trang nhà l trang sách l bản tin l thiền học l tiểu sử l trang thơ l h́nh ảnh l bài vở

 

ĐẠO HỌC TÙNG THƠ
MINH TRIẾT THIÊNG LIÊNG GIẢN YẾU

 

NHÂN QUẢ
 
Tác giả BẠCH LIÊN

 1971 

 


 

MỤC LỤC

Vài lời nói đầu

CHƯƠNG THỨ NHỨT

Các tôn giáo đều có dạy về Nhân Quả.

Nho giáo - Ấn giáo – Cổ Ba Tư giáo – Phật giáo – Hy Bà Lai giáo – Thiên Chúa giáo – Hồi giáo.

CHƯƠNG THỨ NH̀

Vài thí dụ về Nhân Quả.

Nhân Quả là Luật Thiên nhiên.

Luật Nhân Quả cắt nghĩa theo khoa học. Sự biến đổi khí lực. Làm mất sự thăng bằng của Vũ trụ. Ba cách gây ra quả. Đừng phạm luật Trời.

CHƯƠNG THỨ BA

Ba thứ quả - quả muồi, quả tích trữ và quả đương tạo.

          A.- QUẢ MUỒI :

          Hai phần của Định Mạng

         1/- Quả muồi do các Đấng Nam Tào Bắc Đẩu chỉ định.

         2/- H́nh tư tưởng hay là Sứ giả của Tứ Đại Thiên Vương.

Cái Phách là thể tối quan trọng.

Sứ giả của Tứ Đại Thiên Vương lấy chất dĩ thái nào làm ra cái phách của hài nhi.

Cái chi có ảnh hưởng tới h́nh tư tưởng của Tứ Đại Thiên Vương.

Thai giáo là phương pháp cải thiện phần số của hài nhi.

          a/ Về phương diện vật chất

          Người Hung Za.

          b/ Về phương diện tinh thần

          Phong tục của Ấn Độ thuở xưa

Sửa đổi số mạng của những trẻ từ lúc mới lọt ḷng cho tới khi lớn khôn bằng cách giáo dục theo phương pháp đạo đức.

          B.- QUẢ TÍCH TRỬ

          C.- QUẢ ĐƯƠNG TẠO

Tư tưởng – Sự hại của tư tưởng xấu.

                  Sự lợi của tư tưởng tốt.

                  Cách xua đuổi một tư tưởng xấu.

Quả báo của ư muốn và t́nh cảm. Lời nói và việc làm.

CHƯƠNG THỨ TƯ

Quả báo trả từ cảnh. Biệt nghiệp và Cộng nghiệp.

Ai định cách trả quả - Các Đấng Chí Tôn Nam Tào Bắc Đẩu. Làm sao các Đấng Nam Tào Bắc Đẩu biết được những quả của mỗi người gây ra tốt hay xấu đặng trả quả.

          NHỮNG H̀NH TIÊN THIÊN KƯ ẢNH BẤT DIỆT.

I- Thuộc về quá khứ

          a/ Chuyện một kỹ sư người Anh ở Oxford tên Georges de la War 64 tuổi đă t́m ra phương pháp thâu được ảnh cuộc hôn lễ của ông trên 22 năm rồi.

                        (Tin của Tạp chí Paris Match số 97 ngày 27/1/51)

          b/ Đi khỏi 15 phút vẫn c̣n chụp được h́nh.

          c/ Thuật pháp của những Đạo sĩ Fa Kia (Fakir) bên Thiên trước.

II- Thuộc về vị lai

          a/ Một người có thần nhăn ngẫu nhiên thấy trước hai trận giặc Pháp Đức 1870 và 1914.

          b/ Một anh chàng thất vọng v́ muốn sửa đổi định mạng bất biến.

          c/ Biết được xe nào về trước nhứt trong một cuộc đua xe tự động.

CHƯƠNG THỨ NĂM

Tự do ư chí.

Đừng đổ thừa cho số mạng.

Phải trả quả từ khi lọt ḷng cho tới ngày bỏ xác ghi ở đâu ?

          Vài Thứ Quả:

Quả báo của hai vị làm việc phước thiện.

Quả báo của những đứa con bất hiếu.

Quả báo thuộc về thời quá khứ.

Quả báo của bịnh hoạn.

Quả báo của sự sát sinh. Về thú vật – Về con người.

                                      Hai trường hợp đặc biệt :

    a/ Vô t́nh gây ra án mạng.

    b/ Đối đăi tàn nhẫn với cháu.

Quả báo về duyên nợ vợ chồng.

Quả báo của những tật nguyền.

Quả báo của sự chết.

Quả báo của những người đă bỏ xác phàm.

Quả báo của thú vật.

CHƯƠNG THỨ SÁU

Cách trừ quả báo.

Phương pháp của mấy vị đệ tử.

Phương pháp của những người thường.

Xây dựng tương lai.

Tiên Thánh không bỏ qua một người nào.

CHƯƠNG THỨ BẢY

Những chuyện quả báo.

          a/ Luộc gà hóa ra luộc con.

          b/ Xanh xanh kia vẫn c̣n trời.

              Chuyện một đồng bạc với một người lính.

          c/ Có thật có chuyện đầu thai báo oán.

 HẾT

 


                                     

 VÀI LỜI NÓI ĐẦU

 

Có hai luật căn bản mà con người, nhứt là những ai muốn tầm Đạo nên hiểu biết rành rẽ rồi đem áp dụng vào đời sống hằng ngày mới tiến mau. Ấy là Luật “Động” và “Phản Động” và Luật “Hy sinh”.

Ở đây ta chỉ nói Luật “Động” và “Phản Động” mà thôi.

Luật “Động” và “Phản Động” tiếng Phạn là Karma (Cạt ma). Chúng ta gọi là Nhân Quả. Nói cho đúng Karma có nghĩa là Động. Tuy nhiên mỗi khi Động th́ luôn luôn có Phản Động kèm theo. Động và Phản Động vẫn chống đối nhau và cân phân với nhau, chúng không bao giờ rời nhau.

V́ thế sự phản động nặng hay nhẹ, mau hay chậm tùy theo bản tánh của sự Động. Thật ra các sự vật đều liên kết với nhau, vật nầy dính líu với vật kia và sự tương quan nầy giúp chúng tiến hóa.

Đây cũng gọi là Luật Tiến Hóa các thể xác dầu chúng nó làm bằng chất cứng rắn hay là chất tinh vi cũng vậy.

CHÚNG TA PHẢI GHI NHỚ MĂI ĐIỀU NẦY :

MỌI SỰ BIẾN ĐỔI TRONG TÂM THỨC NHƯ TƯ TƯỞNG, Ư MUỐN ĐỀU GÂY RA NHỮNG SỰ RUNG ĐỘNG TRONG CÁC THỂ XÁC. TRÁI LẠI NHỮNG SỰ RUNG ĐỘNG TRONG CÁC THỂ XÁC DO ẢNH HƯỞNG NGOẠI GIỚI ĐƯA VÀO ĐỀU BIẾN ĐỔI TRẠNG THÁI CỦA TÂM THỨC.

ĐIỀU NẦY CÓ NGHĨA LÀ TINH THẦN ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẬT CHẤT MÀ VẬT CHẤT CŨNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN TINH THẦN, CẢ HAI ĐỀU KHÔNG NGỚT ẢNH HƯỞNG LẪN NHAU.

 Chúng ta cũng nên hiểu rằng : Luật Trời th́ bất biến, không ai sửa đổi nó được. Nó không có sự ban thưởng hay hành phạt, mà chỉ có những hậu quả không thể tránh khỏi được mà thôi.

Tỷ như : Sự vui vẻ và hạnh phúc là hậu quả của sự tuân theo Luật Trời, c̣n sự đau buồn và tai họa là hậu quả của sự bất tuân Thiên ư.

Cũng đừng lầm tưởng rằng : Luật Nhân Quả là Luật Báo Thù Trả Oán. Nó chỉ là Luật Điều Chỉnh những hành động của con người cho đúng với Cơ Trời mà thôi.

Chẳng những con người và các loài vật mà cho đến Vũ trụ bao la bát ngát; vô tận vô biên, nói một cách khác, tất cả những Thái Dương Hệ trên không gian đều phải phục tùng LUẬT NHÂN QUẢ.

Đối với con người Luật Nhân Quả hay là cảm ứng đến dạy khôn cho con người phải tuân theo Thiên ư mới mau trở nên trọn sáng trọn lành tức là mới đi mau đến mục đích đă định sẵn cho Nhân loại trong Thái Dương Hệ nầy.

Hiểu được Luật Nhân Quả tức là cầm vận mạng ḿnh trong tay, c̣n việc đi mau hay đi chậm là tùy nơi ḿnh cố gắng hay không cố gắng đặng tự chủ hay là sửa đổi tư tưởng, ư muốn và việc làm luôn luôn cho được tốt đẹp không bao giờ chứa đựng một mảy ích kỷ hại nhơn.

Cầu xin quyển nhỏ nầy giúp ích quí bạn được phần nào trên con đường Tầm Chơn Lư và hiểu được SAO là HỌA, SAO là PHƯỚC và nguồn gốc của sự Tu Hành.

BẠCH LIÊN

 

Nhân nào sanh quả nấy,

Khá lựa giống gieo trồng,

Cơ tạo xây vần măi,

Đúng kỳ cây trổ bông.

 



CHƯƠNG THỨ NHỨT
                      

             CÁC TÔN GIÁO ĐỀU CÓ DẠY NHÂN QUẢ.

Luật Nhân Quả là Luật Đại Đồng, nó chi phối sự tiến hóa của muôn loài vạn vật, chi nên các tôn giáo đều có nói đến nó, dưới h́nh thức nầy hay dưới h́nh thức khác mà ta phải hiểu ngầm vậy.

Tỷ như trong

 I

NHO GIÁO

1.- Tử viết : Vi thiện giả thiên báo chi dĩ phước vi bất thiện giả thiên báo chi dĩ họa.

Đức Khổng Tử nói rằng : Người làm sự lành, Trời lấy phước trả cho nó, người làm sự chẳng lành, Trời lấy họa trả cho nó.

2.- Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, nhược hoàn bất báo th́ thần vị đáo.

Làm lành th́ có trả lành, làm dữ th́ có dữ trả. Nhược bằng chưa trả là tại chưa đúng ngày giờ.

II

THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN

Thái thượng cảm ứng thiên viết : họa phước vô môn duy nhơn tự triệu, thiện ác chi báo như ảnh tùy h́nh.

Thiên Thái Thượng Cảm Ứng dạy rằng : Họa phước không có cửa chỉ tại người ta vời nó tới. Lành dữ đều có trả như bóng theo h́nh.

III

ẤN GIÁO

1.- Do Karma của nó mà con người có thể thành thiên đế.

Anh Tra (Indra); do sự hành động của nó mà con người có thể thành ra con của Phạn vương, do sự hành động của nó mà con người có thể thành ra người phụng sự Đấng Hari và thoát đọa luân hồi. Do sự hành động của nó mà con người chắc chắn được trọn lành và trường sanh bất tử.

Devi Bhagavata IX, XXVII, 18 – 20 

2.- Không có cái chi mọc lên mà chẳng có hột giống, không có người nào hưởng đặng hạnh phúc nếu không làm những điều dắt đến hạnh phúc.

Mahâbhârata, Shanti Parva – C C I, 23 

 IV

CỔ BA TƯ GIÁO (ZOROASTRISME)

1.- Chiếu theo luật đời xưa, Ratou sẽ xử đoán một cách công b́nh cho các vị thánh cũng như cho các người hung ác và những người mà việc lành và việc dữ cân phân với nhau.

Ahounavad Gatha XXXIII – 1

2.- Những người hung dữ chịu đau khổ lâu dài, những người công b́nh sẽ được ban hưởng trọng hậu và hưởng hạnh phúc.

Jasna, XXX – 11 

V

PHẬT GIÁO

1.- Trong mọi việc, tư tưởng là cội rễ, tư tưởng đứng đầu, cả thảy đều do tư tưởng mà ra. Người nào nói hay làm mà trong trí tưởng quấy th́ sự khổ năo sẽ đeo đuổi theo một bên nó cũng như cái bánh xe lăn theo chơn con ḅ kéo xe. 

2.- Trong mọi việc tư tưởng là cội rễ, tư tưởng đứng đầu, cả thảy đều do tư tưởng mà ra. Người nào nói hay làm mà cái trí vẫn thanh bạch th́ hạnh phúc không rời nó cũng như cái bóng không ĺa ḿnh.

Pháp cú – Những câu kinh đôi

 VI

HY BÀ LAI GIÁO (RELIGION DES HÉBREUX)

1.- Những người cày và gieo sự bất công th́ sẽ gặt hái những quả của những việc làm của họ.

                                                            Job – IX – 8

2.- Kẻ nào thương xót người nghèo khổ tức là cho Trời vay mượn, Trời sẽ trả lại cho nó cái ǵ mà nó đă cho Trời vay.

                                                  Proverbes (Cách ngôn) - XIX - 17 

VII

THIÊN CHÚA GIÁO

1.- Anh đừng xét đoán ai cả đặng sau khỏi bị người ta xét đoán, bởi v́ người ta xét đoán anh như anh đă xét đoán kẻ khác và người ta sẽ đo lường anh với vật mà anh đă dùng để đo lường người ta.

Saint Mathieu – VII, 1 – 2 

2.- Ông thánh Phao Lồ (Saint Paul) có nói : anh đừng lầm về điều đó. Người ta không có nhạo báng trời đâu. Người ta gieo giống chi th́ gặt giống nấy.

Kẻ nào gieo cho xác thân th́ sẽ gặt hái sự trụy lạc, hôi hám của xác thịt. Kẻ nào gieo cho tinh thần th́ sẽ gặt sự trường sanh bất tử của tinh thần. Đừng mỏi ḷng làm việc thiện. Đúng ngày giờ chúng ta sẽ gặt hái, nếu chúng ta không thối chí.

Galates – VI 4.5.7.9.

VII

HỒI GIÁO

1.- Mọi người đều được bạn thưởng cân xứng với những sự hành động của ḿnh, bởi v́ trời không có làm ngơ trước những việc làm của chúng ta đâu.

Coran VI – 132

2.- Những sự đau khổ tới cho anh vốn do trời giáng xuống, chúng là kết quả những sự hành động của anh.

Coran XLII, 29

Bao nhiêu đây, thiết tưởng quí bạn cũng đủ thấy từ cổ cập kim, từ đông sang tây, chơn lư vẫn một.

Bây giờ tôi xin đưa ra vài thí dụ về Nhân Quả mà ai ai cũng có thể thấy trước mặt rồi sẽ bàn rộng ra.
 

CHƯƠNG THỨ NH̀
                                              

 VÀI THÍ DỤ VỀ NHÂN QUẢ

 

Quí bạn thường nghe nói về Nhân Quả; song phần đông cho là chuyện viễn vông, xa vời không biết đâu mà tin, v́ không thấy trước mặt như hai với hai là bốn.

Nhưng quí bạn hăy chịu khó suy nghĩ một chút th́ thấy Nhân Quả là chuyện xảy ra hằng ngày, trong ḿnh ta, trong nhà, ngoài đường và chỗ nào cũng có. Tôi xin kể vài thí dụ cho quí bạn nghe :

Một người kia trợt té, trầy đầu gối. Trợt té là nhân, trầy đầu gối là quả. Cầm một tách nước đổ trên bàn, cái bàn ướt. Đổ nước trên bàn là nhân, cái bàn ướt là quả. Siêng năng, cố gắng và biếng nhác là nhân, học giỏi, học dở là quả.

Cần kiệm th́ dư giả, xài phá th́ thiếu hụt. Cần kiệm và xài phá là nhân, dư giả, thiếu hụt là quả. Chưởi người, đánh người th́ bị người chưởi lại, đánh lại. Chưởi người, đánh người là nhân, bị người chưởi lại, đánh lại là quả. Đồ ăn sanh ra máu huyết, xương thịt. Đồ ăn là nhân, máu huyết, xương thịt là quả. Trồng hường th́ hường mọc lên, trồng đậu th́ đậu mọc lên. Không khi nào gieo lúa mà mọc ớt bao giờ.

Luôn luôn có Nhân th́ có Quả, nhưng có khi Quả tới mau hay chậm là tùy theo tánh cách và trường hợp của Nhân.

Cấy lúa th́ tùy theo giống, ba tháng hay sáu tháng gặt được, c̣n trồng xoài, sáu bảy năm mới có trái, v.v…

Trong trời đất toàn là những cuộc tuần huờn do một dọc nhân và quả nối tiếp nhau, nhân nầy sanh ra quả kia, quả kia lại thành ra nhân nọ.

Trở lại thí dụ ta té trầy đầu gối; ta trầy đầu gối th́ thân thể đau nhức. Trầy đầu gối khi trước là cái quả của cái té, mà bây giờ nó thành ra cái nhân, làm cho thân thể đau nhức th́ ta ngủ không được. Cái quả thân thể đau nhức trở lại thành ra cái nhân làm cho ta mất ngủ.

Luật Nhân Quả mới nghe qua th́ dễ hiểu, song thật sự nó cực kỳ khó khăn và vô cùng phức tạp, v́ có những nguyên nhân do tư tưởng và ư muốn sanh ra cả chục kiếp trước nghĩa là sáu bảy ngàn năm rồi, chúng ta không tri ta được và dính liền với cả chục, cả trăm và cả muôn người khác nữa. Phải tu hành tới bực Chơn sư sắp lên mới rơ các chi tiết.

Luật Nhân Quả, luật Luân Hồi và luật Hy Sanh là ba luật rất quan trọng mà người học đạo phải biết một cách rành rẽ th́ mới tiến mau. Ba luật nầy đều có liên quan mật thiết với nhau. Gây ra nhân lành hay dữ đều phải đầu thai đặng hưởng quả tốt hay quả xấu của ḿnh đă tạo ra. Tới chừng nào người ta thật quên ḿnh và hy sanh v́ thương đời, không c̣n háo danh hay tư lợi nữa th́ mới chặt được dây xiềng xích trói ḿnh vào bánh xe luân hồi.

Thế nên biết được luật Nhân Quả dầu một cách tổng quát cũng nắm được số mạng ḿnh trong tay, miễn là có chí khí và nhẫn nại sửa cách ăn thói ở của ḿnh cho hạp với luật trời, in theo những lời các vị giáo chủ dạy dỗ.

Sự khảo cứu về Nhân Quả chia ra làm sáu phần :

1)    Nhân quả là luật Thiên nhiên

2)    Cách gây ra Nhân quả

3)    Các thứ Nhân quả

4)    Ai định cách trả quả

5)    Cách diệt Nhân quả

6)    Những chuyện Nhân quả

1)- NHÂN QUẢ LÀ LUẬT THIÊN NHIÊN

Ta có thể nói rằng Nhân - Quả là luật Thiên nhiên, ở đâu cũng có nó, nó thâm nhập khắp nơi, không có loài nào tránh khỏi ảnh hưởng của nó.

Ta hăy xem một hiện tượng xảy ra. Hiện tượng nầy vừa là Quả, vừa là Nhân một lượt. Quả của một quá khứ và Nhân của một tương lai. Quả của quá khứ bởi v́ có một nguyên nhân sanh nó ra, c̣n Nhân của tương lai bởi v́ nó sanh ra một hiện tượng mới khác nữa.

Trong đời sự nối tiếp và sự liên lạc việc nầy với việc kia, người ta gọi là Luật Nhân Quả. Người ta gọi Luật căn bản, nhờ nó mới có trật tự, sự thăng bằng và tiến hóa của Nhân loại.

Trong trời đất, tất cả những hiện tượng xảy ra đều là những cuộc tuần huờn do một một dọc Nhân và Quả nối tiếp nhau, Nhân nầy sanh ra Quả kia, rồi Quả kia lại trở thành Nhân nọ. Nhân – Quả cứ tiếp tục từ Vũ trụ nầy qua Vũ trụ kia, từ Thái dương hệ nầy sang Thái dương hệ nọ; chớ không phải riêng ǵ Dăy Hành tinh, hay là kiếp sống của loài người và các loài khác mà thôi.

Các điều mà chúng ta gọi là Nhân – Quả hay là “Nghiệp” tiếng Phạn gọi là Cát ma (Karma). Karma có nghĩa là Hành động. Nhưng mà sự Hành động luôn luôn bao hàm sự Phản động. V́ vậy Karma có nghĩa là Động và Phản động một lượt. Sự Động và Phản động luôn luôn cân xứng với nhau và chống chỏi với nhau măi.

Thí dụ : Ta lấy tay đập vào cái bàn th́ tay ta bị dội lại. Sự dội lại là sự Phản động của cái bàn. Cầm trái banh liệng vào vách tường, nếu ta liệng nhẹ th́ nó dội lại nhẹ, ta liệng mạnh th́ nó dội lại mạnh.

Thế nào gọi là Luật Thiên nhiên ?

Bây giờ ta nên hỏi : Luật Thiên nhiên là luật ǵ ? Luật Thiên nhiên là một dọc Nhân Quả nối tiếp nhau theo thứ tự nhứt định và không đổi dời.

Thí dụ: Có A với B th́ luôn có C theo một bên. Luật nầy không phải là một mạng lịnh, nó không bảo các ngài làm cái nầy, chớ không nên làm cái kia, hay là các ngài phải có A và B th́ mới có C, mà nó lại nói : Nếu các ngài muốn có C th́ phải hiệp A và B lại, hoặc nếu các ngài không muốn có C th́ phải rán làm cho A dang xa B, hoặc nếu các ngài đem A cách xa B th́ các ngài không có C.

V́ vậy ta có thể nói chắc chắn rằng Luật Thiên nhiên không phải là một luật bó buộc mà nó là một luật để giúp ta hành động cho đúng với Cơ Trời, nó dạy ta biết những điều kiện nào mà ta phải giữ nếu ta không muốn tạo thành hay là tránh xa một hiệu quả nhứt định.

Những Luật Thiên nhiên vốn bất di bất dịch và bất vi phản (inviolable). Nếu chúng nó đổi dời măi th́ không khoa học nào tồn tại được.

Không phải bữa nay khinh khí với dưỡng khí hiệp lại thành nước, rồi ngày mai hai thứ đó lại thành lửa; không phải bữa nay lửa nóng dữ dội rồi ngày mai nó lại lạnh như đồng, nếu bữa nay nước lỏng le rồi ngày mai nó đặc cứng thành nước đá là tại điều kiện của hoàn cảnh thay đổi. Bởi vậy tục ngữ Pháp có câu : “Biết th́ làm được” (Savoir, c’est pouvoir)

V́ chưng dây Nhân Quả nối chằng chịt với nhau không thể tránh được cho nên người dốt nát phải bó tay chịu bất lực trước những Luật Thiên nhiên. C̣n nhờ sự học hỏi rộng sâu ta thấu hiểu luật Trời th́ ta dễ kiểm soát những động lực của ta sanh ra hầu tránh những kết quả không hay về sau nầy.

Luật Nhân Quả cắt nghĩa theo Khoa học

Vũ trụ là sự biểu hiện của khí lực. Khí lực có thể biến đổi ra điện, từ điện, nhiệt lực, ánh sáng v.v…

Mặt trời là một bầu khí lực lớn, c̣n điện tử là một bầu khí lực nhỏ. Kim thạch, thảo mộc, cầm thú hay là con người đều là những bầu khí lực, đây không phải là lời nói ngoa đâu, bởi v́ xác thân của con người, thú vật, cây cỏ và kim thạch đều làm bằng những tế bào, mà mỗi tế bào đều do nhiều nguyên tử cấu thành.

Đem phân tích mỗi nguyên tử th́ thấy :

a) Chính giữa là một hột gọi là nhân (noyau) chứa nhiều hột điện dương (dương điện tử - protons) và một số hột không chứa điện nào cả, gọi là trung ḥa tử (neutrons);

b) Chung quanh nhân th́ có những hột điện âm (âm điện tử - (électrons) xây tṛn không khác nào những hành tinh xây quanh mặt trời. Chính giữa âm điện tử và nhân là khoảng trống không tuyệt đối. Ngày nay khoa học cho rằng vật chất tương đương với khí lực (matière – énergie) bởi v́ khi khí lực hiện ra th́ có một khối vật chất tiêu tan.

Sự biến đổi khí lực

Trong lúc ta ăn uống, dùng thuốc men th́ ta thâu khí lực vô ḿnh bởi v́ đồ ăn hay thuốc men khi tiêu hóa th́ biến thành máu huyết, xương thịt, hay là thêm sức mạnh cho ta.

Nếu ta dùng khí lực hay là sức mạnh nầy đặng làm những việc lành, việc phải, hữu ích cho đời th́ ta gọi khí lực nầy tốt. Trái lại nếu ta dùng nó để làm việc dữ gây ra những sự khổ năo cho đời th́ người ta gọi khí lực nầy xấu. Thật sự khí lực nầy không tốt mà cũng không xấu, chỉ tại cách ta sử dụng nó thôi, cũng như điện, để đốt đèn, để nấu ăn, để chạy máy đều được mà dùng để giết người cũng được nữa.

Làm mất sự thăng bằng của Vũ trụ

Trọn đời, con người là một cái máy biến điện, nó thâu khí lực vô ḿnh rồi biến đổi ra việc lành hay việc dữ.

Nhưng ta nên biết chung quanh cơi Hữu h́nh mà ta gọi là cơi Trần đây c̣n 6 thế giới khác nữa mà con mắt ta không thấy được, bởi v́ nó làm bằng những chất khí, càng lên cao th́ càng mảnh mai và càng tốt đẹp hơn chất khí làm ra cơi Trần nhiều lắm.

Bởi không thấy được nên tạm gọi chúng nó là cơi Vô h́nh.

Những thế giới Vô h́nh nầy bắt dưới kể lên th́ là như vầy :

1/ Cơi thứ sáu là thế giới T́nh cảm hay cơi Dục giới cũng gọi là Trung giới (Plan astral).

2/ Cơi thứ năm là thế giới Tư tưởng hay là cơi Thượng giới, cơi Thiên đường hay là cơi Trí tuệ (Plan mental).

3/ Cơi thứ tư là thế giới Trực giác hay là cơi Bồ đề (Plan Bouddhique)

4/ Cơi thứ ba là thế giới Thiêng liêng  hay là cơi Niết Bàn (Plan Nirvanique ou Nirvana).

5/ Cơi thứ nh́ là thế giới Đại Thiêng liêng hay là cơi Đại Niết Bàn (Plan Paranirvanique ou Paranirvana).

6/ Cơi thứ nhứt là thế giới Tối Đại Thiêng liêng hay là cơi Tối Đại Niết Bàn (Plan Mahaparanirvanique ou Mahaparanirvana).

Sáu thế giới nầy cọng với cơi Trần là 7 cơi. 7 thế giới nầy thâm nhập với nhau và liên quan mật thiết với  nhau.

Bây giờ đây thí dụ ta đấm trên không một cái. Quả đấm của ta không đụng tới ai cả, nhưng khi ta giơ tay đấm th́ ta phóng ra một lực lượng đụng tới những lực lượng khác trong vũ trụ làm cho mất sự thăng bằng của chúng nó.

Ta nên biết rằng trong trời đất vạn vật đều tuân theo luật thăng bằng và luật điều ḥa. Nếu có cái chi làm chinh sự thăng bằng và sự điều ḥa th́ sự vật phản động đặng lập lại sự quân b́nh như trước. Ấy là thuyết “thế lực quân hoành” (Equilibre des forces) của khoa học và nhờ vậy mà toàn thể khí lực không bao giờ mất.

Trở lại câu chuyện quả đấm của ta khi nảy, khi ta làm mất sự thăng bằng của các lực lượng khác th́ lẽ dĩ nhiên chúng phản động lại xuyên qua ta đặng lập lại sự quân b́nh như khi trước. Nghĩa là, ta phải lănh lấy hậu quả của những việc mà ta đă làm.

2)- BA CÁCH GÂY RA NHÂN QUẢ

Có ba cách gây ra Nhân Quả :

Một là : Tư tưởng;

Hai là : Ư muốn và t́nh cảm;

Ba là : Lời nói và việc làm.

Bởi v́ khi ta,

Tưởng đến một điều ǵ,

Muốn một điều ǵ,

Nói hay làm một điều ǵ.

th́ ta sanh ra một lực lượng động đến :

1)- Những lực ở thế giới Tư tưởng (Cơi Thượng giới);

2)- Những lực ở trong thế giới T́nh cảm (Cơi Trung giới hay là Dục giới);

3)- Những lực ở trong thế giới Hữu h́nh hay là cơi Trần nầy.

Hiểu như vậy có thể nói : Mỗi lần ta tư tưởng, ta ham muốn hay là ta nói năng hành động, ta sửa đổi vị trí của ta đối với Vũ trụ và vị trí của Vũ trụ đối với ta.

Hễ ta cắt nghĩa về Nhân Quả th́ ta phải nói tới những lực và những hiệu quả của chúng. Những lực nầy thuộc về cơi Trần, hữu h́nh nầy, hoặc thuộc về thế giới T́nh cảm hoặc thuộc về thế giới Tư tưởng.

Cả ngày lẫn đêm, mỗi giờ, mỗi phút ta đều diễn động ba thứ lực nầy và tùy cách ta xử dụng chúng, ta giúp đỡ hay là ta cản trở đường tiến hóa của những kẻ khác bởi v́ không phải ta ở riêng biệt một ḿnh giữa cơi Trần mà ta vẫn sống chung với Nhân loại, một khối duy nhứt, hiện giờ gồm bốn ngàn triệu linh hồn như  ta. Mỗi tư tưởng, mỗi ư muốn, mỗi t́nh cảm, mỗi lời nói và mỗi việc làm của ta đều cảm tới những người đồng loại, luôn cả các loài thú vật, cây cỏ, kim thạch và tinh chất ở chung quanh ta. Ai ở gần ta chừng nào th́ chịu ảnh hưởng nhiều chừng nấy.

Rồi một thời gian sau, tùy theo bản tánh của chúng, ta phải lănh lấy cái Phản động lực, tốt hay xấu, lành hay dữ, không trốn tránh đường nào cho khỏi được.

Tới đây quí bạn đă thấy : Luật Nhân Quả là luật bảo tồn toàn thể khí lực của Vũ trụ không cho tiêu tan chớ nào phải chuyện dị đoan phi lư …

Nhờ nó dạy ta phải hành động cách nào cho hợp với cơ Trời, ta tiến tới mau và không gây quả xấu về sau cho người và cho ta một lượt.

Đừng phạm luật Trời

Xin nhớ : hễ luật Trời th́ đừng vi phạm, vi phạm th́ sẽ bị trả quả bởi v́ trong Vũ trụ các luật đều quân b́nh. Nếu luật nào bị mất quân b́nh th́ luật đó sẽ phản động trở lại quân b́nh như xưa. Chúng ta không thể thủ tiêu một luật thiên nhiên nào cả và cũng không thể ngăn cản nó không cho nó hành động được; nhưng chúng ta có thể đem một luật khác chống với nó. Nếu hai sức mạnh bằng nhau th́ luật trước không c̣n hiệu lực nữa; ta đổi chiều hướng của sự hành động của nó rồi. Ví bằng luật ta dùng yếu hơn luật trước th́ luật trước sẽ có ảnh hưởng đến ta, nhưng sức mạnh của nó đă giảm tùy theo sức đối chọi của luật ta xử dụng.

Thí dụ : ta thảy trái banh vô vách, trái banh sẽ đụng vách, nếu không có cái cho ngăn cản nó. Bây giờ có một người khác đưa ra một tấm ván chính giữa nó và vách, khi nó đụng tấm ván th́ nó dội ngược, nó không đi tới vách được mà đi qua ngă khác. Xin lấy luật hấp dẫn hay hấp lực (loi d’attraction) mà giải thêm nữa, theo luật nầy vạn vật đều bị rút xuống trung tâm trái đất.

Ta hăy bắt một cái thang rồi trèo lên. Lúc trèo, ta bị hấp lực đè xuống nhưng ta dùng một luật khác chỏi với nó, luật đó là sức mạnh của bắp thịt ta. Sức của ta dùng thắng hấp lực, nên ta mới leo lên được, tới chừng nào ta mỏi mệt, hấp lực thắng, ta phải ngừng lại.

Chung quanh ta là những luật Trời, ta phải học rành rẽ đặng áp dụng vào đời sống hằng ngày của ta, nhờ vậy ta mới tiến mau. Muốn áp dụng luật nào ta phải học rành rẽ luật đó và phải tuân theo nó trước, nhiên hậu mới điều khiển nó được. Nói một cách khác, muốn chinh phục tạo vật trước hết ta phải tùng phục nó. (La nature est conqise par l’obéissance).


CHƯƠNG THỨ BA


BA THỨ QUẢ

QUẢ MUỒI - QUẢ TÍCH TRỮ - QUẢ ĐƯƠNG TẠO

Có ba thứ quả :

1/ Quả Muồi. Tiếng Phạn là Prarabdha, dịch ra tiếng Pháp là Karma mûr;

2/ Quả Tích trữ hay là Quả Chồng chất. Tiếng Phạn là Sanchita, dịch ra tiếng Pháp là Karma accumulé;

3/ Quả Đương tạo. Tiếng Phạn là Kriyamana, dịch ra tiếng Pháp là Karma en formation.

 

 A .  QUẢ MUỒI HAY LÀ ĐỊNH MẠNG.

 

Quả muồi là quả mà ta phải trả trong kiếp nầy, không thể dời lại kiếp sau, cũng như trái chín muồi th́ rụng xuống, không c̣n dính ở trên cây được nữa.

 

Hai phần của định mạng.

 

Định mạng của đời người chia làm hai phần :

1.- Phần thứ nhứt, từ lúc c̣n ở trong bào thai cho tới khi lọt ḷng mẹ.

2.- Phần thứ nh́, từ ngày lọt ḷng mẹ cho tới khi bỏ xác.

 

PHẦN THỨ NHỨT.

 

Đầu thai vào giống dân nào, nước nào, gia tộc nào, ở đâu, nam hay nữ, vóc giạc và diện mạo ra sao ? thông minh hay đần độn, có khiếu về một hay nhiều môn, bị tật nguyền hay mắc một chứng bịnh di truyền của cha mẹ, hoặc thừa hưởng một tánh tốt của ông bà đă mở mang mà chưa có dịp đem ra áp dụng v.v… là những điều mà con người phải bó tay trước định mạng. Tuy nhiên, nếu biết định luật th́ có thể sửa đổi được phần nào về diện mạo, sức khỏe và thêm một ít thông minh cho đứa nhỏ.

 

PHẦN THỨ NH̀.

 

Được cha mẹ thương yêu hay ghét bỏ, sung sướng hay vất vả, học hỏi mau thông hay chậm hiểu, lớn lên thường thành công hay thất bại, những bước thăng trầm trên hoạn lộ, những biến cố xảy đến th́nh ĺnh, được những sự may mắn hay rủi ro, là số tiền định đă ghi sẵn.

Mặc dầu như vậy, có thể sửa đổi cái xấu ra cái tốt,  nếu quả chưa đến.

 

NHỮNG ĐIỀU TA NÊN BIẾT VỀ SỰ TẠO RA H̀NH HÀI CỦA THAI NHI

 

Có ba công việc huyền bí liên quan đến sự tạo ra h́nh hài của thai nhi, tưởng người học đạo cũng nên biết, ấy là :

1.- Thứ nhứt : Quả muồi do các Đức Nam Tào Bắc Đẩu chỉ định.

2.- Thứ nh́ : H́nh Tư tưởng hay là Sứ giả của Tứ Đại Thiên Vương.

3.- Thứ ba : Công việc của Sứ giả và các Tiểu thần.

 

I

 

QUẢ MUỒI DO CÁC ĐỨC NAM TÀO BẮC ĐẨU CHỈ ĐỊNH.

 

 Khi một Linh hồn sắp trở lại cơi trần đầu thai một lần nữa th́ các Đấng Chí Tôn Nam Tào Bắc Đẩu xem xét : số quả của y đă gây ra trong kiếp mới rồi với những ai, số quả tích trữ của y và mức độ tiến hóa của y. Các Ngài mới lựa trong những quả đó một số quả, tốt có, xấu có, mà các Ngài xét rằng : với sức chịu đựng của y, y có thể thanh toán trong kiếp đó, và làm sao trong lúc y trả quả, y lại tiến lên một bực nữa.

Số quả nầy, ta gọi là ĐỊNH MẠNG. Xong rồi các Ngài mới làm ra một cái khuôn ghi một số quả của phần thứ nhứt.

 

II

 

H̀NH TƯ TƯỞNG HAY LÀ SỨ GIẢ CỦA TỨ ĐẠI THIÊN VƯƠNG

 

Các Đức Nam Tào Bắc Đẩu giao khuôn nầy cho 4 vị Đại Thiên Thần cai quản 4 chất hay là 4 hành : Địa, Thủy, Hỏa, Phong, và làm chủ 4 phương : Đông, Tây, Nam, Bắc; người ta gọi là Tứ Đại Thiên Vương, (4 Maharajahs hoặc Chatour dévas), sự thật là có 7 vị.

Tứ Đại Thiên Vương mới sanh ra một h́nh tư tưởng, một thực thể linh động, tuân theo triệt để mạng lịnh của các Ngài.

Vị Sứ giả nầy lănh trách nhiệm làm cái Phách của đứa nhỏ y theo cái khuôn của các Đức Nam Tào Bắc Đẩu đưa ra.

Công việc nầy xong xuôi rồi, các Tiểu thần mới coi theo cái Phách mà làm ra Xác thân của hài nhi, nhứt là cái óc và những dây thần kinh cho đúng với căn quả của nó.

Vẫn biết tinh trùng phối hợp với tiểu noăn mới đậu thai, song nếu không có bàn tay vô h́nh trợ giúp th́ không khi nào thành ra một đứa bé, trai hay gái, có đủ mặt mũi, tay chơn, tóc tai, xương, thịt đâu. Họa chăng nói rằng : tại tinh trùng đực phối hợp với tiểu noăn đực mới sanh ra con trai, c̣n tinh trùng cái phối hợp với tiểu noăn cái th́ sanh ra con gái ? Nhưng thử hỏi : tại sao con gái lại khác hẳn con trai về vóc giạc, yểu điệu, mày liểu, má đào, môi son, răng trắng, giọng nói thanh tao, mái tóc đen huyền ! Hoàn toàn bí mật.

Đứng riêng một ḿnh mà nói th́ vật chất không có quyền năng sanh hóa. Nó chỉ là dụng cụ của tinh thần mà thôi.

Phải mở thần nhăn, ngày đêm theo dơi công việc của Sứ giả và các Tiểu thần mới biết sự thật là thế nào. Người mới có thần nhăn, chưa kinh nghiệm, thấy Sứ giả như con búp bê ở trong ḷng người mẹ, th́ ngỡ là Linh hồn của đứa nhỏ.

Thường thường Sứ giả ở với đứa nhỏ 7 năm, nhiệm vụ của nó xong rồi th́ nó hết sanh lực, nó tan mất. Chừng đó Linh hồn mới bắt đầu điều khiển xác thân và ở luôn trong ḿnh đứa nhỏ, chớ trước đó, nó cứ nhập vô rồi xuất ra.

 

CÁI PHÁCH LÀ THỂ TỐI QUAN TRỌNG.

 

Cái Phách là thể tối quan trọng, bởi v́ cái óc, các dây thần kinh và tất cả những cơ quan trong ḿnh đều tùy thuộc cái Phách. Nếu cái Phách mảnh mai th́ cái óc và các dây thần kinh đều mảnh mai, nếu cái Phách thô kệch th́ thần kinh hệ và mấy bộ phận kia cũng thô kệch vậy.

Những sự thâu nhận của ngũ quan đều phải qua cái Phách, rồi cái Vía, mới tới cái Trí, và sự nhận thức của cái Trí cũng phải qua cái Vía, cái Phách rồi mới tới cái óc xác thịt.

Người nào có cái Phách mảnh mai th́ học hỏi mau thông, và sẽ tŕnh bày sự hiểu biết của ḿnh một cách dễ dàng và rành rẽ, cũng như ánh sáng mặt trời dọi qua một tấm kiếng trong trẻo vậy. Trái lại, nếu cái Phách to sớ th́ con người học hỏi chậm chạp, tục gọi là tối dạ, một bài học năm sáu bận mà chưa thuộc và một kinh nghiệm phải tái diễn nhiều lần mới lănh hội được. Nói một cách khoa học, cái Phách mảnh mai mới ứng đáp được với những sự rung động mau lẹ, từ mấy cơi cao đưa xuống hay là từ cơi trần đưa lên. Nếu những sự rung động nầy xuyên qua một cái Phách thô kệch th́ không có sự ứng đáp nào cả đặng truyền qua cái óc xác thịt, nghĩa là con người không nhận thức được cái chi hết.

 

SỨ GIẢ CỦA TỨ ĐẠI THIÊN VƯƠNG LẤY CHẤT DĨ THÁI NÀO

 MÀ LÀM RA CÁI PHÁCH CỦA THAI NHI.

 

Ta biết rằng : cái Phách làm bằng chất dĩ thái hồng trần (éther physique).

Muốn làm cái Phách của thai nhi, Sứ giả của Tứ Đại Thiên Vương phải lấy chất dĩ thái trong cái Phách của cha mẹ. Tuy nhiên, Sứ giả phải coi theo lằn rung động ghi trong hột Lưu tánh nguyên tử, cũng gọi là Nguyên tử trường tồn của xác thịt (atome permanent physique) kiếp trước do Linh hồn đem theo ḿnh trong kiếp nầy, đặng lựa phẩm chất của dĩ thái, hoặc tốt hoặc vừa vừa hoặc tầm thường, cho đúng với nhân quả của đứa bé. Nếu trong cái Phách của người mẹ chứa toàn là chất dĩ thái tốt, Sứ giả bị bắt buộc phải dùng chất dĩ thái tốt đó, mặc dầu trong nhân quả của đứa nhỏ chỉ ghi những chất tầm thường mà thôi.

Trái lại, nếu trong cái Phách của cha mẹ chứa toàn là những chất dĩ thái tầm thường th́ dầu cho Sứ giả muốn t́m những chất dĩ thái tốt đi nữa, cho đúng với căn quả th́ không biết phải làm thế nào, chung cuộc cũng bị bắt buộc phải dùng những chất tầm thường đó.

 

CÁI CHI CÓ ẢNH HƯỞNG TỚI H̀NH TƯ TƯỞNG CỦA TỨ ĐẠI THIÊN VƯƠNG.

 

H́nh tư tưởng của Tứ Đại Thiên Vương chịu hai ảnh hưởng : một cái trực tiếp, một cái gián tiếp.

           a.- Ảnh hưởng trực tiếp.

Ảnh hưởng trực tiếp do cha mẹ của hài nhi gây ra, nhứt là người mẹ. Một cơn nổi nóng thoáng qua, một ư muốn quấy quá, một tư tưởng hèn hạ, một phút dục t́nh sôi nổi, một cơn sợ hăi, buồn bực, và nhứt là sự giao hiệp cũng đủ gây ra sự rối loạn của H́nh tư tưởng nầy. Nó nhảy ra khỏi ṿng của nó đương xây dựng, nó sẽ trở lại khi hết cơn sóng gió, nhưng công việc của nó cũng bị trở ngại một phần nào rồi.

           b.- Ảnh hưởng gián tiếp.

Ấy là quả chung (cộng nghiệp) của gia đ́nh, xă hội, quốc gia, chủng tộc, như  ảnh hưởng thuộc về đời sống tổng quát của dân chúng, những sự khuyết điểm của đồng bào, những truyền thống xă hội, tôn giáo, chánh trị v.v… Đó là những luồng sóng thanh khí ầm ầm nổi dậy, ngày đêm đánh vào bờ bến của đời sống thế gian, không nghỉ, không ngừng.

Ít ai biết rằng : trước khi con người sanh ra, và sau khi mở mắt chào đời, những hiệu quả đó đă ghi vào thân thể ḿnh rồi và án mắt ḿnh, không cho thấy sự thật, cũng như mang kiếng màu mà xem cảnh vật vậy.

 

THAI GIÁO LÀ PHƯƠNG PHÁP CẢI THIỆN PHẦN SỐ CỦA HÀI NHI.

 

Hiểu được vai tuồng trọng hệ của cái Phách, những điều có ảnh hưởng tới H́nh tư tưởng của Tứ Đại Thiên Vương th́ ta có thể tránh được những tai hại cho ṇi giống, và tạo được hạnh phúc cho con cái của ḿnh.

Thuở xưa, các bực tiền bối thông hiểu đạo lư nên bày ra : Phương pháp Thai giáo để cải thiện được số mạng của hài nhi phần nào.

Thai giáo gồm hai phương diện :

            Một là : Phương diện vật chất.

            Hai là : Phương diện tinh thần

 

                     a/ Phương diện vật chất.

1.- Cữ giao hiệp-

Trước nhứt là cữ giao hiệp. Khi người phụ nữ biết ḿnh có thai rồi th́ nên chấm dứt sự giao hiệp. Nếu không được một cách tuyệt đối th́ cũng nên hạn chế, ít chừng nào tốt chừng nấy, đặng tránh sự động thai, hay là hư thai, làm hư hỏng công việc của Sứ giả của Tứ Đại Thiên Vương.

Ngày nay, trên mặt địa cầu, dám chắc chỉ có một giống dân tộc thật hiện được việc cữ giao hiệp khi người phụ nữ mang thai mà thôi. Ấy là những người Hounza, khỏe mạnh nhứt thế giới, giữ đúng phép vệ sanh, không đau ốm và trường thọ, không có giống dân nào b́ kịp mặc dầu là rất văn minh tiến bộ.

 

NGƯỜI HUNG ZA

 

Người Hung Za (Hounza) là một giống dân tộc có lẽ thuộc về giống A ri den (Aryen), giống thứ năm, là giống da trắng, ở phía Bắc xứ Cachemire, trên núi cao từ 1600 tới 2500 thước, quanh năm tuyết phủ và thuộc về miền nam cao nguyên Pamir. Họ sống lâu năm, rất khỏe mạnh, trọn đời không bịnh hoạn. Tánh họ rất vui vẻ, thuận ḥa, siêng năng, sạch sẽ, rộng răi, kiên nhẫn và dường như họ không biết mệt nhọc và sợ hăi là sao. Trong các cuộc hành tŕnh không có một khó khăn nào có thể làm cho họ thốt lời than phiền, hay chấp nhận một sự viện trợ nào. Họ mang gánh nặng đồ vật trên vai thế mà họ nhanh nhẹn như con beo, leo mau trên vách đá thẳng đứng của sườn núi.

Đí gấp rút từ Baltit, thủ đô xứ Hounza, tới Gilgit đồn Anh gần hơn hết, cách nhau 100 cây số, trải qua những đèo, đặng đem tin tức rồi trở về liền; chạy tức tốc tới Taschkougan bên Tây Tạng, cách đó 230 cây số trở về một mạch, trải qua những con đường ṃn dốc thẳng xuống và những đèo cao, về tới những con đường ṃn dốc thẳng xuống và những đèo cao, về tới nhà trầm tĩnh và nhẹ nhàng như lúc mới ra đi, đối với những người Hung Za, những thành tích như thế là tầm thường.

Nói tóm lại họ đủ các tánh tốt của đời văn ḿnh tối cổ và người văn minh hiện kim rất thèm thuồng và chưa được như ư nguyện.

Xin xem thử vài việc mà hiện giờ khắp hoàn cầu chưa dân tộc nào làm được.

“… Một khi thiếu phụ biết ḿnh có thai rồi th́ liền từ giả gia đ́nh ở chung với bọn đàn bà con nít, c̣n anh chồng th́ đến ở đậu với những trai chưa vợ. tới chừng nào đứa con thôi bú; vợ chồng mới hiệp nhau như trước. Theo tục lệ th́ đứa con trai ba năm mới dứt sữa, c̣n con gái th́ hai năm; nếu đứa kế đó sanh ra trước hai hay ba năm và nó giành sữa với anh hay chị nó th́ người ta chê bai nhục nhă rằng nó là đứa con ngoại t́nh và người ta khinh khi cặp vợ chồng đó.

Đứa nhỏ được hai tuổi th́ nó biết đi, người ta giao nó cho anh hay chị lớn hơn nó hai ba tuổi, đai nó trên lưng và coi sóc nó. Nếu là đứa con đầu ḷng th́ anh em cô cậu hay chú bác giữ dùm. Tới bốn tuổi, đứa trẻ được tự do, anh em trong nhà luôn luôn ḥa thuận với nhau không hề có việc căi cọ, rầy rà hay là gây gổ nhau.

Không có ai phạm tội ngoại t́nh hay tà dâm. Cũng không có trộm cướp. Thật là thuần phong mỹ tục. Họ cũng có vua và quan vậy nhưng không hề nghe nói dân chúng thán oán. Xứ họ mới thiệt là cơi thiên đàng tại thế.

2.- Chọn lựa thực phẩm và thuốc men-

Xác thân và cái Phách thanh hay trược, tùy thuộc thức ăn uống và quan trọng nhứt là t́nh cảm và tư tưởng. Trường chay được th́ tốt, bằng không th́ bỏ thịt cá và ăn rau cải, gạo lứt, muối hột, cữ những món cay nóng, độc địa.

Phải hoạt động hằng ngày, nhưng đừng làm những công việc nào nặng nhọc quá sức, chớ nên nhón gót với lên cao. Phải cẩn thận trong lúc đi đứng.

Có thai từ ba tháng sắp lên nên dùng thuốc tễ dưỡng thai. Thang Thập nhị hay Thập tam Thái bảo của Tàu rất hiệu nghiệm. Dùng đúng sức thuốc th́ chừng lâm bồn mau lẹ, ít đau bụng, đứa nhỏ sanh ra mạnh dạn.

Thuốc Tây cũng rất hay. Tùy phương tiện. Nhưng dầu sao, khi dứt uống thuốc hay chích thuốc Tây th́ nên dùng thuốc Bắc. Hiệu quả chắc chắn.

 

                     b/ Phương diện tinh thần.

Phần tinh thần nầy thật tối quan hệ. Ấy là t́nh cảm phải trong sạch, tư tưởng phải thanh cao. Nói cho đúng phép, người đàn bà có thai phải ở trong một hoàn cảnh tốt đẹp, vui tươi, không có một mảy bợn nhơ xen vào. Trước mặt không thấy những cảnh tượng hăi hùng, gớm ghiết, thương luân bại lư, bên tai không nghe những tiếng thô lỗ, cộc cằn, tục tĩu, rủa sả, chưởi mắng …

Trong ḷng người mẹ phải luôn luôn vui vẻ và chứa những ư tưởng nhơn từ, đừng bao giờ nóng nảy phiền hà. Mỗi ngày nên mỗi đọc những sách Luân lư Đạo đức, xem những chuyện trung, hiếu, tiết, nghĩa.

Giữ được như thế th́ lẽ tự nhiên, trừ một vài trường hợp bất khả kháng, đứa nhỏ sanh ra phải xinh đẹp, khôn ngoan, tánh t́nh rất tốt, dầu sao cũng hơn mức trung b́nh rất xa.

 

PHONG TỤC BÊN ẤN ĐỘ THUỞ XƯA

 

Thuở xưa, bắt đầu từ khi người đàn bà có thai cho tới trước ngày sanh, bên Ấn Độ, người ta có tục lệ bày ra những cuộc cúng kiến và đọc những bài kinh, những câu thần chú, khi trầm khi bổng, nghe rất êm tai, để nâng cao tâm hồn người mẹ và giúp cho H́nh tư tưởng của Tứ Đại Thiên Vương làm cái Phách của đứa nhỏ cho thật tốt.

Ngày nay tục lệ đó lần lần tiêu mất hết rồi. Đáng tiếc lắm vậy.

Người không học Đạo cho mấy việc nầy là dị đoan, điên rồ, chớ đâu có ngờ rằng : Người xưa thông hiểu Luật Trời và áp dụng nguyên tắc “mỗi tiếng rung động đều làm thay đổi tâm hồn” đặng sửa đổi phần nào số mạng của đứa nhỏ được bao nhiêu hay bấy nhiêu.

Dưới đây là hai câu chuyện để chứng minh rằng tư tưởng có ảnh hưởng rất lớn đối với bào thai.

 

Cô Ruth J. Wild có một đứa con gái được giải thưởng trong một cuộc đấu sắc đẹp có nhiều cô gái nhan sắc tuyệt trần đến dự, thuật lại chuyện cô như vầy :

“Trước khi sanh nở ra, tôi trải qua một thời kỳ khó khăn và đau khổ. Tôi ở lẻ loi một ḿnh, nhưng mà tôi nhứt định, đứa con của tôi sanh ra phải tuyệt đẹp.

Tôi thường đến viếng Bảo tàng viện Brooklyn, ngồi ngắm nghía tượng Nữ Thần Vénus và thần Adonis. Luôn luôn tôi đem theo ḿnh cái b́a của một tờ tạp chí có một đầu h́nh rất đẹp, do nhà mỹ thuật Boileau vẽ ra, và trong trí tôi luôn luôn h́nh dung đứa con của tôi sẽ sanh ra.

Tới kỳ tôi nằm chỗ th́ tôi sanh ra một đứa con gái và quả nhiên, cái điều tôi mơ mộng và ước ao đă thành sự thật; nó đă làm ra một đứa nhỏ đẹp nhứt trên đời.

Mấy vị Bác Sĩ tuyên bố rằng : từ đó đến giờ chưa thấy một đứa bé nào như nó. Có một vị biết tôi nghèo khổ nên chịu cho tôi 20 ngàn đô la đặng bắt lấy nó. Nhưng dầu cho đem hết vàng bạc trên thế gian đặng bắt lấy nó, tôi cũng chẳng chịu. Tôi biết tôi đă thành công. Tôi thấy gương mặt nó giống hệt bức tranh của nhà mỹ thuật Boileau, c̣n h́nh vóc nó un đúc theo những lằn đẹp của những thần tượng mà tôi đă thường ngắm.

 

II 

Trường hợp thứ nh́ là chuyện của cô Viginia Knapp. Cô có một đứa con gái tên Dorothée, được giải thưởng Nữ thần Vénus Mỹ châu, trong một cuộc đấu sắc đẹp tại Madison Square Garden. Cô nói : Trong khi có thai, tôi rất thích chú ư đến những sắc đẹp thiên nhiên và tôi thường năn nỉ cảnh vật cho con tôi được một phần cái đẹp của Tạo Hóa. Tôi dám chắc con tôi dung mạo đẹp đẽ là nhờ ư chí cương quyết của tôi, trước khi sanh nó ra, chớ không phải tại ḍng giống.”

Cũng v́ mấy lẽ trên đây mà mấy bà mẹ Hi Lạp thuở xưa, có thói quen, thường ngày ngắm những h́nh tượng xinh đẹp và mấy ông già bà cả của chúng ta thường dặn con cháu gái : “Một khi mang con vào dạ th́ phải đi đứng ngay thẳng, lời nói phải thanh bai, không nên đi xem hát bội v́ sợ thấy tướng Phiên, mặt mày vằn vện đâm ra sợ hăi, rồi sau sanh con ra diện mạo xấu xa”. Thật đúng vậy.

 

SỬA ĐỔI SỐ MẠNG CỦA NHỮNG TRẺ TỪ LÚC MỚI LỌT L̉NG CHO TỚI KHI LỚN KHÔN BẰNG CÁCH GIÁO DỤC THEO PHƯƠNG PHÁP ĐẠO ĐỨC

 

Phải săn sóc và nuôi dưỡng hài nhi một cách hết sức kỹ lưỡng, cho thật đúng phép vệ sanh và nhứt là hết ḷng thương yêu nó.

Chớ nên lầm tưởng đứa nhỏ mới sanh ra là một tờ giấy trắng tinh, muốn viết chữ nào hay vẽ h́nh chi cũng được. Nó đă có không biết bao nhiêu tiền kiếp, mỗi khi tái sanh, nó đều đem theo ḿnh mầm mống của những tánh của nó đă rèn luyện trong những kiếp quá khứ, tốt có, xấu có. Nếu nó gặp hoàn cảnh tốt đẹp, nghĩa là từ cha mẹ đến anh em trong nhà đều hiền lương, tư tưởng và t́nh cảm thanh cao th́ ảnh hưởng nầy cảm đến mầm mống của những tánh tốt, làm cho chúng nở nang mau lẹ; những mầm của tánh xấu không có đồ ăn th́ phải héo   ṃn : lần lần rồi tiêu mất.

Phải giáo dục nó theo phương pháp Đạo đức, từ trong lời nói, từ trong cử chỉ, từ trong cuộc chơi, một cách ngon ngọt dịu dàng, th́ lớn lên nó sẽ thành ra một người tốt lành, dầu không phải là một bực vĩ nhơn, chớ cũng tiến hóa hơn người thường rất nhiều.

Trái lại, nếu chung quanh đứa nhỏ toàn là những người nóng nảy, giận hờn, tham lam, ích kỷ, đắm mê vật dục th́ những tư tưởng và t́nh cảm xấu xa nầy nuôi dưỡng mầm mống các tánh xấu, cho chúng nó đâm chối nảy tược mau lẹ, c̣n mầm mống của các tánh tốt bị hao ṃn. Lớn lên đứa nhỏ sẽ hư thân mất nết, bị những trận cuồng phong của cuộc đời lôi cuốn, chưa ắt có những dịp may hay cơ hội tốt để trở lại con đường quang minh chánh đại một cách dễ dàng.

Nói một cách khác, cái Trí và cái Vía của trẻ thơ thu hút những tư tưởng và những t́nh cảm, bất cứ loại nào, cũng như bông đá hút nước. Vậy chớ nên cho trẻ con lân la với những đứa thất giáo, chúng sẽ nhiễm những thói hư tật xấu một cách mau lẹ, sau khó mà sửa chữa lắm. Dầu cho có cải thiện được cũng phải mất một thời gian khá lâu trên cả chục năm.

Điều hay hơn hết là trong khoảng từ một đến mười bốn tuổi, đứa trẻ nên được ở vào một hoàn cảnh, không phải là Thần Tiên, nhưng mà tương đối là thanh tịnh, trong bầu không khí tốt đẹp, vui vẻ thuận ḥa.

Nhưng tiếc thay, v́ đời sống quay cuồng của xă hội hiện tại, thật là không dễ mà t́m được một chỗ như ư nguyện; tuy nhiên, ta cứ cố gắng tạo ra một khung cảnh thuận tiện cho sự tiến hóa của trẻ thơ, được điều nào hay điều nấy.

 

B.    QUẢ TÍCH TRỮ.

 

Từ khi thoát kiếp thú đầu thai làm người lần đầu tiên cho tới bây giờ, trong kiếp nầy, con người gây ra không biết bao nhiêu Quả, nhưng dám chắc là dữ nhiều lành ít, bởi v́ chúng ta c̣n vô minh.

Nếu Thiên đ́nh bắt ta phải trả một lần một những quả xấu đó th́ chắc chắn xác thân ta chịu đựng không nổi, nó phải chết trước ngày giờ đă định.

Hơn nữa có nhiều thứ quả cần phải có nhiều xác thân khác nhau và hợp với nó mới trả được.

Ngoài ra, mỗi người trong chúng ta, ở những kiếp quá khứ đă gây ra những quả báo, xấu có, tốt có, với cả trăm, cả ngàn người khác mà họ không phải đi đầu thai một lượt với chúng ta. Có người xuN