khi ta quan sát nó theo một quan điểm của cơi cao. V́ vậy khi nghe nói tới thế giới tư tưởng, chúng ta nghĩ ngay rằng đó là một thế giới không thực được tạo ra từ ‘một loại vật liệu cấu thành các giấc mơ’ (theo cách nói của thi sĩ).
Ta hăy cố nhận thức được rằng khi một người bỏ xác phàm và mở rộng tâm thức đối với sinh hoạt trên cơi trung giới th́ cảm giác đầu tiên của y là thấy sinh hoạt đó vô cùng linh động và có thực sao cho y nghĩ rằng: “Giờ đây th́ lần đầu tiên tôi mới được biết thế nào là sống”. Nhưng khi đến lượt y rời bỏ sinh hoạt đó để nhập vào một sinh hoạt cao hơn th́ y cũng lập lại kinh nghiệm giống hệt như thế, v́ đến lượt sinh hoạt này vốn cũng viên măn bao quát và mănh liệt hơn sinh hoạt trên cơi trung giới rất nhiều đến nỗi mà một lần nữa ta không thể so sánh được. Thế nhưng c̣n có một sinh hoạt khác vượt ngoài tầm tất cả những thứ này mà ngay cả sinh hoạt của cơi này so với nó cũng chỉ giống như ánh trăng so với ánh mặt trời; nhưng hiện nay thật là vô ích khi nghĩ tới điều đó.
Có thể có nhiều người nghe ra thấy là phi lư khi cơi tư tưởng lại được cho là có thực hơn cơi hồng trần; được thôi, đối với họ th́ cứ phải như thế cho tới khi họ có được một kinh nghiệm nào đó về một sinh hoạt cao hơn cơi trần này, đến lúc đó th́ họ mới biết nhiều hơn hẳn bất kỳ ngôn từ nào có thể mô tả cho họ được.
Vậy là trên cơi này ta thấy có tồn tại sự viên măn vô hạn của Trí tuệ Thượng Đế mở ra với mọi sự giàu có vô biên cho mọi linh hồn tỉ lệ với mức độ tư cách mà linh hồn có được để tiếp thu. Nếu con người đă hoàn tất cơ tiến hóa được dành cho ḿnh; nếu y đă thực chứng viên măn được và đă phát triển trọn vẹn được mầm mống thiên tính bên trong ḿnh, th́ trọn cả sự vinh quang này ắt ở trong tầm tay của y; nhưng v́ không ai trong chúng ta đă từng làm được như thế, v́ chúng ta chỉ dần dần thăng lên được tới mức độ thành tựu rực rỡ như thế, cho nên té ra là cho đến nay chẳng ai có thể lĩnh hội được trọn vẹn điều đó mà mỗi người đều chỉ rút ra được và thừa nhận từ đó cái mức độ mà những nỗ lực trước kia của ḿnh đă chuẩn bị bản thân ḿnh tiếp thu được. Dụ ngôn Đông phương có tŕnh bày rằng những cá nhân khác nhau mang lại những năng lực rất khác nhau, mỗi người mang lại cái tách của riêng ḿnh, và một số tách th́ lớn c̣n một số tách lại nhỏ; nhưng cho dù lớn hay nhỏ th́ mỗi cái tách đều được rót đầy đến mức tối đa, biển phúc lạc có chứa nhiều hơn mức mà tất cả mọi người đều thỏa thuê.
Mọi tôn giáo đều có nhắc tới sự phúc lạc này của cơi trời, thế nhưng ít tôn giáo nào lại tŕnh bày cho ta thấy được một cách đủ minh bạch và chính xác về cái ư niệm chủ chốt mà chỉ có nó thôi mới giải thích hợp lư được làm thế nào mà mọi người đều có thể hưởng phúc lạc như vậy – đây quả thực là chủ điểm của quan niệm này – sự thật là mỗi người đều tạo ra cơi trời của riêng ḿnh bằng cách chọn lựa trong số những điều rực rỡ khôn tả thuộc về Tư tưởng của Chính Thượng Đế. Một người tự quyết định lấy cả mức độ lâu dài lẫn đặc tính của sinh hoạt trên cơi trời do những nguyên nhân mà chính y đă gây ra trong buổi sinh thời; v́ vậy chẳng những y có đúng cái số lượng mà y xứng đáng, đúng cái phẩm chất hoan lạc thích hợp nhất với tính t́nh đặc dị của y, v́ đây là một cơi trong đó do chính sự kiện tâm thức của một sinh linh trụ vào đây th́ mọi sinh linh đều hưởng được sự phúc lạc tâm linh cao siêu nhất mà ḿnh có thể thụ hưởng – đây là một cơi mà quyền năng đáp ứng với hoài băo của y chỉ bị hạn chế bởi chính năng lực hoài băo của y.
Y đă tạo ra cho chính ḿnh một thể vía bằng vào những ham muốn và đam mê trong buổi sinh thời, và y phải sống trong thể vía đó suốt cái kiếp tồn tại trên cơi trung giới mà thời khắc đó là hạnh phúc hay đau khổ đối với y tùy theo đặc tính của nó. Giờ đây khi đă trải qua cái giai đoạn luyện ngục đó rồi, v́ cái phần thấp hèn trong bản thể của y đă bị tiêu ṃn mất; bây giờ chỉ c̣n lại những tư tưởng cao siêu và tinh anh hơn, những hoài băo cao cả và vị tha mà y đă tuôn ra trong buổi sinh thời. Những thứ này tụ tập xung quanh y tạo thành một loại lớp vỏ xung quanh y, thông qua một môi trường như thế y có thể đáp ứng với một vài loại rung động diễn ra trong vật chất tinh vi này. Những tư tưởng bao quanh y là những quyền năng giúp cho y rút tỉa được kho của cải trên cơi trời, và y thấy nó là một kho chứa có tầm cỡ vô hạn sao cho y có thể rút tỉa từ đó phù hợp với năng lực của những tư tưởng và hoài băo mà y đă sản sinh ra trong sinh hoạt trên cơi trần và cơi trung giới. Giờ đây mọi t́nh cảm và ḷng sùng tín cao siêu nhất của y đang tạo ra được kết quả v́ chẳng c̣n lại điều ǵ khác hơn nữa; mọi thứ có tính cách ích kỷ hoặc đeo bám đều đă bị bỏ lại đằng sau trên cơi trung giới.
Đó là v́ có hai loại t́nh yêu. Có một loại t́nh yêu vốn khó ḷng xứng đáng với tên gọi cao quí như thế; đối tượng lúc nào cũng nghĩ đến việc nó sẽ nhận được bao nhiêu t́nh yêu để đổi lấy lượng t́nh yêu mà nó đă đầu tư trong việc luyến ái, nó luôn luôn lo lắng để xem cái lượng t́nh ái chính xác mà người khác dành cho nó được bao nhiêu, và v́ thế nó thường xuyên vướng mắc vào cái ṿng lẩn quẩn ác hại của sự ghen tuông và nghi ngờ. Một loại xúc cảm như thế có tính cách đeo bám và đầy tham dục ắt thể hiện thành kết quả nghi ngờ và khốn khổ trên cơi trung giới mà nó rơ rệt là thuộc về đó. Nhưng c̣n có một loại t́nh yêu nữa chẳng bao giờ buồn nghĩ xem ḿnh đă được yêu đến mức độ nào, mà chỉ nhắm vào một mục đích là tuôn đổ ra một cách không dè dặt t́nh cảm của ḿnh hiến dâng cho đối tượng và chỉ cân nhắc đến việc liệu cái xúc cảm đang trào dâng trong tâm hồn ḿnh như thế sẽ biểu hiện ra thành hành động đến mức độ nào. Ở đây không có sự giới hạn v́ không có sự đeo bám, không có sự thu hút về bản ngă, không có việc nghĩ tới được yêu đáp trả lại và cũng v́ thế có một sự tuôn đổ thần lực ghê gớm mà không một vật chất của cơi trung giới nào có thể biểu hiện được, không một chiều đo nào thuộc cơi trung giới có thể dung chứa được. Nó cần tới một loại vật chất tinh vi hơn và một không gian rộng lớn hơn thuộc một mức độ cao hơn, và năng lượng được sản sinh ra như thế phải thuộc về cơi trí tuệ. Cũng giống như vậy, có một loại sùng tín tôn giáo vốn chủ yếu là chỉ nghĩ tới việc ḿnh cầu nguyện để được cái ǵ và hạ thấp sự thờ cúng của ḿnh xuống tới mức buôn thần bán thánh; trong khi đó cũng có một ḷng sùng tín chân thực vốn hoàn toàn quên ḿnh trong khi lặng ngắm đấng thiêng lịêng. Chúng ta đều thừa biết rằng trong khi đạt được ḷng sùng tín cao nhất, ta vẫn thấy có một điều ǵ đó chưa được thỏa măn, những hoài băo cao siêu nhất của ta chưa được thực hiện và khi chúng ta thật sự yêu thương một cách bất vị kỷ th́ cảm xúc của chúng ta vượt xa hơn hẳn mọi khả năng biểu lộ trên cơi trần đến nỗi mà xúc cảm sâu xa được khuấy động trong tâm hồn ta do loại âm nhạc cao quí nhất hoặc loại nghệ thuật toàn bích nhất đều đạt đến những đỉnh cao và độ sâu mà ta không hề biết tới trên cơi trần thế buồn tẻ này. Thế nhưng mọi thứ đó đều là một loại thần lực mầu nhiệm vượt hẳn mọi tính toán của ta và bằng cách nào đó nó phải tạo ra kết quả ở đâu đó v́ luật bảo toàn năng lượng vẫn có giá trị trên các cơi tư tưởng và hoài băo cao siêu cũng chắc chắn giống như luật bảo toàn năng lượng trong cơ học b́nh thường. Nhưng v́ nó phải phản tác động lên kẻ nào đă tác động nó, thế mà nó không thể tác động trên cơi trần v́ vật chất của cơi trần có phạm vi hạn hẹp và tương đối thô trược, cho nên bằng cách nào và khi nào th́ nó có thể tạo ra được kết quả tất yếu của ḿnh ? Nó chỉ c̣n có nước đợi cho đến khi con người đạt tới mức độ của nó; nó vẫn cứ là loại năng lượng được tích trữ cho đến khi có cơ hội. Trong khi tâm thức của y tập trung vào cơi hồng trần và cơi trung giới th́ nó không thể phản tác động lên y, nhưng ngay khi y đă chuyển dời chính ḿnh hoàn toàn lên cơi trí tuệ th́ nó đă sẵn sàng dành cho y những cổng tháo nước của nó đă được mở toang ra và tác động của nó bắt đầu. Sự công bằng hoàn toàn đă được thực hiện và chẳng có một thứ ǵ bị mất đi đâu cho dù đối với chúng ta trong hạ giới này th́ nó dường như đă bị mất hút mục tiêu và chẳng đi đến một kết quả nào.
đầu sách cuối sách mục lục chương 1 2 3 4 5 6 7 8 9
NHIỀU GIAN NHÀ
Chủ điểm của quan niệm mà giờ đây ta cần phải hiểu đó là cách thức con người tạo ra cơi trời của chính ḿnh. Ở đây trên cơi này nơi mà Tư tưởng của Thượng Đế tồn tại th́ chúng tôi có nói rằng mọi vẻ đẹp và sự vinh quang đều có thể quan niệm được; nhưng con người chỉ nh́n thấy nó qua những cửa sổ mà chính ḿnh đă tạo ra. Mọi h́nh tư tưởng của y đều là một cửa sổ như thế, thông qua đó y có thể đáp ứng với những lực ở bên ngoài. Nếu y chủ yếu chỉ đánh giá cao những sự vật trần tục trong buổi sinh thời th́ y chỉ tạo ra được cho chính ḿnh một vài cửa sổ thông qua đó sự vinh quang thượng đẳng này có thể soi sáng cho y. Thế nhưng mọi người đều có được một chút xúc cảm thuần túy và vị tha cho dẫu nó chỉ xảy ra một lần trong trọn cả kiếp sống của y, và giờ đây điều đó sẽ là một cửa sổ dành cho y. Ngoại trừ những kẻ cực kỳ dă man trong những giai đoạn rất sơ khai, mọi người đều chắc chắn có được một điều ǵ đó trong cái giai đoạn phúc lạc nhiệm mầu này. Thay v́ nói theo chính thống giáo rằng một số người sẽ lên thiên đường c̣n một số người xuống địa ngục, ta ắt chính xác hơn nhiều khi bảo rằng mọi người đều chia sẻ cả hai trạng thái này (nếu ta bắt buộc phải gọi cái sinh hoạt trên cơi thấp nhất của cơi trung giới bằng một danh xưng khủng khiếp là địa ngục), chỉ có điều là tỉ lệ tương đối của chúng lại khác nhau. Ta phải nhớ rằng cho đến nay linh hồn của kẻ phàm phu chỉ ở một giai đoạn phát triển sơ khai. Y đă học cách sử dụng xác phàm một cách tương đối dễ dàng và y cũng có thể hoạt động tương đối tự do trong thể vía, mặc dù hiếm khi nào y có thể nhớ được những hoạt động của nó để ghi khắc vào óc phàm; nhưng cho đến nay thể trí của y tuyệt nhiên không phải là một hiện thể theo bất kỳ ư nghĩa chân thực nào, v́ y không thể sử dụng nó giống như các hạ thể kia, y không thể du hành trong thể trí cũng không thể sử dụng những giác quan của nó để tiếp nhận thông tin một cách b́nh thường.
V́ vậy ta không được nghĩ rằng y ở trong t́nh trạng hoạt động lăn xăn hoặc có thể di chuyển thoải mái giống như khi y ở trên cơi trung giới. T́nh trạng của y ở đây chủ yếu là có tính chất tiếp thu và việc y liên lạc với thế giới bên ngoài chỉ diễn ra thông qua những cửa sổ của chính y, do đó cực kỳ hạn hẹp. Kẻ nào mà hoạt động được trọn vẹn ở đây th́ hầu như đă là siêu nhân rồi v́ y phải là một chơn linh được vinh danh, một thực thể cao cả và tiến hóa cao. Y sẽ có được ư thức trọn vẹn trên đó và sử dụng thể trí cũng thoải mái như kẻ phàm phu sử dụng xác phàm, và thông qua thể trí những địa hạt tri thức cao siêu rộng lớn ắt mở rộng ra cho y.
Nhưng chúng ta đang nghĩ tới một kẻ cho đến nay kém tiến hóa hơn mức đó, người này chỉ có những cửa sổ và chỉ nh́n thấy qua những cửa sổ đó. Để hiểu rơ được cơi trời của y ta phải xét tới hai điều: mối quan hệ của y với chính cơi này và quan hệ của y với bạn bè. Vấn đề quan hệ của y với môi trường xung quanh trên cơi này được chia thành hai phần, v́ trước hết chúng ta phải nghĩ tới việc vật chất trên cơi này bị uốn nắn theo tư tưởng của y và hai là các lực trên cơi này được khơi hoạt để đáp ứng với những hoài băo của y.
Tôi đă đề cập tới cách thức con người bao quanh chính ḿnh bằng những h́nh tư tưởng; ở đây trên cơi này chúng ta ở ngay tụ điểm của tư tưởng cho nên tự nhiên là những h́nh tư tưởng đó cực kỳ quan trọng đối với những cân nhắc như thế. Có những lực sống động xung quanh y đó là những cư dân thiên thần dũng mănh của cơi này, nhiều đẳng cấp thiên thần rất bén nhạy với một vài hoài băo của con người và sẵn sàng đáp ứng với những hoài băo đó. Nhưng tự nhiên là cả tư tưởng lẫn hoài băo của y đều chỉ đi theo những đường lối mà y đă chuẩn bị sẵn trong buổi sinh thới. Dường như là khi y được chuyển dời lên một cơi có sức mạnh