trang nhà l trang sách l bản tin l thiền học l tiểu sử l trang thơ l h́nh ảnh l bài vở

 

Tác giả : ch. lazenby m.a.

người phụng sự
( Le Serviteur )

 


 

những định luật về đời sống

cho những thí sinh muốn được điểm đạo

 Dịch giả : bạch liên và cao thị lan

 


đầu  sách l cuối sách l mục lục l chú thích

 

 MỤC  LỤC

- Vài lời nói đầu của dịch giả từ Pháp văn ra Việt văn.

- Bài tựa của dịch giả ẩn danh từ Anh văn ra Pháp văn.

- Bài thơ Trường Thiên.

- Vào đề.                                   

QUI LUẬT I -  Bước đầu tiên là sống để phụng sự nhân loại .

 - Hiến dâng.

QUI LUẬT II  - Các bạn hãy bền chí trong việc tự hiến dâng để phụng sự nhân  loại.     

QUI LUẬT III -  Các bạn hãy phân biện.         

QUI LUẬT IV  - Các bạn hãy học hỏi về giá trị của sự định trí.     

QUI LUẬT V  - Các bạn hãy tập suy nghĩ cho minh bạch. 

QUI LUẬT VI - Các bạn hãy phụng sự lý tưởng tùy theo tính chất và trình độ     mình.

QUI LUẬT VII  - Các bạn chớ lưng chừng.

QUI LUẬT VIII-  Các bạn hãy chăm chỉ  nhận xét đời sống ở chung quanh có liên

quan đến mình và hãy cố gắng hiểu sự huyền diệu của nó.    

QUI LUẬT IX - Các bạn hãy lãnh đạm với những vật ở ngoại giới.

QUI LUẬT X    - Các bạn hãy đến gần Chơn Sư.

- Trung đoạn.

Qui luật XI - Các bạn đừng nhận tiền thù lao công việc tinh thần của mình.  

 QUI LUẬT XII - Các bạn hãy tránh sự tự thương thân xót phận.

QUI LUẬT XIII   - Các bạn hãy tránh sự khoe khoang, phô trương.

QUI LUẬT XIV   - Các bạn chớ tự tán thưởng chớ tự khen phục mình.

QUI LUẬT XV    - Các bạn hãy tránh sự  tự  mãn chánh đáng.

QUI LUẬT XVI   - Các bạn hãy khước từ  những kết quả của việc làm.

QUI LUẬT XVII   - Các bạn hãy nói sự thật, hãy hoạt động thành thật, hãy là hiện thân của sự thật.

QUI LUẬT XVIII -  Các bạn hãy hợp nhất với tác giả của các thứ Thánh kinh khi     đọc những cuốn này.

QUI LUẬT XIX - Các bạn hãy tự do      .

QUI LUẬT XX -  Các bạn hãy tránh những thủ đoạn phô bày quyền lực.

QUI LUẬT XXI - Các bạn hãy thương yêu trong sự giản dị tuyệt đối. Các bạn đừng e sợ phải thương yêu.

QUI LUẬT XXII - Các bạn hãy trở thành những "Đấng Cứu Thế”.

                        * SHAMBALLA (Bồng Lai)

                       * BA LỜI NGUYỆN ƯỚC :

                        - Nguyện thanh bần.

                        - Nguyện vâng lời

                       -  Nguyện trinh khiết. 

                       * SHAMBALLA - Thành trì thiêng liêng của Đất Linh Huyền Bí.

hết

 


đầu  sách l cuối sách l mục lục l chú thích

 

VÀI LỜI NÓI ĐẦU CỦA DỊCH GIẢ

TỪ PHÁP VĂN RA VIỆT VĂN

 

          Xét rằng cuốn này rất hữu ích cho những ai muốn tiến đến cửa Đạo, chúng tôi hết sức cố gắng dịch nó từ Pháp văn ra Việt văn, chỉ mong mỗi một điều là những người chí nguyện muốn Phụng Sự biết được mình phải làm những việc nào mới mong đạt được kết quả tốt đẹp mà thôi. Nhưng chúng tôi gặp những nỗi khó khăn sau đây.

          Từ ngàn xưa những cuộc Điểm Đạo của Quần Tiên Hội vẫn giấu kín, công chúng không hề hay biết. Chỉ trong những Đạo viện và những Thánh đường do Chơn Sư hay Cao đồ của Ngài cai quản thì người ta mới nói tới và chỉ dạy những điều kiện mà thí sinh phải thực hành đầy đủ thì cửa Đạo mới mở rộng đặng  rước vào.

          Ở ngoài đời các tôn giáo công truyền không đề cập tới những vấn đề này mà dầu cho có sự tiết lộ đi nữa thì cũng là những lời bóng dáng nói phớt qua mà thôi.

          Một lẽ khác nữa, cách diễn tả tư tưởng của những nhà đạo đức Âu Mỹ không giống những người Đông Phương, như chúng ta chẳng hạn. Những từ ngữ đạo đức của chúng ta dùng không có đủ để dịch đúng với nguyên văn. Nếu dịch từ chữ này qua chữ kia thì nghe rất chướng tai, mà đọc giả cũng chẳng hiểu tác giả muốn nói chi. Thế nên chúng tôi phải chọn lọc từ chữ và sửa bản dịch nhiều lần mà cũng chưa vừa ý.

          Nhưng chúng tôi nghĩ rằng: nếu đợi có một bản dịch thật hoàn toàn thì phải mất nhiều năm nữa và trong thời gian đó các bạn mộ Đạo không có sách để dùng. Chi bằng tốt hơn là cho xuất bản ngay bây giờ rồi lần lần sẽ bồi bổ những chỗ khuyết điểm. Vì vậy chúng tôi xin nhận trước lỗi đó và xin quí bạn lượng thứ cho, chẳng những bản dịch này mà luôn cả những bản dịch đã xuất bản và sắp xuất bản trong một tương lai gần đây.

BẠCH - LIÊN
  ngày 17 - 4 - 1964
 Mồng 6 tháng 3 năm Giáp Thìn

 


BÀI TỰA CỦA DỊCH GIẢ ẨN DANH

TỪ ANH VĂN RA PHÁP VĂN

          Ch. Lazenby là người khiêm tốn, ông không ưa thích một sự quảng cáo nào. Ở tất cả mọi phương diện, đời Ông thật xứng đáng với cái triết lý cao siêu nó đã cảm hứng cho ông viết cuốn sách này. Ông có thói quen trình bày tác phẩm của ông với công chúng mà không bao giờ dùng những phương pháp rao hàng tầm thường. Ông để cho cái chân giá trị của tác phẩm mình định đoạt lấy số phận nó; ông phú cho thiên mạng; ông để cho Thượng Đế Ngài quyết định và dìu dắt những ai có nghiệp quả tốt lành, xứng đáng được đọc những tác phẩm ấy.

          Tuy nhiên, bởi vì tôi trình bày tác phẩm này cho đọc giả người Pháp nên tôi xin phép giới thiệu với đọc giả rằng: Ch. Lazenby sinh ở Gia Nã Đại, giòng dõi quốc tế, ông là kiểu mẫu của những "Người Phụng Sự" mà ông đã mô tả. Cả một đời ông đều hiến dâng để phụng sự đồng loại. Ông quí mến tất cả mọi người với tấm lòng thành thật không bao giờ thay đổi; dù là bạn ông hay là người mà ông chưa từng quen biết. Ông đã sống nhiều hơn hết ở Gia Nã Đại, Anh Cát Lợi và ở Hoa Kỳ, đã cộng tác với nhiều tạp chí huyền bí, đã diễn thuyết          ở những giới Thông Thiên Học và rất được người ta chú ý. Phần lớn cuốn "Người Phụng Sự" này được viết ở Californie, xứ lý tưởng để khảo cứu về Đạo Lý.

          Nguồn cảm hứng của cuốn sách này cao siêu đến nỗi dịch giả phải rán dịch cho thật sát nghĩa chớ không dám nghĩ đến sự văn hoa chải chuốc, chỉ cần cho câu văn đúng văn phạm mà thôi. Dịch giả cố gắng làm cho tác phẩm cao quí này vừa sức đọc giả người Pháp, đồng thời hết sức đúng với ý nghĩ của  tác giả mà dầu có một tư tưởng khác xen lẫn vào đây thì chỉ cũng ở mức tối thiểu mà thôi. Nếu được thành công như vậy, dịch giả hết lòng biết ơn các Đấng Chí Tôn cầm cân nghiệp quả. 

Một người phụng sự ( ẩn danh )

 


  

bài thơ trường thiên


 

          Màn đêm phủ lên khắp vũ trụ và mọi người đều ngủ. Một em bé còn thức. Em đứng tựa cửa sổ của một túp lều tranh tầm thường và ngắm một ngôi sao lớn, trắng bạc đang lấp lánh trên vòm trời phương Đông. Em mới vừa ý thức được những sự kỳ diệu của sự tự biết mình. Đối với em, những khả năng để em có thể tự phát biểu hình như vô cùng vô tận. Em nghĩ đến nhiều chuyện mà em muốn làm và muốn sống như thế. Trong khi em còn đang mơ mộng thì ngôi sao mà em ngắm hình như tiến gần đến em; và không còn là một ngôi sao nữa mà nó biến thành một người chói sáng mỉm cười cùng em một cách hết sức niềm nở, đến nỗi trái tim em rung lên vì hân hoan. Người đó bồng em lên trên tay và em cảm thấy một hạnh phúc và một quyền năng vô biên.

          Người nói: Hỡi em nhỏ, ta bao giờ cũng ở một bên em để ban cho em tất cả những gì mà em có thể ao ước. Em sẽ tự lựa chọn đi. Trong mọi sự, em muốn cái gì hơn hết ?

          Em muốn giàu có.

          Tinh Quân mỉm cười và biến  mất.

          Em nhỏ ra đời trong một hoàn cảnh giàu sang vô cùng. Em có vô số vàng bạc và những rương dẫy đầy châu báu. Em ở trong những lâu đài bằng cẩm thạch trắng, trên bờ biển rực rỡ ánh Thái dương.

          Em chỉ khẻ ra hiệu thì hàng ngàn nô tỳ cúi đầu vâng lệnh. Em đi du lịch. Trong sự tráng lệ và huy hoàng, em đi từ xứ này sang xứ khác trên những chiếc tàu lộng lẫy. Bạn em là những đế vương và giới thượng lưu trên thế gian cầu xin em che chở. Em cho những vua chúa vay mượn tiền bạc, em là một sức mạnh cầm trong tay vận mệnh của những quốc gia.

          Rồi em cảm thấy mệt mỏi và ngủ thiếp đi.

          Tinh Quân lại đến bên em và mời em lựa chọn nữa.

          Em muốn làm một vị Đế Vương hiếu chiến.

          Người chỉ đạo của em mỉm cười và biến mất.

          Em sinh trong những trường hợp thuận tiện và em khéo lợi dụng nó. Em chỉ huy những đội binh hùng hậu, và khi em phi ngựa trước ba quân, thì quân sĩ hoan hô em nhiệt liệt với lòng tin cậy và trung thành. Em dẫn họ đi chinh chiến. Sau nhiều trận mạc, em lên nắm chính quyền. Em làm chủ những đất đai rộng lớn. Ngọn cờ biểu hiện uy quyền của em bay phất phới trên những xứ nhỏ cũng như những xứ lớn. Những quốc gia khác nể sợ em. Những vị Vua Chúa kém thế lực đều đem lễ vật đến triều cống. Đạo chiến thuyền của em làm bá chủ trên nhiều mặt biển. Em đổi cục diện thế giới, sáng lập một kỷ nguyên mới trong lịch sử vạn quốc.

          Rồi em thấy mệt và ngủ thiếp đi.

          Tinh Quân trở lại với em. Em nói:

          Tôi muốn làm một vị Đại tăng, một vị Chưởng giáo có thế lực. Người hộ trì em mỉm cười và biến đi.

          Em thấy mình ở trong một tu viện với những bức tường ngăn cản mọi tiếng quay cuồng của thế giới phù hoa. Đó là một đời sống trầm lặng và em thỏa chí vì đã tự chủ được sau những buổi thức đêm và những phép tu khổ hạnh. Em ghét tội ác. Em nhìn những cây nến vàng lớn đang cháy và em  quì xuống tôn sùng những biểu tượng của tôn giáo em. Em thờ phượng Chúa trong lý tưởng vẹn toàn của em; và được một số đệ tử có nhiệt tâm tôn làm bậc Thánh. Mỗi tiếng tự miệng em thốt giống như một lằn roi đánh vào kẻ phạm tội lòng dạ chai ngắt, và tay em luôn luôn cầm sắt đỏ sẵn sàng in dấu lên tội ác. Em tự cho mình cái quyền xét xử và lên án tội ác, nói rằng quyền ấy tự Trời ban cho. Thế lực em càng ngày càng tăng cho tới khi em tiến đến phẩm vị cao nhất của tôn giáo; lời nói của em được hàng triệu tín đồ tôn sùng như chính lời nói của Thượng Đế vậy. Em sốt sắng phụng sự Chúa, rồi em mệt mỏi và ngủ thiếp đi.

          Khi người chỉ đạo trở lại, em nói em đã chán những sự bó buộc và chọn một đời sống hoàn toàn thuộc về giác quan. Người thương em mỉm cười và lại lên đường.

          Em trở lại trong một cõi đời đầy hứa hẹn và vui thú. Không khí sực nức mùi hương. Tiếng đàn sáo ḥa tấu lẫn với tiếng  chim ca. Những mỹ nữ đẹp tựa tiên nga, lòng đầy ân ái, làm thoả mãn dục vọng của em. Trong những sân màu sắc lộng lẫy, những vũ nữ thân hình uốn éo như sóng gợn nhảy múa theo những âm điệu du dương, khêu gợi, trong một bầu không khí ấm áp. Hết yến tiệc linh đình này, đến yến tiệc linh đình khác, với những rượu lựa chọn kỹ nhất, những trái cây ngon ngọt nhất và những món ăn ngon lành nhất. Em mặc những nhung lụa loè loẹt đắc tiền và em nằm nghỉ thong thả trên những tấm nệm êm mịn, giữa những cột ngà chạm trổ khéo léo; và em mệt mỏi rồi lại ngủ thiếp đi.

          Trong ngày đó, một thiếu nữ đi qua lâu đài của em. Tuy cô hiểu cách em sống và không khinh bỉ em, nhưng cô không ưa thích cái khoái lạc đó, nó không phải là dấu hiệu của một ý chí thâm sâu muốn phụng sự đời.

          Cô cười với em một nụ cười vừa thông cảm, vừa dò hỏi như một người mẹ cười khi nhìn con mình chơi giỡn, rồi cô bỏ em mà đi, để hình ảnh cô in sâu vào trí nhớ em.

          Khi Tinh Quân đến với em, em nói:

  Tôi muốn có dáng vẻ đạo đức và khiến cho thiếu nữ này thương và yêu tôi.

          Người hộ trì em mỉm cười và lại lên đường.

          Thiếu nữ gặp em trong một đời sống giản dị và ít quay cuồng hơn. Tuy bản tính em chưa thay đổi hẳn, nhưng cái vẻ bề ngoài của em đã được hoàn cảnh mới làm cho khác đi, và thiếu nữ thương em, say mê em, thờ phượng em và hiến mình cho em với tất cả sự thành khẩn của nữ tánh trong trắng.

          Tự cảm thấy mình không xứng đáng với sự hiến dâng ấy, em lùi lại phía sau và ngủ thiếp đi.

          Khi người chỉ đạo em trở lại, thì ý nghĩ đầu tiên của em là người thiếu nữ kia, tuy nhiên em nói với người chỉ đạo rằng:

          Tôi muốn thành một nhà Đại Bác Học có những kiến thức uyên bác trong nhiều lãnh vực.

Ông Thầy mỉm cười và lại lên đường.

          Em ra đời với một tánh hiếu kỳ lạ lùng, một thân thể sáng ngời sức khoẻ và một bộ óc mạnh mẽ. Em xem vũ trụ như một gian phòng của viện bảo tàng vừa rộng rãi, vừa thuận tiện, tường có cửa thông qua những phòng khác.

          Ở giữa mỗi phòng, có một cái tủ với nhiều ngăn kéo, đồ vật xếp đặt có thứ tự, nhưng phần đông các ngăn kéo khác thì hỗn độn, cần nhiều sự thông minh, sự khó nhọc và nhiều kiên nhẫn mới xếp được chúng cho có trật tự và để cho người quan sát có thể thấy được rõ ràng chúng chứa đựng những gì bên trong. Lòng đầy hứng thú, em hăng hái kê biên những vật hỗn độn. Trong nhiều ô kéo, em xếp một cách cẩn thận và có thứ tự những vật rời rạc, em xếp thành từng thứ, từng loại và ký tên em lên đó. Công chúng đi qua viện bảo tàng, xem qua loa những ngăn tủ và nói một cách kính cẩn về công việc trọng hệ của em. Năng lực em thúc đẩy em làm việc ở nhiều phòng khác và em được tôn là một trong những nhà thông thái uyên bác nhất thế gian. Nhưng một hôm, em trở lại phòng đầu tiên. Ở đó em đã làm việc thì em thấy những tác phẩm mà em xếp từ thuở trẻ đã bị bụi phủ lên, và trong những ngăn kéo mới, mọi vật cũng lại vô trật tự một cách thảm thương. Em mệt và ngủ thiếp đi.

          Em hết sức ao ước được gặp lại thiếu nữ bạn em. Tuy vậy, khi người chỉ đạo tới, em muốn chuyên tâm ngắm vẻ mỹ lệ của thế giới và ca tụng cái đẹp mà em được xem. Tinh Quân mỉm cười và lại lên đường.

          Ở mọi vật, em thấy cái đẹp huy hoàng. Em nghe những âm thanh khác nhau ḥa tấu nhịp nhàng, tiếng dế ngâm nga, tiếng suối róc rách, tiếng cười của đàn ông và phụ nữ, tiếng hò hét của những phố phường, đô thị, tiếng sấm nổ vang rền và tiếng mưa rơi lác đác. Em sáng tác những bản nhạc hùng hồn làm ngây ngất lòng người và nâng cao phẩm giá của nhân loại. Em nhận thấy vẻ đẹp ở những hình hài và ở màu sắc trong mọi đồ vật quanh mình và em biết cách làm cho kẻ khác cũng thưởng thức được vẻ đẹp ấy. Em hiểu mỹ lệ là gì và dù em sáng tác bằng màu sắc, bằng cẩm thạch hay bằng lời nói, em biết ban rải một sự vui trọn vẹn cho những ai gặp tác phẩm em. Em thành một bậc thầy siêu việt và được thế hệ em cũng như những thế hệ vị lai xem như một thiên tài.

          Nhưng em cảm thấy mệt mỏi và ngủ thiếp đi.

          Lúc đó em nghe tiếng gọi quyến rủ của thiếu nữ và em xin được xứng đáng với nàng. Người dìu dắt em mỉm cười và lên đường.

          Em cùng thiếu nữ chung sống và làm việc, với một trực giác càng ngày càng tăng gia, mỗi người cảm thấy rằng mình có những trách nhiệm mới để hoàn thành một sứ mạng cao cả hơn. Mỗi người đều làm cho đời sống của người bạn trăm năm mình được đầy đủ, vẹn toàn và phong phú; một cách êm đềm, họ cảm thấy mối tình của họ phát triển, nó cởi mở hết các dây ràng buộc đến mức để cho linh hồn được hoàn toàn tự do. Rồi buổi bình minh của ngày giải thoát cuối cùng đến với họ, và khi Tinh Quân hiện đến, họ chọn mỗi người một cuộc đời mà họ ưa thích nhất. Em nhỏ mà ta theo dõi trong nhiều kiếp bèn nói rằng:

          Tôi ngán ngẩm cuộc đời và tâm hồn tôi chán chê sự phiền lụy của các ý kiến. Tôi không còn muốn một sự gì, không còn một địa vị nào giữa thế nhân quyến rủ nổi tôi nữa. Tôi không thấy có cái gì đem đến cho tôi một thú vui thật sự. Tôi biết tôi không thể chết được. Nếu có một lý tưởng mà nhân loại phải đạt cho được thì hãy để tôi phụng sự lý tưởng đó và giúp đỡ đồng loại tôi. Tôi thấy tôi già lắm rồi. Hãy để cho tôi dành hết thời giờ mà phụng sự nhân loại ở nơi nào mà người ta cần đến tôi nhất. Tôi không biết phải giúp con người cách nào tốt nhất để thực hiện được cái mục đích cao cả của đời sống, nhưng tôi biết rằng mọi việc đều được xếp đặt một cách hết sức tốt lành và con người đang tiến đến một đời sống cao thượng và đẹp đẽ. Xin đừng để tôi rời xa con người khi y còn cần đến một vị hướng đạo giúp sức. Bất cứ nơi nào, cầu xin cho tôi được làm một dụng cụ để giúp y phát triển. Tôi không đòi hỏi cho sự phục vụ của tôi được tỏ lộ rõ ràng và dù phục vụ người này hay kẻ khác, đối với tôi thì cũng vậy, bởi lẽ tất cả mọi người đều đồng tiến đến một mục đích vĩ đại. Hãy dùng tôi để phụng sự nơi nào mà tôi hữu ích hơn hết. Tôi không tưởng tượng một phần thưởng nào cả, mà dù có tưởng tượng được chăng nữa thì tôi cũng đã ngán ngẩm mọi phần thưởng rồi. Hãy để cho tôi thành một "kẻ phụng sự nhân loại".

          Đức Thầy nói:

          "Con ơi, sự lựa chọn này khác hẳn sự  lựa chọn trước. Trên đường này, con sẽ phải cô đơn. Thiên hạ sẽ không công nhận là con cao thượng, con khôn ngoan. Không bao giờ con làm giàu được vì tiền mà con sẽ cầm trong tay là của cả giống nòi chớ không phải là của riêng con, con sẽ không có nhà cửa, không có y phục đẹp, và có thể không được thường ăn đủ no. Con sẽ cố gắng giúp đỡ mọi người và họ sẽ chế nhạo những sự cố gắng của con. Con sẽ thấy họ tư tưởng và hành động để gây cho họ những sầu não và đau khổ, và con sẽ không sao ngăn cản họ được, nhưng khi họ bị đau đớn dày vò thì con phải sẵn sàng giúp đỡ họ. Con sẽ đi khắp cả địa cầu và thỉnh thoảng mới gặp được những người phụng sự như con. Con sẽ không có gia đình, con sẽ không có bạn riêng, vì con phải là kẻ phụng sự tất cả mọi người, và những tình bằng hữu thế nhân không hợp với trường hợp này. Con sẽ sống lẻ loi và trong nhiều thế kỷ con sẽ mang trên vai cái gánh nặng gồm những sự đau khổ của những người mà con chưa hề thấy và cũng sẽ chẳng gặp bao giờ nữa. Con giống như một người lính đầu quân để phục vụ mệt nhọc trong một trận giặc chỉ chấm dứt khi người cuối cùng của nhân loại không cần đến ai giúp đỡ cả. Ít người ham làm cái việc mà con muốn làm. Chẳng có cái gì thuộc quyền sở hữu của con cả. Có thể con sẽ phải làm những việc đáng buồn tẻ nhất, cực nhọc nhất. Hết kiếp này sang kiếp khác, con sẽ được gởi đi tới nơi nào mà người ta cần dùng sự cứu giúp hơn hết. Dù con ưa thích điều đó hay không, lòng trung thành của con đối với lý tưởng đã chọn lựa sẽ bị thử thách trăm ngàn cách khác nhau. Con sẽ phải tuân theo một kỷ luật gắt gao và ít khi con được khuyến khích. Vị đại tướng của con sẽ quở mắng con nhiều hơn là khen ngợi con. Cái sự con hy sinh những tham vọng riêng tư sẽ chẳng có gì đáng chú ý vì người chiến sĩ nào đã đầu quân cũng đều hy sinh như vậy cả. Ở mỗi kiếp, con sẽ đau khổ và thu thập được nhiều kinh nghiệm rộng lớn để có thể cảm thông với tất cả mọi người. Con sẽ biết những sự đau buồn và chán ngán, nhiều khi con sẽ sợ hãi đến kinh khủng và con chỉ có một phần thưởng thôi, đó là lòng bác ái mà con phải luôn luôn ban rải. Con hãy suy nghĩ kỹ trước khi lựa chọn con  đường  này".

          Em nhỏ nói:

          Không còn có con đường nào khác nữa.

          Tinh Quân trong lòng hớn hở vì sung sướng bèn bồng em bé lên trên tay và mang em đi thật xa. Em cảm thấy một sự an lạc kỳ diệu thấm vào giác quan và thần trí. Em trông thấy quang cảnh những thế giới bao la trong một sự huy hoàng không thể tưởng tượng được. Những bản nhạc lớn và huyền diệu vang lừng trong những cõi không gian vô tận.

          Ở nơi đây lần lượt những vị Thần minh sáng chói bay lượn nhịp nhàng. Những nỗi vui cao thượng nhất của hồng trần được tăng lên gấp hàng ngàn lần. Trong một niềm vui vô tận, sự tự do tuyệt đối ngự trị thế giới siêu việt này. Em nhỏ cảm thấy một hạnh phúc vô biên trong cánh tay của người chỉ đạo thiêng liêng.

          Rồi người chỉ đạo nói :

          Thế giới này là của con, con đã dứt bỏ những sự trói buộc của những dục vọng hồng trần và vì vậy con không còn bị vật chất hạn chế nữa. Con xứng đáng được thừa hưởng cái di sản thiêng liêng này. Trong cái thế giới đang mở rộng đón con đây, không có sự cực nhọc và đau khổ nào vô tới được. Những niềm vui ở đây không tan mất như những niềm vui hồng trần mà con vừa từ bỏ. Con sẽ sống trong sự vinh quang của cái di sản thiêng liêng này, những kiếp sống hồng trần của con đã tiền định cho con được như thế. Con cởi bỏ mọi kỷ niệm buồn rầu, đau khổ và lo lắng. Con sẽ quên, cũng như bây giờ con đang quên, cả đến sự hiện tồn của thế giới nơi đó loài người, xưa kia là đồng loại của con đang chiến đấu. Sự đau khổ của thế gian sẽ không cảm tới con nữa, và con cũng sẽ không còn nhớ đến nó nữa, trừ khi nào con còn sống giữa nhân loại.

          Rất ít người sau khi nhìn thấy cảnh giới này mà vẫn lựa chọn cái điều con chọn. Ở trường hợp này, phải hay quấy, lành hay dữ không thành vấn đề nữa, cảnh này là di sản của con, là quê hương chính của con. Con sẽ hoàn toàn có quyền ở lại đây và những Bậc Chơn Sư sẽ tán thành sự lựa chọn của con nếu con chọn theo chiều hướng đó. Dù sau này con có trở về với nhân loại hay không, tất cả nhân loại rồi cũng sẽ theo thời gian mà đi đến cái niềm vui toàn vẹn này. Nếu con còn xuống thế gian, đó là để cứu trợ loài  người trong  khi họ đang đau khổ và giúp họ tiến đến những cảnh giới an lạc mỹ lệ và quang minh.

          Vị chỉ đạo sáng ngời dẫn em nhỏ xuống những chỗ ghê gớm nhất của các đô thị lớn, trong các khám đường, các viện mồ côi, các nhà dưỡng lão và các nhà trừng giới. Ngài dẫn em đến với hạng cùng đinh trong xã hội, những người tham lam bốc lột tàn nhẫn đồng loại; vị chỉ đạo dẫn em vào những túp nhà dơ bẩn lụp xụp đầy tội ác đê hèn nhất, nơi đó xác thân phụ nữ và đàn ông bị mang ra bán đấu giá. Vị chỉ đạo chỉ cho em thấy tất cả những sự nhỏ nhen, đê tiện đáng thương, chúng chi phối con người trong nhiều sự hành động của họ. Rồi vị chỉ đạo nói:

          Những kẻ này cũng là huynh đệ của con và họ cần con giúp đỡ trong hàng ngàn năm. Do hầu hết những tư tưởng của họ, họ kêu gọi những sự đau khổ đến với họ, con phải vui lòng chia sớt với họ những nỗi đau khổ ấy vì con thương yêu họ. Con ơi, bây giờ con hãy lựa chọn đi.

          Em nhỏ nói:

          Con muốn làm người phụng sự nhân  loại.

          Đức Thầy mỉm cười và lại lên đường.

 

đầu  sách l cuối sách l mục lục l chú thích

 

vào  đề

 

"Con trùn biến thành con bướm.

 Con bướm lấy hoa hồng . . . .

 và con quạ hiện ra ! ! !"

(Tục ngữ khôi hài)

 

          Để mở đầu, có lẽ một vài định nghĩa sau đây là hữu ích.

          Con người làm chuyện Tà Đạo là khi y dùng những quyền năng tiềm tàng của y để mưu lợi riêng cho sự phát triển cá nhân y, như vậy, y sẵn sàng hy sinh hạnh phúc của kẻ khác. Phải hiểu phát triển cá nhân nghĩa là mọi sự bành trướng về giác quan, về cảm xúc hay về trí thức của một cá nhân, thực hiện được mà làm thiệt hại cho kẻ khác và không đếm xỉa đến những quyền lợi chơn chánh khác. Một người tầm thường, ít tiến hóa, lạm dụng sự ngu dốt và sự yếu đuối của kẻ khác để thu được một ít lợi lộc về tiền bạc hay để thỏa mãn một tham vọng cá nhân, tức là đang đi vào con đường nguy hiểm; nếu khi những quyền năng tiềm tàng của y phát triển mà y theo chúng nó thì y có thể thành ra kẻ Bàng Môn Tà Đạo.

          Chánh Đạo là việc dùng những quyền năng nói trên nhưng để phụng sự nhân loại; trong khi phụng sự, con người sử dụng quyền năng này luôn luôn sẵn sàng hy sinh mọi tiện nghi, mọi tham vọng cá nhân mình để làm việc hữu ích cho nhân loại. Kẻ phụng sự phải dứt tuyệt những thú vui giác quan, y còn phải từ bỏ mọi sự tôn kính chánh đáng mà cá nhân y có quyền hưởng thụ nếu y thấy rằng sự hy sinh như thế có thể giúp đỡ đồng loại trên con đường dài thăm thẳm nó dẫn loài người đến chỗ Toàn Thiện.

          Tà Đạo là sử dụng những quyền năng cố hữu của chúng ta, nhờ những lễ nghi cúng bái trợ lực, để tạo thành những hình hài, những đoàn thể, những tổ chức, những trung tâm để cho đời sống biểu hiện ra. Đó là sự phát biểu một hình thức, dù hình thức này thuộc về vật chất như ở trường hợp các giác quan tác động hay là sự thành lập những tổ chức dùng làm vận cụ cho một lý tưởng tôn giáo, khoa học, chính trị, mỹ thuật hay bất cứ một quan niệm nào khác cần phải có một hình thức tổ chức mới biểu lộ ra được. Đó là sự tạo lập những hình thức và nhiệm vụ của nó không phải là để lo cho đời sống và bản tính của một lý tưởng, mà là sinh ra hình thức cần thiết để cho nó phát biểu.

          Chánh Đạo là dùng những quyền năng cố hữu của bản chất con người để vượt qua những hạn định của hình thức và để giải thoát tâm hồn khỏi những dây trói buộc của những cảm giác, những sự tưởng tượng, chúng có xu hướng buộc con người vào những trạng huống chóng phai tàn của đời sống. Đó là sự phục vụ cái phần bất tử của bản thể con người kèm theo sự dứt bỏ những hình  thức vô thường nhất thời, sự bóp nghẹt những sự quyến rủ và lừa gạt, phỉnh phờ của chúng.

          Thuật pháp cao siêu là dùng có ý thức những quyền năng và mãnh lực tiềm tàng được phát triển ở nội tâm ta. Để phát biểu, nó không cần sự phù trợ của lễ nghi cúng bái của những tổ chức tôn giáo. Nó vun trồng một ý chí thiết thực và do sự cố gắng định trí, nó khiến con người có thể thành một kẻ sáng tạo những giá trị mới mẻ, một trung tâm mãnh liệt, ban rải những tư tưởng, những sự cảm xúc và từ điện.

          Thuật pháp thấp kém là dùng những phương tiện phụ thuộc để thỏa mãn những dục vọng và những tham vọng của con người, và để cho những quan niệm trí thức của y được vững chãi và cụ thể hóa. Nó không dự phần vào việc làm phát triển tinh thần, mà lại thêm sức cho những khía cạnh cảm xúc và từ điện của con người y. Tất cả những thần chú phù phép, những sự chiêu hồn, cầu đảo và cả đến thuật dùng những chân ngôn, dùng nhang, dùng màu sắc và cách truyền từ khí cho thực phẩm, cho các hình nhơn và cho mọi đồ vật hữu hình đều thuộc về phạm vi thuật pháp thấp kém. Thầy phù thủy còn thấp thỏi biết cách dùng những từ điện lực của y và có thể làm tăng hay giảm sinh khí của những người xung quanh theo ý y muốn. Nhưng hành động như vậy sẽ có những trách nhiệm nặng nề đến nỗi không một vị môn đồ nào thật chơn chánh mà lại liều lĩnh như thế. Những luật sư căi trước bồi thẩm đoàn, những giám đốc công ty nặc danh, những lãnh tụ các nghiệp đoàn, những người cuồng tín sốt sắng trong những buổi nhóm họp tôn giáo, thường dùng một cách vô tâm những từ điện lực này; họ thành công trên đường đời bằng cách đạt được một kết quả nhất thời làm thiệt thòi những người xung quanh họ. Ai hành động như vậy là tạo sự nguy hiểm cho chính mình, và những nhà huyền bí học đều thận trọng tránh xa những cách đó. Cũng vì vậy mà khoa thôi miên, khoa chữa bệnh bằng cách truyền sinh lực cùng bất cứ phương pháp nào chế ngự người thuộc hạng thụ  động, thực hành ở cõi trần hay ở cõi Trung giới đều bị cấm ngặt trong những nhóm người luyện  đạo A ri den (Aryens).

          Chúng tôi phải định nghĩa nữa, xin đọc giả tha lỗi.

          Đức Bàn Cổ [1] của nhân loại là cái giới hạn trong nội tâm của vũ trụ thức bao gồm mọi ý nghĩ và quan niệm liên quan đến con người và đến sự tiến hóa qua mọi thời đại, từ khi còn ở trạng thái cổ lỗ ban sơ hay ấu trĩ cho đến lúc được phát triển hoàn toàn tới khi hết hẳn một chu kỳ trọn vẹn của dòng  tiến hóa của nhân loại.

          Nhân loại gồm bảy giống dân chánh; mỗi giống dân chánh chia làm bảy giống dân phụ; mỗi giống dân phụ có một nhiệm vụ rõ rệt. Trong 49 nhánh dân phụ này, mỗi nhánh tạo tác những kiểu mẫu người riêng biệt, huấn luyện và dạy bảo dân mình một cách đặc biệt.

          Nhiệm vụ của ba giống dân chánh đầu tiên đã xong rồi, và chúng ta không cần phải nói đến họ trong cuốn sách này nữa.

          Tuy nhiên, còn 14 giống dân phụ [2] cần phải quan sát. Những nhu cầu của những người kiểu mẫu riêng biệt này của nhân loại cần phải được tất cả các nhà huyền bí học khảo sát; mấy vị này trong trung tâm Hội Thông Thiên Học, tìm cách phụng sự lý tưởng Huynh Đệ Đại Đồng mà không hề phân biệt nòi giống, tôn giáo, nam nữ, giai cấp hay màu da.

          Quần Tiên Hội do những vị Phụng Sự Nhân Loại họp thành, không ai có thể là nhân viên Quần Tiên Hội nếu không hiến dâng đời mình để phụng sự loài người. Mọi nhân viên đều thệ nguyện giúp đỡ nhân loại trong cuộc hành trình xa xôi và dạy dỗ con người, trải qua các giống dân, về  những điều cần biết ở mỗi chặng liên tiếp của con đường tiến hóa. Kẻ ít tiến hóa nhất của nhân loại cũng là kẻ đáng cho ta quan tâm đến, và những nhu cầu của y cũng phải được những người bạn chơn chánh của giống người chú ý tới. Đời sống nhân loại tiến hóa qua mười bốn nhánh dân phụ [3], mỗi nhánh dân phụ lại chia làm bảy tiểu chi hay là Họ. Quần Tiên Hội cũng chia ra những khu vực tương đương như vậy. Mỗi Họ trong các nhánh dân phụ được coi sóc và dìu dắt bởi một nhóm người phụng sự có nhiệm vụ che chở và soi sáng cho cái phần nhân loại ấy.

          Như thế, những phương pháp dạy dỗ và cái tính chất các bài phải học rất khác nhau. Những lý tưởng đều khác biệt nhưng tất cả đều cần thiết cho đời sống nhân loại đang tiến hóa. Sự minh triết là sự biết dùng học thức một cách đúng đắn. Phải thâu thập kiến thức rồi tiêu hóa nó, đồng hóa với nó, sau phải dùng kiến thức ấy mà phụng sự nhân loại. Khi mà một người đã hiểu một lý tưởng cao cả hơn và hiểu một quan niệm về thế gian thích hợp với những hình thức của sự sống mà nhân loại phải đạt tới để tiến hóa lên một bước nữa, thì người ấy như đem rọi vào đời sống của y một hình ảnh của cái lý tưởng mà y đang tượng trưng, bởi vì tất cả những gì mà người ta gieo mầm trong tâm và trí con người đều đơm bông kết trái dưới hình thức của sự hành động. Những người ấy là những vị Bồ Tát, hay là sự hiện thân của Bát Nhã, hay là Minh Triết, và ở mỗi Họ khác nhau trong những nhánh dân phụ của những giống dân chánh, thỉnh thoảng người ta thấy những vị Bồ Tát ra đời. Đối với con cháu loài người, các Ngài là những kiểu mẫu.

          "Những người ích kỷ, vô lương tâm thường tụ họp xung quanh các Ngài mà tìm cách ngăn cản các Ngài hành động. Họ dùng những phương pháp khác nhau. Có khi họ dạy những huynh đệ họ, những kẻ ít có bản ngã vững chắc, rằng Đức Bồ Tát cao thượng quá, không thể làm gương cho kẻ tầm thường được, hoặc họ làm biến đổi Ngài thành một vị Thần Linh, một vị Thượng Đế phải thờ phụng; như thế họ làm cho Đức Bồ Tát tách xa, rời khỏi đời sống thực tế, xa cách những ai cần phải nghe lời Ngài dạy bảo; hay là họ giết Ngài đi, xuyên tạc, phá hoại giáo lý của Ngài, buộc cho Ngài lời nói làm lợi lộc cho những mục đích ích kỷ của họ; ý nghĩa những lời nói xuyên tạc này hoàn toàn trái ngược hẳn với nhiệm vụ và lý tưởng của Ngài.

          Một trong những nhiệm vụ của các nhân viên Quần Tiên Hội là che chở cho chân lý thoát khỏi tay các tăng lữ của những tôn giáo công truyền, những kẻ tàn bạo ấy giống như bạo Chúa "Hérode" ngày xưa, lúc Đức Gia Tô giáng sinh, đã cho rượt đuổi và giết chết các hài nhi. Nhờ vậy, lý tưởng của Đức Bồ Tát mới được giữ gìn để truyền cho đời sau, mặc dầu có những sự công kích của đám tăng lữ ích kỷ. Khi thấy Chân Lý thoát khỏi bàn tay tham lam của họ, bọn này, liền xây dựng những nhà thờ, đền, chùa, giống như những con nhện giăng tơ để mà hút máu lũ con mồi, mới đây là những huynh đệ của họ không ích kỷ bằng họ; có lẽ những huynh đệ này rất muốn nếm mật ngọt của Chân lý mà Đức Bồ Tát tượng trưng như vậy.

          Chỉ cần một hay hai định nghĩa nữa sẽ xong mục "Vào Đề" này".

          Một nhà huyền bí học có thể là một sinh viên học hỏi những khoa học huyền bí hoặc là một người có phép thuật sử dụng trong những cảnh giới khách quan và chủ quan, sự hiểu biết của y về những năng lực tiềm tàng của con người và thiên nhiên.

          Sinh viên khảo cứu về huyền bí học có thể ích kỷ hay vô tư lợi. Y có thể tìm cách phát triển cá nhân y do sự luyện tập tự chủ gắt gao trong tất cả những thành phần của linh hồn y, hay y có thể mong muốn cho cõi Thiên Đàng mở cửa trong lòng tất cả mọi người và tìm cách mở cửa cõi Thiên Đàng ở chính bản thân y nhờ sống một cuộc đời luôn luôn giúp đỡ kẻ khác, một cuộc đời cảm hứng bởi những tư tưởng từ bi bác ái. Ở trường hợp sau đây, chẳng bao lâu, y sẽ nhận thấy rằng tất cả của cải và uy quyền của thế gian này sẽ được mang đến cho y, đây là sự ban thưởng thêm cho y, dù y không còn lưu tâm đến sự đó một cách đặc biệt cũng vậy. Như thế, người ta có thể chia sinh viên huyền bí học ra làm hai hạng, một hạng mong mỏi có những kiến thức và một hạng muốn thành những người hữu dụng; hai hạng này, càng ngày càng đi tới thì sự tiến bộ và sự phát triển của họ càng khác xa nhau. Cuốn sách này viết ra đây không phải để cho những người ham có những kiến thức đâu và nếu đọc giả, thuộc về hạng này thì tốt hơn hết hãy dẹp cuốn sách này lại một bên. Nhưng nếu họ muốn giúp đỡ đồng loại đang chiến đấu trong sự dốt nát và sự hỗn độn, nếu họ muốn phát triển những thần lực, và những khả năng của linh hồn để đạt được mục đích giúp đời ấy, thì cuốn sách này có giúp ích cho họ vậy.

          Cuốn sách này cũng như một bản toát yếu những qui luật mà ai muốn làm kẻ phụng sự nhân loại phải tuân theo; người ta ví nhân loại như trẻ mồ côi không người săn sóc, những người phụng sự này muốn phát triển linh hồn để có thể thành những dụng cụ hữu ích mà Đức Thượng Đế có thể sử dụng để giúp con người tiến hóa. Những qui luật này, nếu được tuân theo, sẽ dẫn thí sinh đến địa vị nhân viên Quần Tiên Hội và sẽ làm cho họ được liên lạc trực tiếp với những vị Phụng Sự, các Ngài đã từ nhiều thế kỷ hiến dâng cả thể xác lẫn tâm hồn để mưu hạnh phúc cho nhân loại. Những qui luật này được lập thành để dành cho những ai muốn gặp và muốn biết các Chơn Sư Minh Triết, các Ngài đang coi sóc và che chở nhân loại trên con đường tiến hóa. Có một nhóm gồm những người phụng sự hiến mình để phục vụ Đời Sống Cao Cả, khi Đời Sống này biểu lộ qua những con người của các quốc gia và các xứ sở.  Đời sống cao cả này chỉ là một mà thôi. Đó là cái ánh sáng mà mỗi người đều mang ở trong tâm mình. Những Đấng Cứu Thế là những nhân viên của Quần Tiên Hội, thỉnh thoảng xuất hiện trong đời sống công cộng của nhân loại để tiết lộ con đường chánh đạo và chỉ con đường mà những ai theo nó thì hết mê muội và hết điên cuồng. Con đường này có thể dẫn con người đến cái ánh sáng quang minh của trí giác, ánh sáng này giúp y thoát ra khỏi những hạn định của cái chất hữu hoại, chết chóc đặng về ở một cách có ý thức trong cõi trường sinh bất tử.

 

đầu  sách l cuối sách l mục lục l chú thích

QUI  LUẬT  I

 

 "Bước đầu tiên là sống để phụng sự và lo điều hữu ích cho nhân loại".

                                   H. P. Blavatsky ( Tiếng Nói Vô Thinh ).

 

          Bất cứ lúc nào, dù ở trường hợp nào, hay ở trạng thái tinh thần nào, người ta cũng có thể thực hiện cái bước đầu tiên này. Chỉ một điều kiện duy nhất là cần mà thôi: cái lý tưởng phụng sự nhân loại phải thật tha thiết trong lòng người nam hay nữ muốn hy sinh đời mình, người ấy phải có một ý muốn thành thật phục vụ đồng loại. Không cần người ấy tin tưởng nơi Thượng Đế, nơi các Chân Sư, nơi một Đấng Sáng Tạo Tối Cao hay nơi nhiều Đấng Cao Cả xây dựng thế gian. Y có thể là người duy vật, người vô thần, không tin có Thượng Đế, hay y là kẻ chủ trương rằng con người không sao biết được tuyệt đối. Y có thể vô tôn giáo hay không công nhận những lễ nghi xử thế của xã hội. Y có thể xem tất cả những tôn giáo như thuộc về tánh nhẹ dạ dễ tin và thuộc về sự mê tín dị đoan. Tuy nhiên, y muốn giúp nhân loại tiến hóa tới một hoàn cảnh sung sướng hơn, cao thượng hơn, thông minh hơn, độc lập hơn thì y có thể hiến mình để thực hiện cái lý tưởng về sự tiến hóa của nhân loại, và làm như vậy, y sẽ bước một bước đầu tiên dẫn dắt đến Minh Triết. Y phải sẵn sàng làm việc thiện cho nhân loại theo quan niệm y và hy sinh một phần tham vọng cùng thú vui riêng tư. Cái bước đầu tiên có sự đặc biệt là nó trường tồn, nghĩa là trong khi con người bước những bước kế tiếp thì sự kích thích đầu tiên vẫn còn đi theo mãi.

          Một sự hiến mình giản dị, thực hiện trong sự tịch mịch và sâu kín trong chính tâm y sẽ hữu ích cho kẻ chí nguyện, y cam kết trước cái phần cao cả nhất, cao thượng nhất của bản thể y là y sẽ hiến dâng đời mình để ủng hộ Bản thể đó khi nó hoạt động bên ngoài. Muốn như vậy y không cần tự coi mình như  là một trạng thái của Tâm Thức Vũ Trụ, của Thượng Đế, Đấng Ban Phát Sự Sống, Ngài thường ngự trị trong mọi tư tưởng, mọi hành động và mọi hình thức của Vũ Trụ. Cái sự hiểu biết ấy sẽ đến sau. Sự quan trọng của sự hiến dâng là nó in vào những sinh lực của con người một xu hướng mạnh mẽ trong sự kiên tâm trên con đường chân chánh. Cũng trong khi đó, cái mục đích lý tưởng của đời sống được vững chắc và rõ ràng hơn. Mỗi người có thể đọc lời hiến dâng sau đây, sửa đổi cho hợp với tính nết riêng của mình hoặc ưa chuộng mỹ thuật, hoặc sùng tín, hoặc điềm tĩnh, hoặc thực tế. Trong khi cam đoan thệ nguyện, người ta có thể đứng ngồi thế nào cũng được, có thể vừa ước nguyện vừa cười [4] và có thể vừa ước nguyện vừa thề thốt 4 để thắng lòng nhút nhát của mình, hay cũng có thể vừa ước nguyện vừa quì gối một cách kính cẩn bên cạnh giường mình. Đó là những chi tiết không quan hệ, không ảnh hưởng chút nào đến những kết quả, chỉ cần người chí nguyện thành thực ở điều y nói thôi.

 

HIẾN DÂNG

          "Hôm nay, ở đây, với tất cả những sở đoản và sở trường của tôi, với tất cả những tư tưởng, cảm xúc, tri giác, sở nguyện, ý chí, hành động của tôi, tôi xin hiến mình để phụng sự đồng loại. Cầu xin từ lúc này, cái lý tưởng ở trên chỉ đường cho tôi, dìu dắt tôi, huấn luyện và giáo dục tôi, cầu xin cho tất cả sức lực, tất cả những năng lực, năng khiếu tiềm tàng của tôi có thể phát triển để hướng cả về mục đích ấy. Tôi muốn tự hiến dâng trọn vẹn để phục vụ hạnh phúc cho nhân loại".

          Nếu bạn là một người tín đồ, bạn có thể hình dung lý tưởng bạn dưới hình thức Đức Thượng Đế ban phát Sự Sống, Đức Chúa Tuyệt Đối đáng kính mến, nhưng làm như vậy, bạn phải tránh đừng gán cho Ngài một hình hài bề ngoài. Bạn đừng biến Ngài "thành một nhân vật cụ thể". Chỉ ở trong tôn giáo công truyền họ làm như vậy, còn một sinh viên học hỏi những bí giáo huyền diệu thì không nên làm thế. Nếu bạn làm thế thì thật là lầm lỗi lớn lắm. Bạn hãy cố gắng xây dựng lý tưởng trong tâm bạn, còn tất cả những sự tượng hình người cho lý tưởng ấy, tất cả những sự biểu lộ ra ngoài của lý tưởng đó sẽ đem những hình dáng gạt gẫm thế cho Thực Tế. Đối với những đám đông còn dốt nát, thì thờ phượng những hình ảnh bề ngoài của Đời Sống Đại Đồng mới có đôi chút ích lợi, nhưng như bà H. P. Blavatsky đã nói (trang 300, cuốn I Giáo Lý Bí Truyền):

          "Nhà huyền bí học nào cũng là một người không thờ thần tượng, kể luôn cả những vị thần được nhân "cách hóa".

          "Giáo lý huyền bí" nhận có Thượng Đế, Đấng tạo lập thế gian, nhưng vị sáng tạo này không có tính cách cá nhân. Vì vậy kể cả những vị Thiên Đế (Thượng Đế sáng tạo), "kể cả những vị Sáng Tạo Cao Cả, không vị nào có thể là một đối tượng để được thờ cúng theo nghi lễ tôn giáo, được sùng bái như thần minh. Tất cả các Ngài đều có quyền đ