trang nhà trang sách l bản tin l thiền học l tiểu sử trang thơ l h́nh ảnh l bài vở 

NHẬP MÔN
NGHIÊN CỨU GIÁO LƯ BÍ TRUYỀN

INTRODUCTION À L’ÉTUDE DE LA DOCTRINE SECRÈTE

Tác giả: S. LANCRI
ADYAR . PARIS
4. Square Rapp . VII e

Mục Lục

đầu sách cuối sách mục lục   mục 1 2  3  4  5  6  7 8  9 10 11 12 13

Lời giới thiệu
Lời bạt
1- Đức Cha ẩn Tàng
2-
Cha mẹ
3- Thiên nhân
4- Bảy nguyên tố

5- Linh hồn thế giới
6- Bảy đấng nguyên thuỷ
7- Chơn ngă
8- Mẹ thiêng liêng
9- Cuộc chiến tranh trên trới và sự sa đoạ của các thiên thần
10- Promethèe
11- Tứ linh tự
12- Sự thăng tiến tinh thần

13- Thánh đạo
Chú thích

LỜI GIỚI THIỆU

đầu sách cuối sách mục lục   mục 1 2  3  4  5  6  7 8  9 10 11 12 13

Một tựa đề ngắn gọn không thể thực sự diễn tả được bản chất của một quyển sách. Từ Nhập môn vốn có ở đầu tác phẩm này (v́ thiếu một từ tốt hơn) phải chịu lời chê trách đó.

Giáo Lư Bí Truyền cần được nghiên cứu cật lực với những khó khăn càng ngày càng tăng do có một số lớn những thuật ngữ được vay mượn từ tôn giáo, thần thoại học và đủ thứ triết học mà độc giả có thể không quen và ư nghĩa chỉ xuất lộ từ từ.

Có một sơ đồ tổng quát (trong đó ta đối chiếu được những yếu tố xác định vốn bàng bạc trong tác phẩm của bà Blavatsky) th́ mới dùng được sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong một tập hợp mà sự phong phú của nó khiến cho tác phẩm trở nên rườm rà.

Lẽ ra là một quyển sách nhỏ phải được đọc trước khi nghiên cứu bộ Giáo Lư Bí Truyền, quyển Nhập môn này phải được coi là một công cụ làm việc có thể được dùng qua suốt cuộc nghiên cứu, giống như khi người ta tham khảo cái bản đồ trong khi du hành.

Vậy th́ sinh viên không nên lấy làm ngạc nhiên nếu lần đầu đọc những trang sau đây cần có một nổ lực định trí nghiêm túc. Chúng tôi tin chắc rằng người nào cảm thấy chán ngán trước khó khăn, dứt khoát sẽ t́m thấy rằng nổ lực này thực là có lợi.

Tiến sĩ  P. Thorin

LỜI BẠT 

đầu sách cuối sách mục lục   mục 1 2  3  4  5  6  7 8  9 10 11 12 13

“Giáo Lư Bí Truyền buộc người ta phải tự ḿnh suy nghĩ. Do pháp lực của nó, chúng ta có thể thăng lên những độ cao tâm linh kỳ diệu . . . Thật là sai lầm cho bất cứ ai tin rằng người ta có thể ban phát cho những linh hồn khoa Thông Thiên Học của chúng tôi, nếu người ta chưa từng thực hành môn Yoga giúp người ta tiếp xúc với quyển sách này, quyển sách đáng chú ư nhất thời đại này”  (George  S. Arundale, “Pháp lực của Giáo Lư Bí Truyền” trong tạp chí Thanh Liên, số ra tháng 2 năm 1935).

 

Thông Thiên Học tức “Minh Triết Thiêng Liêng” là một khoa học ẩn tàng và là Khoa học về Điều Ẩn Tàng. Lănh vực của nó là “cơi vô h́nh”. Nó khẳng định rằng mọi điều mà giác quan của chúng ta tri thức được đều có một độ sâu bí mật, bề mặt của các sự việc (“đường chân trời bên ngoài” của chúng) chỉ là giới hạn của một “đám đen hỗn độn mà ta thấy được” theo cách diễn tả của Maurice Merleau Ponty. “Tính thấy được thứ nh́” này khiến cho những người nào đă phát triển được thần thông cần thiết thăm ḍ được kích thước huyền linh của vũ trụ. Chính chân trời bên trong của các sự vật mới là đối tượng nghiên cứu của Thông Thiên Học.

Năm 1888, trong quyển Giáo Lư Bí Truyền bà Blavatsky đă tŕnh bày quả thật là tổng thể khoa học về điều vô h́nh này. Đó là một tác phẩm rườm rà mà ta cần phải giới thiệu. Chúng tôi hi vọng rằng phần nhập môn của quyển sách này sẽ làm cho việc nghiên cứu được dễ dàng.

Điều này thật là cực nhọc bởi v́ bà Blavatsky thường gợi ư rằng đúng hơn th́ không nên giải thích nó. Cũng như Clément d’Alexandrie trong tác phẩm “Stromates”, bà dùng một cách rất ư thức cùng một từ với nhiều nghĩa khác nhau. Rơ rệt bà muốn độc giả của ḿnh phải là một sinh viên và một nhà khảo cứu. Hơn nữa, trong những tiết lộ của ḿnh, bà không bao giờ vượt quá giới hạn do các huấn sư của chính bà áp đặt, các Ngài dành kiến thức về những bí mật tối hậu của thiên nhiên cho một nhóm ưu tú các đệ tử được chọn lựa cẩn thận v́ ḷng vị tha và khả năng.

Phải công nhận rằng bí mật đă được giữ trọn vẹn. Không muốn coi thường tầm mức bao la trong những tiết lộ của nó, th́ người ta cũng có thể nói rằng Giáo Lư Bí Truyền c̣n lâu mới vén được hoàn toàn bức màn bí mật. Tuy nhiên, trái với kho tài liệu mật tông (trong khi tự cho ḿnh lúc nào cũng tiết lộ những bí mật điểm đạo kỳ diệu) lại chẳng tiết lộ được điều ǵ lớn lao, luôn luôn dừng lại vào đúng lúc hay nhất, th́ Giáo Lư Bí Truyền vẫn cung cấp thông tin cho độc giả. Thật vậy theo lời nhận xét của Mircea Eliade, người ta không bao giờ t́m thấy trong những bản văn mật tông có được “những chỉ dẫn thực hành cần thiết cho kẻ sơ cơ: trong những lúc quyết định y cần phải có một vị thầy” (Trong tác phẩm Những Người Thợ Rèn và Những Người Luyện Kim Đan trang 148).

Một trong những công trạng lớn của Hội Thông Thiên Học là đă thu hút sự chú ư của thế giới Tây phương đối với sự ích lợi lớn lao của các tôn giáo và triết học Đông phương; Hội cũng đă góp phần tiết lộ kho tàng của chúng ở Âu châu và Mỹ châu. Hơn nữa, Hội đă phục hồi giá trị nhiều giáo lư cổ sơ. Bà Blavatsky đă dấn thân vào việc phục hồi một vài tư tưởng cổ sơ một cách hăng hái và uyên bác đáng ngạc nhiên. Ngày nay, người ta càng ngày càng nhận ra sự bất công khi muốn đối xử với nó bằng cách chôn vùi dưới một đống lời châm biếm và cười nhạo, lại càng khinh bỉ hơn nữa.

Tựu trung, Thông Thiên Học là một toan tính nhằm phục sinh những Bí pháp thời xưa và một thời kỳ mà con Nhân sư, biểu tượng của Minh triết Cổ truyền, không c̣n ngấu nghiến những người nào không tỏ ra xứng đáng qua một sự chuẩn bị lâu dài để tiếp nhận những bí mật của nó mà lại muốn dùng vũ lực chọc thủng câu đố bí hiểm của nó. Con Nhân sư tội nghiệp bị Œdipe thời hiện đại làm cho “tục hóa và phá hỏng”, cuối cùng bị vứt vào “trong biển suy đoán” để rồi chết ch́m trong đó (Giáo Lư Bí Truyền III, 95).

Bà Blavatsky khẳng định rằng trừ một vài ngoại lệ, c̣n các huyền bí gia Tây phương thời bà đều bước trên con đường phù thủy. V́ vậy, để xóa tan mọi sự mập mờ, bà đă ra sức xác minh bản chất của Thông Thiên Học, bà bảo rằng thuật ngữ “huyền bí học” bao gồm nhiều khoa học bí truyền. Người Ấn Độ chia các khoa học này ra làm bốn phạm trù: Yajna Vidyā tức “tri thức về những quyền năng huyền bí được khơi dậy trong Thiên nhiên nhờ việc thực hành một vài nghi lễ”; Mahā Vidyā, pháp thuật chủ yếu là được thực hành bởi các cao đồ mật tông; Gouhya Vidyā tức “tri thức về những quyền năng thần bí có trong các Mantras” (các công thức thần bí hoặc các thần chú được tŕ niệm); và cuối cùng là Atmā Vidyā tức “Tri thức về Linh hồn”. Theo bà Blavatsky chỉ có phạm trù cuối cùng này mới là “Minh triết Chân chính mà ta gọi là Thông Thiên Học” (Tuyển tập H.P.B., IX, 252).

Ta không thể thu được Minh triết này nhờ vào những quyền năng huyền bí vốn không phải là nguyên nhân mà là kết quả. Bởi v́ mục đích của “kẻ khát khao minh triết tâm linh là nhập vào một cơi hiện tồn cao hơn. Y phải trở thành một con người mới, hoàn hảo về mọi phương diện hơn hiện nay và nếu thành công, những khả năng và năng lực của y sẽ gia tăng tương ứng về tầm mức và quyền năng . . . Chính v́ thế mà Cao đồ được phú cho những quyền năng mầu nhiệm rất thường được mô tả”, những năng khiếu kỳ diệu chỉ là “hệ quả tự nhiên của việc tồn tại trên cơi tiến hóa cao” (Tuyển tập H.P.B., VI, 332, 333).

Vậy là ta có thể đạt đến Minh triết này bằng cách đi theo con đường vị tha và thực hành các đức tính. Thật vậy, nó khơi dậy trong con người một sự nở rộ khiến y trở thành một thực thể tâm linh được phú cho những năng lực giúp y vượt trên con người chỉ thuần là có đạo đức.

Trái lại, những khoa học bí mật khác có thể được thâm cứu mà không cần một nỗ lực hoặc bận tâm nào về phương diện đạo đức. Nhưng theo cách diễn tả của bà Blavatsky, chúng chỉ là những Huyền Thuật dựa trên “sự  hiểu biết về bản thể tối hậu của vạn vật trong Giới Thiên Nhiên (giới khoáng vật, thực vật và động vật), do đó là bản chất tối hậu của những sự việc thuộc về phạm trù vật chất, cho dù bản chất này là vô h́nh và cho đến nay nó đă thoát khỏi sự câu thúc của Khoa học” (Tuyển tập H.P.B., IX, 252). Bà Blavatsky nêu ví dụ của các Huyền Thuật này chẳng hạn như Khoa Luyện Kim Đan, Chiêm Tinh Học, Sinh Lư Học huyền bí và Thuật Coi Chỉ Tay. Bà nói thêm rằng Atmā Vidyā bao gồm hết cả những khoa này và các Cao đồ đôi khi sử dụng chúng và “có chú ư lấy đi mọi yếu tố ích kỷ” (Tuyển tập H.P.B., IX, 251, 253).

Theo Thông Thiên Học, con người b́nh thường, cho dù có thể đă tích lũy được kiến thức khoa học vẫn sống trong một trạng thái bán hôn thụy và vô minh sâu sắc về những khả năng riêng của ḿnh cùng với thực tại nội tâm. Mục đích chân chính của Thông Thiên Học là giúp y vươn lên từ cái trạng thái “u minh” mà các nhà Luyện Kim Đan thời Trung cổ có thể biểu tượng được để lên tới cuộc sống quang minh của Tinh thần. Nó nhắm vào sự giải thoát con người bị trói buộc trong mạng lưới vật chất bằng cách cung cấp cho y những kiến thức và xung động có thể động viên nơi y những năng lượng vô h́nh.

Sự biến cải này được thực hiện nhờ vào một chuyển động kép, tương ứng với hai lực vũ trụ: năng lượng hướng tâm và năng lượng ly tâm. Khi đương đầu với những giới hạn của ḿnh, con người muốn t́m ra chiều kích thiêng liêng của ḿnh, ắt phải trở thành một tiêu điểm mănh liệt của tri thức bằng cách thu hút về trung tâm tâm thức ḿnh điều mà xét về mặt biểu kiến vốn ở bên ngoài ḿnh. Đồng thời trong một hành vi yêu thương và thông công với cái mạo nhận là phi ngă, y phóng chiếu ra khỏi chính ḿnh, hoặc đúng hơn, là ra khỏi phàm ngă vốn chỉ cấu thành một mảnh Chơn ngă toàn vẹn của y.

Sự phong thánh cho t́nh thương và tri thức này khiến con người khám phá được thực tại nội tâm vốn chuyển hóa được nhân tính thành thiên tính. Sự biến h́nh này được thực hiện bằng cách hội tụ cá nhân với toàn thể vũ trụ. Nó là “Đại Công Tác” của các nhà Luyện Kim Đan và xét theo ư nghĩa thần bí th́ đó chính là Điểm Kim Thạch và Bột Phóng Chiếu của họ (Thuật ngữ TTH, 253).

Sự biến cải con người là điều mà Jung gọi là “sự cá tính hóa”, c̣n Teilhard de Chardin gọi là “sự bản ngă hóa”. Nó tạo thành mục đích thứ ba của Hội Thông Thiên Học theo như bà Blavatsky hiểu. Khi định nghĩa mục đích thứ ba là “nghiên cứu và phát triển những quyền năng thiêng liêng ẩn tàng nơi con người”, bà đă cẩn thận gạch dưới từ thiêng liêng (Thuật ngữ TTH, 328).

Như vậy, Thông Thiên Học là Khoa học cao quí nhất. Nó rao giảng một thuyết nhân đạo ở chiều kích vũ trụ. Khi tuyên bố con người có bản chất thiêng liêng, nó đă thánh hóa được con người. Như vậy, nó cũng khẳng định được việc y có thể tự siêu việt và cuối cùng thâm nhập trở lại vào trong đấng thiêng liêng mà xưa kia y đă cách ly với Ngài. Mặc dù là nền tảng của mọi tôn giáo, Thông Thiên Học không phải là một tôn giáo, trừ phi coi nó là tôn giáo của Nhân loại theo ư nghĩa mà bà Blavatsky xác định qua những từ như sau: “Vị Thượng Đế duy nhất mà ta phải phụng sự chính là Nhân loại và tục thờ cúng duy nhất của ta phải là yêu thương đồng loại của ḿnh” (Tuyển tập H.P.B., VIII, 88). 

***

Sự đối chiếu song hành con người với vũ trụ đ̣i hỏi rằng ta phải nghiên cứu con người và vũ trụ cùng với nhau. V́ thế “Giáo Lư Bí Truyền” cũng tiết lộ bộ khung của vũ trụ cũng như cấu trúc huyền bí của con người.

Theo Vũ trụ khởi nguyên luận huyền bí, do tác động của một luật vốn cố hữu trong trời đất, vũ trụ trải qua những cuộc luân phiên Hoạt động và yên nghỉ, những chu kỳ mà người Ấn Độ gọi là “Manvantaras” (nghĩa đen theo tiếng Bắc Phạn là “giữa các Đức Bàn Cổ”) và “Pralayas” (sự hoại không).

Điều không biểu lộ, cội rễ của điều biểu lộ, điều biểu lộ “tan ḥa” trong “điều không biểu lộ” vào cuối một chu kỳ thành trụ Manvantara, được các thánh kinh Ấn Độ gọi là “Parabrahman” (vượt quá Đấng Brahman). Các môn đồ kinh Kabale gọi Ngài là “Ain Soph” (Vô Hạn).

Vốn là cội nguồn bất khả tri, vĩnh hằng và vô hạn của các vũ trụ tuần hoàn, Đấng Tuyệt Đối này là một Kỳ gian và một Không gian siêu h́nh học. Thời gian và Không gian hữu hạn mà chúng ta sống trong đó chỉ là những biểu hiện phù du, được sinh ra do sự biến dị của chất liệu nguyên thủy vào giai đoạn “Thượng Đế Ngôi Ba” (Tuyển tập H.P.B., X, 359). Chỉ có như thế th́ trong vật chất mới xuất hiện những h́nh thái có thể được dùng làm hiện thể cho các thực thể đầu tiên trong vũ trụ. Do hoạt động hữu thức, các Đấng này sinh ra Thời gian và Không gian, đó là v́ theo như Kant tuyên bố, Không gian và Thời gian, th́ Không gian chỉ là “một giác quan bên ngoài” khiến chúng ta biểu diễn các sự vật ở ngoài bản thân, c̣n Thời gian là “một giác quan bên trong” giúp ta cảm nhận được các trạng thái nội tâm liên tiếp.

Trong “Giáo Lư Bí Truyền”, Đấng Tuyệt Đối được gọi là Không gian, v́ Ngài là “điều vĩnh hằng duy nhất mà chúng ta có thể dễ dàng tưởng tượng được, bất di bất dịch trong tính chất trừu tượng và không bị ảnh hưởng cho dù một Vũ trụ khách quan có hay không tồn tại bên trong Ngài” (Giáo Lư Bí Truyền quyển I, trang 67). Ta có thể coi Không gian này là một Chân không; thật vậy, nó chẳng chứa đựng điều ǵ thuộc ngoại giới. Nhưng đó cũng là một Điều Tràn Đầy, là “Nội hàm Tuyệt đối của điều hằng hữu cho dù có biểu lộ (hữu) hoặc không biểu lộ (vô)” (Giáo Lư Bí Truyền I, 37).

Vào lúc b́nh minh của một chu kỳ thành trụ, Ngôi đầu tiên khoác lấy khía cạnh thuần túy nội giới này chính là “Mẹ”, Moulaprakriti (Cội Rễ của Vật Chất) của các môn đồ phái Védanta : “Chỉ mới bị biến phân một chút thôi, th́ Nội giới đă bắt đầu phân thân hoặc trụy đọa như một bóng tối vào Ngoại giới và trở thành điều mà người ta gọi là “Nữ thần Mẹ” (Tuyển tập H.P.B., X, 302). Theo bà Blavatsky, muốn diễn tả sự khác nhau giữa giai đoạn “tiền vũ trụ” này và chu kỳ hoại không có trước nó, cho dù chúng gần nhau đến đâu đi chăng nữa, th́ cũng cần phải có một bộ khảo luận (Giáo lư Bí Truyền I, 49).

Moulaprakriti không phải là vật chất mà là “chất liệu” sản sinh ra vật chất. Vật chất thường được bà Blavatsky gọi theo tiếng Bắc Phạn là “prakriti”; chính vật chất tạo ra “những đối tượng mà ta nhận thức được” (Giáo Lư Bí Truyền quyển I, trang 350). Vậy th́ Hỗn Nguyên Khí là Cội Nguồn của các cơi ngoại giới trong Thiên nhiên. Đó là chất liệu “nguyên thủy và không biểu lộ mà các nhà Luyện Kim Đan gọi là “Vùng Đất Adam và các môn đồ kinh Kabale gọi là “Hakomah” (Chokmah) tức Minh triết. Nó là “Minh triết tối cao” (tức không Biểu lộ); cùng với Ain Soph và mười Sephiroth nó tạo thành bốn bộ ba tương ứng với mười hai cung Hoàng đạo, cũng như “mười hai vị thần lớn” của người Chaldée thời xưa (Giáo Lư Bí Truyền I, 39, chú thích; H.P.Blavatsky, Một Panarion Hiện đại, trang 406). Được mệnh danh là “Vật chất trừu tượng và lư tưởng” (Giáo Lư Bí Truyền I, 161), nó là một sự trừu tượng thuần túy đối với vũ trụ, mặc dù đối với Parabrahman th́ nó lại có tính chất là ngoại giới.

Moulaprakriti cũng vĩnh hằng, vô hạn và bất di bất dịch như Đấng Tuyệt Đối, mà nó là một trong những khía cạnh của Ngài. Chính v́ các ngôn ngữ Âu Tây thật nghèo nàn, không thích hợp để diễn đạt được (như tiếng Bắc Phạn) những điều tinh vi của khoa Siêu h́nh học huyền bí, cho nên bà Blavatsky mới nói tới sự biến phân của nó. Bà tuyên bố rằng không được giả sử là Moulaprakriti có thể phải chịu một sự biến hóa: “Khi nói sự biến phân của Moulaprakriti, người ta có ư muốn nói tới bản thể nguyên thủy của mọi dạng tồn tại (Asat) do nó tỏa chiếu ra”. Bản thể này phải là trung tâm năng lượng làm nảy sinh ra vũ trụ ngoại giới qua những tiến tŕnh dần dần biến dị và phân thân. C̣n về phần Moulaprakriti, nó “chẳng bao giờ biến phân mà chỉ phân thân hoặc xạ ra đứa con đầu tiên của ḿnh là Mahat-tattva, tức là Sephira của các môn đồ kinh Kabale (Tuyển tập H.P.B., VI, 142-143). 

ĐỨC CHA ẨN TÀNG

đầu sách cuối sách mục lục   mục 1 2  3  4  5  6  7 8  9 10 11 12 13

Khía cạnh thứ nh́ của Đấng Tuyệt Đối là Thượng Đế Ngôi Một, tức Thượng Đế không biểu lộ. Đó là một trung tâm lực, tiềm tàng trong chu kỳ hoại không (pralaya) và trong một phần giai đoạn đầu tiên của sự biểu lộ vũ trụ. Ngài vừa là Chúa Con, vừa là Chúa Cha, “một đằng là Tiềm năng, một đằng là Quyền năng”, nhưng ta không được lẫn lộn Ngài với Thượng Đế Biểu Lộ (tức Thượng Đế Ngôi Ba) mà “các vũ trụ khởi nguyên luận khác cũng gọi là Chúa Con” (Tuyển tập H.P.B., X,  302-303). Thoạt tiên yên ngủ trong ḷng Moulaprakriti, bấy giờ Ngài là Chúa Con. Từ khi thức dậy, Ngài trở thành Chồng và “Cha Ẩn Tàng” của Moulaprakriti, ban rải ra năng lượng vũ trụ mà kinh Kabale gọi là “Shekinah” và Chí Tôn Ca gọi là “Daiviprakriti” (Tuyển tập H.P.B., X, 302-303).

Lại nữa, Thượng Đế Ngôi Một chỉ được dùng làm trung tâm chuyển thần lực này là “Ánh Sáng Thượng Đế” mà cội nguồn là Parabrahman. “Sau khi đă xuất hiện, một đằng là Chơn ngă, c̣n một đằng là Moulaprakriti, Parabrahman tác dụng trên cương vị là năng lượng duy nhất qua trung gian của Ngôi Lời Logos” (Subba Row, Triết lư Chí Tôn Ca, 15). Đó là bộ ba cao nhất mà ta có thể quan niệm được, được cấu thành bởi “Vật chất, Thần lực và Chơn ngă” (Giáo Lư Bí Truyền I, 463), Thần lực chính là Thượng Đế [i], c̣n Chơn ngă là năng lượng của Thượng Đế, “Ánh Sáng” của Ngài. Ánh Sáng Thượng Đế là “cội rễ duy nhất của Chơn ngă, mà mọi loại bản ngă khác chỉ là một biểu lộ hoặc một phản ánh”. Đó là v́ chính Ánh Sáng của Thượng Đế cấu thành “Jīva chân thực tức Chơn ngă của con người” (Giáo Lư Bí Truyền I, 463; Subba Row, Triết lư Chí Tôn Ca, 16-27).

Trong khi Parabrahman là Nguyên Nhân Vĩnh Hằng (Nữ thần Isis lộ diện II, 266) th́ Thượng Đế Ngôi Một là Nguyên Nhân Đầu Tiên, “Ngôi Lời vĩ đại không ai thấy được, phân thân ra mọi Ngôi Lời khác”, và trước khi có sự biểu lộ vũ trụ, “Thượng Đế Ngôi Một yên ngủ trong ḷng CÁI ĐÓ, vốn không ngủ và cũng chẳng thức”. Đó là v́ người ta không thể nói Parabrahman là ngủ hay thức v́ Ngài không phải là một Thực thể “mà là Sat tức là Bản thể”(Giáo Lư Bí Truyền II, 324).

Vốn xuất phát từ Thượng Đế, Daiviprakriti được gọi là “Con Gái” của Ngài. Bà được coi là Mẹ của Thượng Đế khi ngài trở thành nguyên khí thứ bảy nơi con người mà người Ấn Độ gọi là Atmā và môn đồ phái Ngộ Đạo gọi là Christos (Giáo Lư Bí Truyền II, 241, chú thích 1). Đó là v́ khi Thượng Đế biểu lộ bên trong con người “trên cương vị là Đấng Cứu Chuộc y th́ chỉ có thể nói là y đă sinh ra trong ḷng Ánh Sáng thiêng liêng này. Như vậy, chỉ khi Thượng Đế biểu lộ nơi con người th́ y mới trở thành đứa con của Ánh Sáng này”. Nhưng nói cho thật nghiêm xác th́ “thay v́ được coi là mẹ của Thượng Đế, Daiviprakriti phải được gọi là con gái của Ngài” (Triết lư Chí Tôn Ca, 17).

Người Ấn Độ gọi năng lượng vũ trụ này Shakti. Dường như bà Blavatsky đôi khi đồng nhất hóa nó với Moulaprakriti hoặc với phân thân của nó là  Akāsha. Chính v́ vậy mà bà viết: “Moulaprakriti (bức màn của Parabrahman) tác dụng như năng lượng duy nhất qua trung gian Thượng Đế” (Giáo Lư Bí Truyền quyển I, trang 155). Nhưng đó chỉ là một cách tỉnh lược để biểu diễn vấn đề. Lực vũ trụ tất yếu phải giao tiếp với chất liệu để tạo ra một hiện tượng nào đó. Tuy nhiên, mặc dù cần dùng làm nền tảng để truyền các luồng thần lực, Akāsha không phải là Shakti (Subba Row, Tài liệu bí truyền, trang 298, chú thích của bà Blavatsky). Cũng vậy, người ta bảo rằng Moulaprakriti “không thể tạo ra bất kỳ kết quả nào nếu nó không được ánh sáng Thượng Đế làm cho tác động” (Subba Row, Triết lư Chí Tôn Ca, trang 74).

Thượng Đế Ngôi Một là “Con Số, v́ Ngài là số Một”, Hữu thể thoát thai từ Phi hữu, từ “Không phải Con Số”, tức Đấng Tuyệt Đối (Parabrahman) (Giáo Lư Bí Truyền quyển I, trang 115-125). Vị thần Ấn Độ là Nārāyana tức Svāyambhouva, Đấng Tự Tại thâm nhập vào Quả Trứng Thế Giới và “xuất lộ từ đó vào lúc cuối sự ấp trứng thiêng liêng trên cương vị là Brahmā” (Giáo Lư Bí Truyền I, 109, Giáo Lư Bí Truyền II, 136). Nó cũng là Chơn thần của Pythagore “vốn sống trong cô độc và im lặng”, điểm trắng tiềm tàng (Tuyển tập H.P.B., X, 351, Nữ thần Isis lộ diện I, 212), “mầm mống nguyên thủy, TỔNG THỂ lớn lao không được khải huyền, tự thân tồn tại” (Nữ thần Isis lộ diện II, 170), cũng như Đấng Thái Cổ “được bao quanh bởi ba cái đầu trong kinh Kabale (Nữ thần Isis lộ diện, 212-222), “Thần Bí Nhiệm tức Đấng thiêng liêng không bao giờ được khải huyền” của các môn đồ phái Ngộ Đạo, ngài đă dùng “Ư chí của ḿnh làm cho Bythos thụ thai” (Nữ thần Isis lộ diện II, 171). Khi ngài “thức dậy, không ngủ nữa và muốn biểu lộ th́ ngài tự phân chia thành nam và nữ” (Nữ thần Isis lộ diện II, 170), vậy là sinh ra Đấng thiêng liêng lưỡng tính, Sephira thư hùng lưỡng tính mà Sáng Thế Kư gọi là Ánh Sáng (Nữ thần Isis lộ diện I, 258).

CHA MẸ

đầu sách cuối sách mục lục   mục 1 2  3  4  5  6  7 8  9 10 11 12 13

Sephira tức Kether, đứng đầu trong số mười Sephiroth, là điểm nguyên thủy trong kinh Kabale (Nữ thần Isis lộ diện II, 272). Nó tiêu biểu cho sự biểu lộ đầu tiên của lực vũ trụ. Lực vũ trụ này là một khi chưa biểu lộ, nhưng “luôn luôn là hai khi đă biến dị” (Tuyển tập H.P.B., X, 386). Các Phật tử Bắc tông gọi Sephira thư hùng lưỡng tính (Giáo Lư Bí Truyền I, 379) là Chơn Như. Bà đồng nhất với nữ thần Ai cập Neith, “Mẹ vô nhiễm” của Mặt Trời (Giáo Lư Bí Truyền I, 429) đồng nhất với “Tohou Vah Bohou” trong Kinh thánh và đồng nhất với Bythos, “chiều sâu khôn ḍ và vô hạn” của các môn đồ phái Ngộ Đạo, “tượng trưng cho ư tưởng trừu tượng về toàn thể thiên nhiên; Vũ trụ luôn luôn sinh sản” (Nữ thần Isis lộ diện II, 171, Thuật ngữ TTH, 77). Bà c̣n là “Đức Mẹ Đồng Trinh” và “Chiều Sâu Nguyên Thủy”, “Hỗn Mang”, và “Cha Mẹ” trong Giáo Lư Bí Truyền. Cha Mẹ này có tính chất tiềm tàng. Chỉ ở giai đoạn tiếp sau sự biểu lộ vũ trụ (giai đoạn Thượng Đế Ngôi Ba) th́ các quyền năng sáng tạo yên ngủ trong ḷng bà mới thức dậy, trở nên chủ động, nghĩa là sáng tạo ra vũ trụ ngoại giới (Giáo Lư Bí Truyền I, 44, Giáo Lư Bí Truyền II, 546, Tuyển tập H.P.B., X, 358-397).

Vốn là phân thân tạm bợ và “hữu hạn về mặt hiện tượng” của Moulaprakriti (Giáo Lư Bí Truyền I, 46, Tuyển tập H.P.B. VIII, 144) , Sephira ngoài ra c̣n là “Mẹ biểu lộ một nửa” (Tuyển tập H.P.B., X, 332), Thượng Đế Ngôi Hai mà bà Blavatsky định nghĩa là Cha Mẹ, Tinh Thần Vật Chất và Sự Sống (Giáo Lư Bí Truyền I, 44, Giáo Lư Bí Truyền III, 477, Tuyển tập H.P.B., X, 358). Bà cấu thành “tam giác nguyên thủy” do Thượng Đế Ngôi Một tạo ra. Đó là “tam giác lư tưởng hay trừu tượng vốn là Điểm trong Quả Trứng Thế Giới” (Tuyển tập H.P.B., X, 351). Điểm này (trong kinh Zohar được gọi là Kether hay Sephira) ra khỏi Quả Trứng sau khi tụ sinh để tạo thành Tam Giác đầu tiên cụ thể, nói cách khác là Thượng Đế Ngôi Ba (Tuyển tập H.P.B., X, 351-352).

V́ thế, trong một chú thích kư tên là A B, được bà Blavatsky tán thành (Giáo Lư Bí Truyền III, 529, chú thích 2) và được chèn vào trong bộ Giáo Lư Bí Truyền, Annie Besant có tuyên bố rằng Thượng Đế Ngôi Hai là Tam Giác nguyên thủy được “phản ánh thành Tam Giác nơi Thượng Đế Ngôi Ba” (Giáo Lư Bí Truyền III, 532). Tam Giác thứ nh́ này “có thể nói là Tam Giác hữu h́nh”, xuất hiện và biến mất cùng với Càn Khôn, “Tam Giác Pythagore là phân thân từ Chơn thần bao giờ cũng ẩn tàng hoặc từ Điểm Trung Tâm” (Giáo Lư Bí Truyền III, 180), “Thượng Đế ba ngôi” trước khi trở thành Brahmā tứ diện (Giáo Lư Bí Truyền I, 368) nghĩa là Adam Kadmon, Thượng Đế Ngôi Ba, trước khi biểu lộ thành Mahat, Trí Tuệ Vũ Trụ (Giáo Lư Bí Truyền I, 135, 82, 236) vốn không phải là Trí Tuệ của chỉ một thực thể, mà là toàn bộ vô số tâm thức (Giáo Lư Bí Truyền I, 634, chú thích 1). Trong “Bản Thể Thiêng Liêng Không Ai Biết”, mầm mống của Thượng Đế ba ngôi này là một “bản thể ba ngôi”, một “bộ ba tiền sinh hoặc tiền vũ trụ” vốn là một “sự trừu tượng siêu h́nh thuần túy” (Giáo Lư Bí Truyền II, 180). Mầm mống này là Đấng Không Thể Biết Được, Một thể Ba ngôi không biểu lộ (Giáo Lư Bí Truyền III, 445) bao gồm Ngôi Lời không giới tính (không sáng tạo hoặc c̣n chưa chủ động), Minh Triết Tiềm Tàng và sự Tạo Ư Vũ Trụ. Ba yếu tố này “tồn tại dưới dạng khả năng chứ không dưới dạng tác động và thực sự chỉ là một” (Giáo Lư Bí Truyền III, 444 - 445, sơ đồ 1). Chúng bắt đầu biểu lộ ở giai đoạn Thượng Đế Ngôi Hai nghĩa là Sephira vốn quả thật là một bộ ba. Thật vậy, nó bao hàm ở trạng thái tiềm tàng chẳng phải là chín Sephiroth khác mà theo nội môn bí giáo chỉ có hai Sephiroth là Chokmah và Binah (Giáo Lư Bí Truyền I, 379). V́ vậy bà Blavatsky gọi nó là “Sephira gồm có ba phần” (Giáo Lư Bí Truyền I, 379, Giáo Lư Bí Truyền III, 183, chú thích 1).

Điều này tương ứng với aleph, chữ đầu tiên trong bộ chữ cái tiếng Hébreux và là một trong ba chữ cái của bộ mẫu tự này. V́ có h́nh thái gồm ba phần cho nên aleph là một bộ ba cũng như Sephira. Đó là v́ chữ cái này biểu diễn ba nguyên tố nguyên thủy trong kinh Kabale: Gió, Nước và Lửa (Giáo Lư Bí Truyền I, 369). Chúng đều cấu thành “toàn bộ cung hoàng đạo mang hành gió” (Enel, Tam kịch bộ Bánh Xe trên Trời, trang 199).

“Những đợt sóng thuần túy của Bản thể linh thiêng” mà ta gọi là Sự Sống (Giáo Lư Bí Truyền III, 445) sinh ra từ “Một Thể Ba Ngôi” không biểu lộ tức Thượng Đế Ngôi Một qua trung gian của Thượng Đế biểu lộ. Từ khi Tam Giác nguyên thủy được phản ảnh vào trong Thiên Nhân (Pouroucha) th́ nó bèn “biến mất, trở lại trong Im Lặng và Tăm Tối” v́ nó là “đấng thiêng liêng cao cả nhưng không thể biết được, vốn thâm nhập toàn thể vũ trụ một cách vô h́nh” (Giáo Lư Bí Truyền III, 444, Nữ thần Isis lộ diện I, 291).

Sự Sống quả thật bắt nguồn từ Parabrahman, nhưng trung tâm đầu tiên phân phối năng lượng vũ trụ này chính là Thượng Đế Ngôi Một, “Mặt Trời Trung Ương” của các môn đồ kinh Kabale, “Điểm, Mầm Mống bao giờ cũng ẩn tàng” (Giáo Lư Bí Truyền I, 367). “Mặt Trời Trung Ương, Tinh Thần và Ẩn Tàng” này là “Đấng thiêng liêng tối cao” (Nữ thần Isis lộ diện I, 132, Giáo Lư Bí Truyền I, 363). Đó là “Mặt Trời Vĩnh Hằng Abrasax của các môn đồ phái Ngộ Đạo (Giáo Lư Bí Truyền II, 224) mà họ cũng gọi là Iao, “Hồng Danh Khôn Tả của Đấng Thiêng Liêng Không Ai Biết” mà họ coi là một “đơn vị bao hàm trong Bythos, Chiều Sâu” (Nữ thần Isis lộ diện II, 295). Đó c̣n là Thần tối cao của Platon, “Nguyên Nhân Lư Tưởng và Trừu Tượng” của vũ trụ, “chất liệu tối hậu cung cấp hữu thể và bản thể của vạn vật” (Giáo Lư Bí Truyền II, 585).

Mặt Trời Trung Ương này là mặt trời đầu tiên trong số Bảy Mặt Trời của kinh Kabale, mà mặt trời thứ tư là “Chơn Linh của Mặt Trời hữu h́nh của chúng ta”. Cùng với mặt trời thứ hai trong các Mặt Trời này nó bức xạ cho “con người Atmā của y”, nghĩa là nguyên khí thứ bảy của y (Giáo Lư Bí Truyền II, 251, Giáo Lư Bí Truyền I, 245, Giáo Lư Bí Truyền III, 445). Nó là “Đấng Ban Cấp Sự Sống và Ánh Sáng của các Cơi Giới Tinh Thần và Tâm Linh” trong khi Mặt Trời hữu h́nh chỉ là “Đấng Vĩ Đại Ban Cấp Sự Sống cho Thế Giới Hồng Trần” (Giáo Lư Bí Truyền I, 521). Tuy nhiên, Mặt Trời Trung Ương không phải là một Thực Thể hoặc một tập hợp các Thực Thể. Đó “chỉ là trung tâm Điện Lực của Sự Sống Vũ Trụ, kho chứa tích trữ Bức Xạ thiêng liêng này . . . Mặc dù ở trong t́nh trạng Laya, tức trung tính, song le, nó là Trung Tâm độc nhất của Sự Sống” (Giáo Lư Bí Truyền II, 250, chú thích).

Sephira là Bản Chất “đàn hồi, vô h́nh, vĩnh hằng, hiện diện khắp nơi và vô thức”, Chuyển Động “vĩnh hằng v́ tinh thần là vĩnh hằng”, năng lượng vũ trụ và bất hoại, nghĩa là tiềm tàng khi nó không tác dụng trong vật chất bởi v́ “ta không thể quan niệm được bất kỳ chuyển động nào mà không liên kết với vật chất” (Thư của Chơn sư, 60, 136, 139). Ta phải coi nó như không phải một nguyên tố phức hợp mà thành phần bao gồm tinh thần và vật chất, mà là một nguyên tố đơn sao cho không một từ nào trong ngôn ngữ của chúng ta có thể biểu thị được nó một cách thích hợp (Thư của Chơn sư, 60). Nó là Sự Sống hay Thần Lực vốn “không được biến đổi thành một điều ǵ khác” mà vào “mỗi kỳ phát triển một trung tâm hoạt động mới trong ḷng chính nó th́ nó bèn nhân lên vô hạn mà chẳng bao giờ mất đi một mảy may bản chất của ḿnh về lượng cũng như về phẩm”. Bởi v́ nó chính là “sự sống vô hạn”, và là cội nguồn của mọi sự sống hữu h́nh và vô h́nh, một bản chất không thể cạn kiệt, luôn luôn hiện diện (nói tóm lại là Chơn Như . . .) trong khi áp dụng vào vũ trụ, và nó là Fohat khi biểu lộ trong thế giới hiện tượng (Thư của Chơn sư, 88, 89).

Shekinah (tức Daiviprakriti) là trạng thái tiềm tàng của nó, tức “dạng nguyên thủy ẩn vi” (Giáo Lư Bí Truyền I, 83, chú thích 6). Do đó, Sephira là một “Mănh Lực thứ ba”, thứ tự nối tiếp “đầu tiên là Ain Soph rồi tới Shekinah . . . sau đó là Sephira (Giáo Lư Bí Truyền III, 183,184). Đó cũng là vị trí thứ ba mà nó chiếm giữ trong Hoàng đạo vốn biểu diễn các giai đoạn khác nhau của sự biểu lộ vũ trụ. Thật vậy, Subba Row gán cho nó cung Phong, Song Nam (Tài liệu bí truyền, 8).

“Bản chất thần bí” này, “vật chất nguyên thủy thuần túy” là “Chất liệu không biến dị hoặc khía cạnh tuần hoàn của Moulaprakriti” (Giáo Lư Bí Truyền I, 92, Tuyển tập H.P.B., X, 397). Đó là một “chất vũ trụ đàn hồi, rải rác trong không gian”, một “bức xạ nguội lạnh, không màu, không dạng, không vị, không tất cả mọi phẩm tính và mọi khía cạnh” (Giáo Lư Bí Truyền I, 110, 125, Nữ thần Isis lộ diện I, 341).

Sephira là giai đoạn xuất hiện của chất liệu đầu tiên, “đám sương mù lửa chói sáng tức vật chất tinh anh được dùng để tạo ra Vũ trụ và cấu thành Hiranyagarbha tức Quả Trứng Vàng mà thế giới phát xuất từ đó theo người Ấn Độ (Thuật ngữ TTH, 142). Việc chuyển từ trừu tượng sang cụ thể được mô tả trong Thiền Thư (Stances de Dzyan) vốn tạo thành nền tảng của Giáo Lư Bí Truyền, là một sự bành trướng từ bên trong ra bên ngoài: “Mẹ phồng lên, bành trướng từ bên trong ra bên ngoài như nụ bông sen” (Giáo Lư Bí Truyền I, 91). Nó liên quan tới một sự tăng trưởng kích thước mà ta không thể quan niệm được trong vô cực. Thật ra đó là một sự thay đổi t́nh trạng hoặc t́nh huống, việc “phát triển từ một nội giới vô hạn thành một t́nh trạng ngoại giới cũng vô hạn” (Giáo Lư Bí Truyền I, 92).

Sự “xuất lộ cái Chơn thần từ trạng thái hấp thụ vào trong Nhất Như (Giáo Lư Bí Truyền I, 49) khi có sự “bức xạ nguyên thủy hoặc khi Thượng Đế Ngôi Hai phân thân (Tuyển tập H.P.B., X, 358), vốn được tạo ra trong “bản chất nguyên sơ” này. Khi thức dậy cái Chơn thần này trở thành Adam Kadmon một cách tập thể. Đó là v́ “Sephira và Adam là cùng một ánh sáng, chỉ có điều là tiềm tàng và hoạt động, vô h́nh và hữu h́nh” (Nữ thần Isis lộ diện II, 268).

THIÊN NHÂN

đầu sách cuối sách mục lục   mục 1 2  3  4  5  6  7 8  9 10 11 12 13

Thiên Nhân, Adam Kadmon, Đấng Thái Cổ trong kinh Kabale, là “Rồng Minh Triết” trong Thiền Thư, xuất lộ từ “các độ sâu của Nước Lớn U Minh”. Nó cũng là Avalokiteshvara, Thượng Đế của các Phật tử Đại thừa Bắc tông. Được gọi là Quán Thế Âm của Trung Hoa, nó là “Ngôi Con đồng nhất với Ngôi Cha”, giống như ngôi hai trong ba ngôi Ki tô giáo v́ nó là Adonaï, Adam được đề cập trước hết trong Sáng Thế Kư (chương 1) (Nữ thần Isis lộ diện II, 223). Cha nó, nhân vật đầu tiên trong bộ ba này là Thượng Đế Ngôi Một, Thần Bí Nhiệm của các môn đồ phái Ngộ Đạo, “chẳng bao giờ được khải huyền”, “Khuôn Mặt Lớn” tức Thái Dung (Arich Anpin) trong kinh Kabale. C̣n về phần Thiên Nhân đó là Thiếu Dung (Seir Anpin) khuôn mặt nhỏ ở bên ngoài “h́nh ảnh của Cha”, Christum (Nữ thần Isis lộ diện II, 223) được Thần Khí lớn xức “Dầu Thánh” (Giáo Lư Bí Truyền II, 26), con trai của “Cha ẩn tàng ngự trong ánh sáng và vinh quang” và nó “hội tụ nơi bản thân mọi Sephiroth” (Nữ thần Isis lộ diện II, 230, 234, chú thích 1, Thuật ngữ TTH, 294). Tuy nhiên Adam Kadmon, đôi khi cũng gọi là Thái Dung (Arich Anpin), Thiếu Dung (Seir Anpin) bấy giờ là Ngôi Con, nghĩa là vũ trụ ngoại giới c̣n được gọi là Tứ Linh Tự tương ứng với bảy Sephiroth hạ đẳng và bốn cơi vũ trụ cuối cùng (Thuật ngữ TTH, 195, Tuyển tập H.P.B., VIII, 145).

Thiên Nhân (được biểu diễn là Sephira, là cung Hoàng đạo Song Nam (Tài liệu bí truyền 8, 18) được người Ấn Độ gọi là Pouroucha và Brahmā) là nguyên khí vũ trụ thứ bảy. Nó là thư hùng lưỡng tính v́ nơi nó có “Eva tức Eve tâm linh c̣n chưa sinh ra và bà ở trong Adam Nguyên thủy, là một phần của ông” (Nữ thần Isis lộ diện II, 223). Nó đồng nhất với Ennoia, Con Người Nguyên Sơ của các tín đồ phái Ngộ Đạo, đồng nhất với Ánh Sáng (tức Trí Tuệ) phát xuất từ Chơn thần của Pythagore, nói cách khác, là từ Thượng Đế Ngôi Một (Nữ thần Isis lộ diện II, 169).

Cũng như Brahmā trong kinh Pouranas của Ấn Độ, Adam Kadmon hội tụ nơi bản thân “toàn bộ những thực thể”, được kêu gọi để biểu lộ trong vũ trụ đang tụ sinh (Giáo Lư Bí Truyền III, 179) các thực thể này, “Elohim Chiim” (Elohim Sinh Hoạt), “Cha Mẹ cao cấp” trong kinh Kabale mà Cha Mẹ do Chokmah và Binah chỉ là một phản ánh. Các Elohim Sinh Hoạt này, chư “Ah hi” trong Thiền Thư là “bảy cung, tức bảy Thượng Đế nguyên thủy, phân thân từ Thượng Đế đầu tiên” (Tuyển tập H.P.B., X, 317). Các ngài là những “Nhà Xây Dựng, các Con quang minh của buổi b́nh minh Chu kỳ thành trụ”, “bảy cung nguyên thủy đến lượt chúng phân thân ra thành mọi sinh linh khác, quang minh hay vô minh , cho dù đó là Tổng Thiên thần, Ma Quỉ, con người hay khỉ vượn. Một số sinh linh đă là con người và những sinh linh khác chỉ mới thành người vào lúc này”. Vậy là trong bảy cung này có các thực thể ở đủ mọi tŕnh độ, từ những vị Dhyan Chohan cao cấp nhất cho tới những thực thể hèn mọn nhất, nhưng ta không thể nói chúng thuộc về cung nào trong các cung này “v́ chúng c̣n chưa biến dị và biệt lập ngă tính” (Tuyển tập H.P.B., X, 347, 348).

Ở giai đoạn sơ khởi này trong sự biểu lộ vũ trụ chư Ah hi là “các Lực chứ không phải những Con Người” và các ngài chỉ hữu thức “trong mức độ mà các ngài phát động trong tâm thức vũ trụ”. Các ngài phải “băng qua mọi cơi, bắt đầu biểu lộ trên cơi thứ ba”. Trên cơi cao nhất, các ngài không có h́nh tướng. “Trên cơi thứ nh́, các ngài bắt đầu tiếp cận với h́nh tướng tức Roupa. Trên cơi thứ ba, các ngài trở thành các Manasapoutras. . . Ở mỗi cơi mà các ngài đạt tới th́ các ngài được gọi bằng những tên khác nhau”. V́ “chất liệu đồng chất nguyên thủy của các ngài đă bị liên tục biến dị”. Cho nên cuối cùng các ngài trở thành có h́nh tướng và bấy giờ được gọi là “Roupa”. Hiện nay các ngài “không c̣n tồn tại nữa”, từ lâu rồi các ngài đă trở thành các Chơn ngă Hành tinh, Chơn ngă Thái dương, Chơn ngă Thái âm và cuối cùng là các Chơn ngă lâm phàm” (Tuyển tập H.P.B., X. 321). Chỉ khi nào các ngài trở thành các Manasapoutras (Con của Trí Tuệ) trên cơi vũ trụ thứ ba th́ các ngài mới có thể được gọi là những “Nhà Tư Tưởng”, v́ chỉ bấy giờ th́ tâm thức các ngài mới được biệt lập ngă tính (Tuyển tập H.P.B., X, 322).

Trong khoa biểu tượng của Thiền Thư, vật chất đồng chất (“đám sương mù lửa”) của cơi vũ trụ thứ nhất được gọi là Quả Trứng Thế Giới. Nó chứa đựng “Mầm Mống” mà tia xạ ra từ Thượng Đế Ngôi Một rung động trong đó. Sau khi đă được thụ thai và tụ sinh như vậy trong Quả Trứng, “Mầm Mống” ra khỏi Quả Trứng trở thành toàn bộ những quyền năng sáng tạo vũ trụ. “Mầm Mống” này có ở khắp nơi. Thật vậy, nó là “tất cả các mầm mống, nghĩa là bản chất chưa biểu lộ, hoặc là mọi quyền năng sáng tạo sắp được xạ ra mà người Ấn Độ gọi là Brahmā” (Tuyển tập H.P.B., X, 353), nói cách khác là Thiên Nhân, bà Blavatsky cũng gọi nó là “Thần khí Thượng Đế” và “Thượng Đế Ngôi Ba”, sau đó nó biểu lộ trên các cơi vũ trụ thứ hai và thứ ba.

Các mầm mống này là những Nguyên tử của “các Điểm đạo đồ thời xưa mà mọi kẻ phàm phu thời xưa theo sát”, nghĩa là “những Đơn vị thiêng liêng nguyên thủy bất hoại và tạo thành tinh hoa của Chất liệu (Tuyển tập H.P.B., X, 353). Năng lượng của chúng được khơi dậy do tác dụng xúc tác của cung mà Thượng Đế Ngôi Hai xạ ra. “Ngọn Lửa vô h́nh vốn chẳng bao giờ cháy, tuy nhiên lại thiêu rụi tất cả những ǵ tiếp xúc với nó, ban cấp sự sống và sự sinh sôi nảy nở cho vạn vật” (Giáo Lư Bí Truyền I, 386).

Ouroboros, con rắn cắn đuôi ḿnh (có trong biểu hiệu của Hội Thông Thiên Học) biểu diễn người thư hùng lưỡng tính trên trời vốn được tạo ra trước tiên trong một chu kỳ thành trụ (manvantara), đă tỉnh dậy với sự sống hữu thức. Đó là con rắn lớn Nag (chính xác hơn là Naga) “trong việc cực dương không ngừng theo đuổi cực âm, đă đút cái đuôi của ḿnh vào trong miệng”, dùng “cái đầu chủ động ngoạm lấy cái đuôi thụ động, và phân thân của cái đuôi này làm phát sinh ra các thế giới, các thực thể và các sự vật” (Thư của Chơn sư, 71,73). Khi con rắn thức dậy th́ nó phà ra một “luồng hơi thở mạnh, luồng hơi này đi khắp thân thể nó tạo ra trong đó một sự điện giật (Thư của Chơn sư, 73).

Đuôi con rắn Ouroboros là chất liệu nguyên thủy và đồng chất (“hỗn mang”) mà Sáng Thế Kư gọi là “Mặt Nước”, sản sinh ra “Thần khí của Thượng Đế”, (Thiên Nhân tức Thượng Đế Ngôi Ba) rồi sau đó được thấm nhuần bởi Thần khí của Thượng Đế, (vừa là Con vừa là Chồng của ḿnh) (Nữ thần Isis lộ diện I, 133). Bà Blavatsky cũng gọi nó là “Nước Nóng Bỏng của Không Gian”, Aether “trong khía cạnh cao nhất là Akāsha, Cha Mẹ của bảy Đấng nguyên thủy và của Ngôi Con tức Ngôi Lời (Giáo Lư Bí Truyền II, 418, chú thích 4).

Thần khí của Thượng Đế là thần Kneph của Ai Cập được biểu diễn thành một con rắn “quấn quanh một cái b́nh đầy nước, đầu nó di chuyển trên mặt nước và nó phà hơi thở ra thấm nhuần nước” (Nữ thần Isis lộ diện I, 133). Vốn là Ngôi Lời biểu lộ, nó có thể tác động và do đó chuyển động, điều mà Đấng thiêng liêng, trái lại không làm được; đối với chúng ta Đấng thiêng liêng này là U minh v́ bản thân chúng ta không biểu diễn ngài được. V́ thế trong “Sáng Thế Kư có tuyên bố rằng, Bóng tối (U minh) ở trên mặt vực sâu”, trong khi “Thần khí Thượng Đế di chuyển trên mặt nước. Thần khí Thượng Đế là thần Nārāyana của Ấn Độ (nghĩa đen là Đấng di chuyển trên mặt nước): “Thế rồi vào lúc khởi đầu của buổi b́nh minh, Thần khí Thượng Đế (sau khi Thượng Đế Ngôi Một và Thượng Đế Ngôi Hai đă được xạ ra), Thượng Đế Ngôi Ba tức Nārāyana bắt đầu chuyển động trên mặt Nước Lớn của Vực Sâu (Tuyển tập H.P.B., X, 379).

BẢY NGUYÊN TỐ

đầu sách cuối sách mục lục   mục 1 2  3  4  5  6  7 8  9 10 11 12 13

Trong thiên nhiên, tất cả đều bắt nguồn từ vật chất nguyên thủy bị biến đổi bởi “sự ấp ủ” của Thần khí Thượng Đế. Nó là nguyên tố duy nhất phát sinh ra sáu nguyên tố vũ trụ khác vốn chỉ là “những biến thái và những khía cạnh của nguyên tố Duy nhất và Độc nhất” (Giáo Lư Bí Truyền I, 40): “Người ta bảo rằng chất liệu nguyên thủy này hàm chứa tinh hoa của tất cả những ǵ làm ra con người; nó chẳng những có các yếu tố của bản thể vật lư con người mà c̣n là “nguyên sinh khí” nữa, trong một trạng thái tiềm tàng, sẵn sàng được khơi dậy. Nó thu được nguyên sinh khí do việc Thần khí Thượng Đế “ấp ủ” trên mặt nước tức hỗn mang; thật vậy, chất liệu này chính là hỗn mang. Nhờ có nó mà Paracelse khẳng định ḿnh có thể làm ra những “h́nh nhân”, và chính v́ thế mà Thalès triết gia vĩ đại về thiên nhiên, xác nhận rằng nước là nguyên khí của vạn vật trong thiên nhiên (Nữ thần Isis lộ diện I, 133-134).

Nguyên tố duy nhất này là “alkahest” của các nhà Luyện Kim Đan, dung môi vũ trụ, vàng ṛng mà họ cũng gọi là memstruum universale, vạn vật phát sinh từ nó rồi lại trở về nó, nó “có quyền năng lấy ra khỏi cơ thể con người mọi mầm bệnh, cải lăo hoàn đồng và kéo dài tuổi thọ” (Thuật ngữ TTH, 15, 17, Nữ thần Isis lộ diện I, 133). Đó là “tổng thể trong tổng thể”, được tạo thành bởi “bảy cung, sau này trở thành bảy Nguyên khí trong Thiên nhiên”, bảy nguyên khí này là những “Nguyên tố hoặc bản chất nguyên sơ, những biến dị căn bản mà vạn vật được xây dựng trên đó . . . bảy khía cạnh cơ bản của Thực tại Vũ trụ Duy nhất trong Càn khôn và trong con người” (Thuật ngữ TTH, 262).

Theo thứ tự tính vật chất tăng dần th́ bảy nguyên tố vũ trụ là (Thư của Chơn sư, 90): Akāsha (đôi khi được gọi là Aether), Thủy (Linh hồn Thế giới hoặc chính xác hơn là phần cao của nó), Dĩ thái (thường được viết là Aether), Lửa, Gió, Nước (phần thấp của Linh hồn Thế giới) và Đất. Ba nguyên tố đầu tiên tương ứng với ba cơi cao, “vô sắc giới” (aroupa) của vũ trụ, bốn nguyên tố cuối cùng đôi khi được gọi là bốn phương chính (Giáo Lư Bí Truyền I, 359, 501) tương ứng với bốn cơi thấp, “sắc giới” (roupa).

Mỗi một trong những nguyên tố này gồm có bảy phần, v́ nó chẳng những tồn tại trên cơi vũ trụ tương ứng đặc biệt với nó mà c̣n tồn tại trên sáu cơi khác. Chẳng hạn như nguyên tố thứ tư, Lửa, “là một hợp thể gồm bảy phần mà phần cao nhất là tinh thần thuần túy. Theo như ta thấy trên quả địa cầu th́ nó ở trong trạng thái thô trược nhất, vật chất nhất” (Thư của Chơn sư, 90). Vậy là cái nguyên khí vũ trụ có mặt ở khắp nơi (Giáo Lư Bí Truyền III, 555). Chính điều này giải thích việc khẳng định rằng nguyên tố thứ năm là Dĩ thái “sẽ trở nên trông thấy được trong Không khí vào cuối Cuộc Tuần Hoàn Thứ Tư để rồi ngự trị tối cao so với các nguyên tố khác trong suốt Cuộc Tuần Hoàn Thứ Năm” (Giáo Lư Bí Truyền I, 40) và Dĩ thái bắt đầu với “giống dân chính thứ năm sẽ chỉ phát triển trọn vẹn vào lúc khởi đầu cuộc tuần hoàn thứ năm” (Tuyển tập H.P.B., X, 384). Trong khi là nguyên tố tương ứng với cơi thứ ba của vũ trụ th́ Dĩ thái sẽ biểu lộ trong cơi hồng trần của ta vào một thời kỳ c̣n xa xôi hơn nữa. Cũng giống như hiện nay, nguyên tố của cơi thứ tư xuất hiện trên trái đất dưới dạng Lửa. Bấy giờ trong thế giới của chúng ta, Lửa không c̣n là nguyên tố đứng đầu nữa. Đó là v́ nó chỉ đứng đầu hiện nay “trong vũ trụ hữu h́nh” (Tuyển tập H.P.B., X, 376). Mặt khác, bản thân Dĩ thái cũng sẽ bị truất ngôi trong hai Cuộc Tuần Hoàn cuối cùng của Dăy Hành Tinh trái đất. Hai nguyên tố đầu tiên hiện nay “vượt quá tầm nhận thức của con người” thật sự sẽ được “cảm thấy trước” trong các Giống dân thứ Sáu và thứ Bảy của Cuốc Tuần Hoàn hiện nay và sẽ “được biết rốt ráo lần lượt trong các Cuộc Tuần Hoàn thứ Sáu và thứ Bảy” (Giáo Lư Bí Truyền I, 40).

Bảy nguyên tố thất bội là các Kabirs, bảy vị Thần linh Vũ trụ Vĩ đại, Đấng thứ bảy và cao hơn hết, thủ lănh của sáu Đấng kia là Ngôi Lời (Adam Kadmon, Thần Phtah của người Ai Cập, cũng như là Ormazd, thủ lănh của sáu Amshaspends) (Giáo Lư Bí Truyền II, 382, chú thích 2). Việc chúng chia ra thành 49 Lửa Thiêng khiến cho chúng “tất cả đều là các trạng thái của Kundalini” (Giáo Lư Bí Truyền II, 378, Giáo Lư Bí Truyền III, 544). Thủ lănh của các Kabirs (Ngôi Lời) đồng nhất với Abhimānim (tức Agni) của người Ấn Độ, “con trưởng của Brahmā”, “nguyên tố đầu tiên tức Lửa đầu tiên tạo ra trong vũ trụ”. Abhimānim thoạt tiên có ba Con Trai: Pāvaka (Lửa Điện), Pavamāna (Lửa do Ma Sát) và Shuchi (Lửa Mặt Trời) (Giáo Lư Bí Truyền I, 567, Giáo Lư Bí Truyền II, 258). Trước khi sinh ra 49 Lửa Thiêng, th́ Agni bèn trở thành ba rồi thành bảy (Giáo Lư Bí Truyền III, 544) bởi v́ Subba Row có tuyên bố rằng mỗi khi người ta đề cập tới bảy thực thể trong “khoa huyền bí học cổ truyền của Ấn Độ, th́ người ta phải giả sử rằng “bảy thực thể này bước vào tồn tại qua trung gian của ba thực thể sơ cấp và ba thực thể này tiến hóa ra từ một thực thể duy nhất, cũng như “bảy tia màu sắc trong ánh nắng mặt trời phát xuất từ ba tia sơ cấp có màu sắc (Tài liệu bí truyền, 288).

Abhimānim, tức Agni (Hỏa) không phải là Nguyên tố thứ tư mà là Lửa Tối Cao, Tinh Thần “vượt quá Thiên nhiên Biểu lộ” (Giáo Lư Bí Truyền II, 120), “Đấng Thiêng liêng hiện diện nội giới trong toàn vũ trụ” (Giáo Lư Bí Truyền III, 589). Bảng dưới đây thử tŕnh bày minh họa bảy cơi vũ trụ, bảy Nguyên tố và 49 tế phân của bảy nguyên tố này.

 

CƠI VŨ TRỤ

CÁC NGUYÊN TỐ

Akasha

Thủy

Dĩ thái

Lửa

Gió

Nước

Đất

1

2

 

 

 

 

 

 

 

3

 

 

 

 

 

 

 

4

 

 

 

 

 

 

 

5