trang nhà l trang sách l bản tin l thiền học l tiểu sử l trang thơ l h́nh ảnh l bài vở
NHỮNG CHUYỆN
THẦN QUYỀN VÀ THẦN BÍ TRONG ĐẠO PHẬT
Tác giả
BẠCH LIÊN
TỰ DO TƯ TƯỞNG
TỰ DO TÍN NGƯỠNG
xin vào phần
mục lục
để t́m
chương muốn đọc
xin vào phần
mục lục chi
tiết để biết những tiểu
đoạn trong mỗi chương
cuối sách mục lục chú thich mục lục chi tiết
MỤC LỤC
Vài lỜi
nói đẦu
CHƯƠNG DẨN NHẬP
PHẦN THỨ NHỨT
CHƯƠNG
1
CHƯƠNG
2
CHƯƠNG 1 CHƯƠNG 2 CHƯƠNG 3 CHƯƠNG 4 CHƯƠNG 5 CHƯƠNG 6
Mục
Lục Chi
Tiết
Vài Lời Nói Đầu
Chương Dẫn Nhập
- Đạo Phật cũng như các tôn giáo khác chứa
toàn là những chuyện Thần quyền và Thần bí từ đời sống của Đức Phật Gô ta ma cho
tới giáo lư.
- Vỗ tay sấm nổ - Con mắt thần.
PHẦN THỨ NHỨT
CHƯƠNG THỨ NHỨT
A – Công nhận Thần quyền :
1. Chuyện thứ nhứt : Thiên thần mở cửa.
2. Chuyện thứ nh́ : Đất rung chuyển.
3. Chuyện thứ ba : Mưa hoa.
4. Chuyện thứ tư : Thiên Đế Anh Tra (Indra) chứng lời nguyện và ban ân huệ cho Thái tử Vicvantara.
5. Chuyện thứ năm : Cinca độn bụng vu cáo Phật, Thiên Đế Anh Tra giải nguy.
6. Chuyện thứ sáu : Phật biết rơ Phạn Vương Brahma như một người đă vào cơi của Phạn Vương ở và sanh nơi đó.
7. Chuyện thứ bảy : Phật mặc nhận Phạn Vương là Đấng Tạo Hóa.
CHƯƠNG THỨ NH̀
B - Những chuyện Thần bí :
1. Chuyện thứ nhứt : Phật bay qua sông Hằng.
2. Chuyện thứ nh́ : Phật cứu Công chúa Viroupa.
3. Chuyện thứ ba : Phật sai Ananda đi cứu Kala bị chặt tay chơn – Xiên ĺnh.
4. Chuyện thứ tư : Phật đấu phép với các đạo sĩ.
5. Chuyện thứ năm : Phật đập nát cái bát bằng bạch đàn.
6. Chuyện thứ sáu : Chullapanthaka hóa phép phân thân.
7. Chuyện thứ bảy : Xá Lợi Phất dùng thần nhăn thấy những sanh vật trong nước.
- Những phép thần thông có thật hay không ?
- Những chuyện Thần bí ở thời đại cận kim và hiện đại.
a/ Cho chôn sống dưới đất.
b/ Chuyện một vị đệ tử của Phật Ca Diếp Kasyapa bay bổng lên trời.
c/ Đi hỏa than.
PHẦN THỨ NH̀
CHƯƠNG THỨ NHỨT
Thuyết Luân hồi Nhân quả lại càng vô cùng huyền bí.
a/ Trước nhứt là linh hồn.
b/ Sau khi thác rồi con người ra sao ?
c/ Sự đi đầu thai. Thử bàn về 6 nẻo Luân hồi. Hồn người nhập vô ḿnh thú vật.
d/ Vấn đề Nghiệp quả.
- Bàn qua Túc Sanh Truyện.
- Giai đoạn thứ nhứt.
- Giai đoạn thứ nh́.
- Giai đoạn thứ ba.
- Những nghi vấn : Phật có dạy Linh hồn đi đầu thai từ loài nầy qua loài kia không ?
- Thử bàn về thuyết Ngũ Uẩn.
- Chúng tôi không tin thuyết Ngũ Uẩn như thế đó.
- Theo thuyết Ngũ Uẩn đạo Phật không giải thoát cho ai cả. Nếu quả thật thuyết Ngũ Uẩn là đúng th́ những vị Phật mấy đời trước và Đức Thích Ca không c̣n nữa và Niết Bàn là con số không.
- Những đoạn kinh Phật phản đối thuyết Ngũ Uẩn.
1. Lời thí dụ về cụm rừng Kỳ Viên
2. Những người tu tŕ tấm ḷng trong sạch th́ biết được mấy kiếp trước của ḿnh.
3. Một đoạn kinh Samyutta Nikaya nói về Thức.
4. Chuyện Bút Ga La (Pudgala) một người mang gánh nặng.
5. Pháp cú – câu 380.
- Chuyện vua Milinda và Đại Đức Nagaséna hay là thuyết Vô Ngă.
- Ngài là Tôi.
- Thuyết Ngũ Uẩn đối với ba thể : Thân, Vía, Trí.
CHƯƠNG THỨ NH̀
- Giáo Pháp của Đức Phật trải qua ba giai đoạn
- Giai đoạn thứ nhứt : Đức Phật c̣n tại thế.
- Giai đoạn thứ nh́ : từ lúc Phật nhập Niết Bàn cho tới Phật giáo Hội nghị lần thứ ba.
- Phật giáo Hội nghị lần thứ nhứt.
- Phật giáo Hội nghị lần thứ nh́.
- Phật giáo Hội nghị lần thứ ba.
- Giai đoạn thứ ba : Công đức vua A Dục và sự bành trướng Đạo Phật.
- Phật giáo Hội nghị lần thứ tư, thứ năm.
- Phật ngừa trước.
- Đạo Phật truyền bá qua Tích Lan, Trung Hoa, Cao ly, Nhật Bổn, Việt Nam, Đài Loan, Miến Điện, Cam Bốt, Thái Lan v. v. . .
- Quan niệm triết học của Phật giáo.
- Đặc sắc của Phật giáo – Kalama Sutta.
- Phật ăn chay hay ăn mặn.
- Độ Bổ lạp nhơn.
- Phật độ thợ săn.
- Chúng tôi không bao giờ tin rằng tại Đức Phật ăn thịt heo nên Ngài bỏ xác. Nghĩa bóng của câu chuyện Phật ăn thịt heo nên bỏ ḿnh.
- Ba nguyên nhân làm cho Phật giáo mau tàn tạ ở Ấn Độ.
CHƯƠNG THỨ BA
- Một vấn đề nan giải. Ai làm chứng Đức Thích Ca thành Phật và Phật không phải chỉ có nghĩa là giác mà thôi. Huyền bí học hay là Khoa H́nh nhi thượng học của Phật giáo.
- 16.000 năm trước, các Chơn Sư bên Ai Cập đă dạy Vô minh là cội rễ của sự Luân hồi.
- Lời Pimandre dạy Hermès.
- Lời Hermès dạy TAT về Vô minh.
- Lời Hermès nói với kẻ say mê vật dục.
- Sáu phái Triết học của Ấn Độ.
- Những quan niệm chung của hai phái.
1. Phái Vaysheshika : hệ thống những đặc điểm
2. Phái Nyaya : hệ thống của Luận lư học.
3. Phái Mimamsa.
4. Phái Samkhya.
5. Phái Yoga của Patanjali.
6. Phái Védanta.
Tại sao sáu vị giáo chủ của sáu giáo phái không dám xưng ḿnh là Phật ?
CHƯƠNG THỨ TƯ
- Huyền bí học là ǵ ? Ai đem Huyền bí học ra dạy lần đầu tiên trên các dăy Hành tinh của Thái dương hệ. Những Thái dương hệ trên không gian. Sự sanh hóa Thái dương hệ của chúng ta. Cội rễ con người và mục đích cuộc đời.
- Những di tích H́nh nhi thượng học trong Phật giáo.
1. Những phép thần thông.
2. Chuyện những lá cây Huê Mộc.
- Phật học cái chi ?
- Phật học với ai ?
- Nên phá tan thành kiến Phật cao hơn hết.
- Tại sao Phật không đem những điều Phật đă học dạy lại đệ tử.
- Tại sao Phật chỉ dạy các đệ tử Tứ Diệu Đề và Bát Chánh Đạo.
CHƯƠNG THỨ NĂM
- Mười dây xiềng xích trói buộc con người vào bánh xe Luân hồi.
- Đường Đạo và Mục đích của nó.
- Thời kỳ chuẩn bị hay là Thời kỳ dọn ḿnh cho trong sạch, cũng gọi là con đường Nhập môn.
- Giai đoạn thứ nhứt : Manodvarajjana (mở trí).
- Giai đoạn thứ nh́ : Parikamma (chuẩn bị để hành động).
- Giai đoạn thứ ba : Upacharo (chú ư hay là tánh hạnh gồm 6 đức tánh)
1. Samo – Tư tưởng yên tịnh và trong sạch.
2. Damo - Kiểm soát giác quan và thân thể.
3. Uparati – Khoan dung đại độ.
4. Titiksha - Nhẫn nại.
5. Sharaddha - Đức tin.
- Giai đoạnthứ tư : Anuloma
- Bốn bực đệ tử được Điểmđạo.
- Điểm đạo là ǵ ?
- Điểm đạo ở đâu ? Ai điểm đạo ?
- Điểm đạo lần thứ nhứt phải có những điều kiện nào ?
- Khoảng giữa hai kỳ Điểm đạo.
- Làm sao Chơn Sư biết con người có những đức tánh cần thiết.
- Điểm đạo lần thứ nh́.
- Sao gọi là phàm nhơn mộng ảo.
- Sự hoài nghi hay là mơ hồ.
- Sự tin dị đoan.
- Điểm đạo lần thứ ba.
- Điểm đạo lần thứ tư.
- Điểm đạo lần thứ năm.
- Bảy đường tiến hóa của vị A Sơ Ka (Aseka).
- Quần Tiên Hội và cai trị thế gian.
- Ngôi thứ trong Quần Tiên Hội.
- Nhiệm vụ của mỗi vị.
- Thay đổi ngôi vị.
- Vài lời về tiểu sử của Đức Ngọc Đế hiện kim.
- Đức Độc Giác Phật.
- Đức Phật Đạo Đức.
CHƯƠNG THỨ SÁU
- Những viên ngọc quí vô giá bị vùi lấp 2.500 năm nay
- Những đặc điểm phi thường của Đạo Bát Chánh.
- Áp dụng về đời.
- Áp dụng về đạo.
- So sánh Đạo Bát Chánh với Bốn đức tánh của con đường nhập môn.
- Hai cuộc lễ lớn của Phật giáo : Lễ Huê Sắc (Wesak) và Lễ Chuyển Pháp Luân (Asala).
- Lễ Huê Sắc là ǵ ?
- Vía Phật là ngày hạnh phúc nhứt của nhơn loại.
- Ân huệ của Phật ban là cái chi ?
- Lễ A Sa La hay là Lễ Chuyển Pháp Luân .
- Tại sao Đức Di Lạc giảng bằng tiếng Ba Li (Pali).
- Có bằng cớ nào xác nhận ngày Lễ Huê Sắc Đức Thích Ca hiện ra chăng ?
- Một đoạn văn trong cuốn “Cải cách Ấn Độ giáo” (Réforme Hindoue) của bà Victor Reynaud trương 152 nói về chuyện Đức Phật hiện ra ngày lễ Huê Sắc.
- Chuyện Đức Phật hiện ra có phải là chuyện dị đoan hay không ?
- Những chuyện phi thường trong Thiên Chúa giáo.
- Đức Mẹ hiện ở thành Lourdes
- Lời tiên tri của Đức Mẹ ở Fatima c̣n giữ bí mật.
- Hiện tượng siêu phàm được chứng thật.
Bàn tay Chúa Jésus cử động
- Kết luận.
VÀI LỜI NÓI ĐẦU
Kính thưa chư quí độc giả thân mến.
Những chuyện tích trích trong sử sách Phật mà tôi kể ra sau đây không lạ chi với các hàng Phật tử và các vị đă nghiên cứu Phật giáo. Tôi chỉ giải thích nó dưới một h́nh thức khác hơn ư nghĩa thông thường mà thôi.
Điều nầy không có chi gọi là lạ, bởi v́ Chơn lư hiện ra nhiều mặt, mỗi người nhận thức một mặt khác nhau tùy theo tŕnh độ tiến hóa của ḿnh.
Chơn lư ở khắp nơi. Trên trời, dưới đất, giữa không trung, trong ḿnh con người, thú vật, cây cỏ, sắt đá đều có Chơn lư ẩn tàng. Nó cũng hiện ra trong văn chương, mỹ thuật, khoa học chớ không phải riêng ǵ Tôn giáo mà thôi.
Bây giờ ta hăy nêu ra câu hỏi nầy. Tại làm sao con người khát khao Chơn lư mà phải đi tầm nó ? Nó đem lại hạnh phúc ǵ cho con người ?
Giải ra th́ dài ḍng lắm. Tôi xin nói tóm tắt rằng : Ta phải t́m Chơn lư để hiểu biết v́ duyên do nào con người sanh ra trên cơi trần nầy ? Thật sự con người có phải là xác thân nầy không ? Con người phải làm những ǵ và phải tránh những ǵ ?
Nếu con người sanh ra, lớn khôn, lo học tập đặng lập thân danh và gia đ́nh, rồi già, kế chết; mà chết rồi th́ hết chuyện th́ cuộc đời không có mục đích ǵ cả.
Bởi con người chưa nhận thấy được mục đích thật của cuộc đời cho nên mới có những việc xô xát nhau, hà hiếp nhau, sát hại nhau, chỉ v́ bă vinh hoa phú quí, miếng ăn, đất ở, chỗ đứng, nơi ngồi, để chung qui cũng nắm hai tay trắng mà xuống mồ. Con người sống trong giấc mộng mà không ngờ chút nào, mà cũng không dè ḿnh c̣n tồn tại đây chẳng những nhờ vật thực mà cũng nhờ Chơn lư nữa.
Chơn lư đă hữu ích như thế th́ ta phải t́m nó ở đâu ? Hiện giờ ta không thể nương theo khoa học v́ khoa học chưa nói tiếng chót.
Ta quay về Tôn giáo th́ ta lại càng thêm thất vọng. Tôn giáo không thể giải thích nổi những sự ta đang thắc mắc đây, không làm cho ta được hài ḷng. Tôn giáo dạy chúng ta phải :
Lánh những việc ác
Làm những điều lành
Lo rửa ḷng cho trong sạch.
Thử hỏi làm mấy việc nầy ích lợi ǵ ?
Người ta sẽ bảo : “Có thế mới hưởng hạnh phước kiếp sau và thác rồi khỏi sa Địa ngục”.
Cứu cánh tôn giáo chỉ có thế thôi ư ?
Phải chăng tôn giáo đă mất chơn truyền rồi nên không hiểu rằng việc tu tâm luyện tánh có một mục đích cao siêu hơn nữa, ấy là giúp cho con người học được khoa Huyền bí học. Khoa nầy dạy lư do sanh hóa một Thái dương hệ và chỉ phương pháp cho con người luyện ḿnh đặng trở nên trọn sáng, trọn lành trong một thời gian ngắn ngủi, trước hạn kỳ của cơ trời đă định sẵn. Trong tôn giáo người ta gọi khoa nầy là “Mật” hay là “H́nh nhi thượng học”.
Thuở xưa hồi mới ra đời, mỗi tôn giáo lớn như Ai Cập giáo, Ấn Độ giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, đều có khoa H́nh nhi thượng học để đào tạo những bậc Thánh nhân, Hiền Triết. Ngày nay khoa H́nh nhi thượng học trong các tôn giáo không c̣n nữa. V́ lư do nào ? Người học đạo đều biết nhưng không tốt chi mà đem nói ra tất cả những sự thật về mấy việc ấy. Luôn luôn chúng ta chỉ nên nhớ câu nầy của Shakespeare :
“Xin lắng nghe cho êm thấm.
Xét đoán cho nhơn từ.
“Écoutez avec douceur
Jugez avec bonté.
Thật ra sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn một ít lâu và các vị đệ tử lớn đều nối gót mà qui vị th́ khoa H́nh nhi thượng học của Phật giáo cũng theo thời gian mà lẫn khuất trong đám sương mù.
Hiện giờ những di tích H́nh nhi thượng học của Phật giáo c̣n thấy trong nhiều cuốn kinh Phật, nhưng nếu không nhờ ánh sáng của Huyền bí học th́ khó mà thật hiểu được nghĩa lư của chúng nó.
Thử hỏi một chuyện nhỏ mọn nầy. Muốn thành Phật phải có những điều kiện nào th́ không một ai trả lời nổi ? – v́ không một người nào biết việc đó. Không biết th́ làm sao tu cho thành Phật bây giờ.
Đạt được quả vị Phật không khác nào việc thi đậu Thạc sĩ ở dưới trần. Muốn tới tŕnh độ nầy th́ phải trải qua nhiều cấp, từ Sơ học, Tiểu học cho đến Trung học và Đại học, phải thi đậu văn bằng Tiểu học, Tú Tài và Cử nhân.
Tin rằng chỉ niệm Lục Tự Di Đà hay là tụng kinh gơ mơ và ngồi thiền vài năm th́ đắc đạo, được về Tây phương Cực lạc, ngự trên ṭa sen th́ không khác việc tin rằng một đứa bé mới biết đọc, biết viết, chưa học qua hết chương tŕnh Tiểu học, nói chi đến Trung học và Đại học mà th́nh ĺnh lại thành một vị Thạc sĩ. Nếu quả vị Phật đạt được như trở bàn tay th́ nó không có giá trị ǵ cả.
Không nói tới luật trời; ở trần thế nầy đây, mỗi người phải ở một ngôi vị xứng đáng với tài và đức của ḿnh. Thiên Địa chí công, không có một sự tư vị nào cả. Chúng ta phải diệt những thành kiến cũ kỹ trước đây và lo dọn ḿnh cho trong sạch như lời Phật dạy đặng bước tới thềm Thánh Điện mà trên ngưỡng cửa có khắc hai chữ thật to “ PHỤNG SỰ ”.
Thí sanh phải qua năm cửa, mỗi cửa đều có những điều kiện nhứt định và khác nhau, nhứt là về các đức tánh. Qua khỏi một cửa nào rồi th́ một bức màn vô minh vén lên, thí sanh mở rộng tâm và trí một lượt và thành một người mới; khác hơn trước. Vào cửa thứ năm rồi, toàn thể Chơn lư ở dăy Địa cầu nầy hiện ra. Con người thành một vị Siêu phàm. Đó là con đường Đạo cũng gọi là Minh Triết thiêng liêng, con đường duy nhứt, trường tồn với thời gian, không bao giờ hư hoại, mà từ ngàn xưa các vị tu hiền đều phải noi theo đặng đi tới bực Chánh đẳng, Chánh giác. 2.500 năm trước, nhiều vị đệ tử của Phật như Ma Ha Ca Diếp, Mục Kiền Liên, Kiều Trần Như, A Nan Đa, U Ba Li, Chullapanthaka v. v. . . đă nối gót các bực tiền bối và nhờ đó mới đắc quả La Hán.
Trong cuốn Những chuyện Thần Quyền và Thần Bí trong Đạo Phật tôi cố gắng thuật lại cho quí bạn nghe, nhứt là những bạn ái mộ Chơn lư và những bạn thanh niên nam nữ, mặc dầu một cách vụng về, những lời châu ngọc của các vị Đại Sư Huynh tôi đă chỉ dạy về con đường Minh Triết thiêng liêng nầy. Cầu xin chúng nó giúp ích quí bạn tu hiền phần nào và được góp công vào công việc chấn hưng Phật Giáo nước nhà.
Lành thay ! Lành thay !
Châu đốc ngày mùng bốn tháng chạp năm Canh Tư
nhằm ngày 20 tháng giêng dương lịch năm 1961 (20-1-1961).
I
Tây phương nghe nói những trông mong,
Bến giác thuyền từ đáy vốn không,
Ai biết Tây phương là cảnh đó ?
Đèn linh một ngọn chiếu trong ḷng.
II
Phật tại ḷng ta chớ có lầm,
Tây phương đâu nữa nhọc công tầm,
Khéo vun cội phúc ǵn tâm ư,
Tám Chánh, Năm Hằng pháp diệu thâm.
III
Tám Đường, Năm Cấm Phật phân rành,
Dưỡng tánh tu tâm khá tập tành,
Đến hội Bàn Đào nên quả vị,
Mau đem thuyền giác độ nhơn sanh.
CHƯƠNG DẪN NHẬP
ĐẠO PHẬT CŨNG NHƯ CÁC TÔN GIÁO KHÁC CHỨA ĐẦY NHỮNG CHUYỆN THẦN QUYỀN VÀ THẦN BÍ TỪ ĐỜI SỐNG CỦA ĐỨC PHẬT GÔ TA MA CHO ĐẾN GIÁO LƯ CỦA NGÀI.
Nhiều bạn thường nói với tôi : Đạo Phật không công nhận Thần quyền tức là không tin có Đức Thượng Đế và trong giáo lư cũng không có chi gọi là Thần bí cả. Luôn luôn tôi vẫn đáp : Tôn giáo là gạch nối giữa con người và Đức Thượng Đế. Nói đến Tôn giáo tức là nói đến chuyện Thần quyền và Thần bí. Chỉ tại người ta không phân biệt thế nào là “Công nhận Thần quyền” và thế nào là “Ỷ lại Thần quyền”. Tất cả những người học Đạo đều công nhận Thần quyền mà không bao giờ ỷ lại Thần quyền. Khi con người hiểu được Bản Tánh Thiêng Liêng của ḿnh và mục đích sự sanh hóa một Thái dương hệ th́ con người mới biết được cứu cánh của các tôn giáo và tại sao có những tôn giáo khác nhau sanh ra trên Địa cầu. Con người cũng sẽ hiểu rằng Thần quyền tức là sự áp dụng Luật Trời và những quyền năng c̣n tiềm tàng trong mính con người, ấy là những Thần quyền vậy.
Tôi xin đem hai thí dụ nầy để chứng minh :
Một là : vỗ tay sấm nổ.
Hai là : con mắt thần.
I
VỖ TAY SẤM NỔ.
Đọc chuyện Tàu, nhứt là truyện Phong Thần và Phong Kiếm Xuân Thu, ta thấy nói Thần Tiên vỗ tay sấm nổ.
Người xưa cho rằng việc đó có thật. Người đời nay lại bảo đừng tin dị đoan như thế. Vậy th́ ai trúng, ai trật ?
C̣n người học Đạo biết rằng : không phải là chuyện hoang đường, nó đúng với Chơn lư.
Tôi xin thử cắt nghĩa ra đây để quí bạn xem xét coi như thế nào.
Phân nửa bên mặt của đàn ông chứa đầy dương điện, c̣n phân nửa bên trái th́ chứa đầy âm điện. Trái lại, đàn bà bên mặt th́ chứa đầy âm điện, c̣n bên trái th́ chứa đầy dương điện. Theo luật vật lư th́ điện theo mấy chỗ nhọn mà ra. Nếu ta biết cách làm cho dương điện và âm điện theo mười đầu ngón tay xẹt ra ngoài tức th́ ta vỗ tay sấm nổ.
Bí quyết thành công là ở tại chỗ biết cách làm cho điện xẹt ra. Không ai chỉ mối th́ vỗ tay lốp bốp chớ không có ǵ lạ.
Mà tại sao trong ḿnh con người lại có điện ? Muốn hiểu tại sao th́ phải phân tách nguyên tử.
Mỗi nguyên tử gồm có hai phần :
Chính giữa là Nhân, chứa dương điện tử (protons) và trung ḥa tử (neutrons).
Ở ngoài th́ những âm điện tử (électrons) xây tṛn, không khác nào những hành tinh xây chung quanh mặt trời.
Ta cũng biết da, thịt, gân, xương con người làm bằng những tế bào hiệp lại, mà mỗi tế bào là sự kết hợp nhiều nguyên tử.
Chung cuộc th́ thân thể con người, thú vật, cây cỏ, sắt đá toàn là những bầu điện lực, những máy biến điện; chỉ tại chúng ta chưa biết dùng nên không thâu được những luồng sóng điện do các đài phát thanh hay là Vũ trụ tuyến phát ra.
Những loài bướm, loài ong đều có cách truyền tin tức cho nhau, do những luồng điện của chúng nó phát ra, những ṿi của chúng giống như cột “giây thép gió” của ḿnh dùng. Loài cá ông cũng có phương pháp cảm thông với nhau vậy.
VỀ VIỆC CON NGƯỜI BIẾT DÙNG SẤM SÉT
TÔI XIN KỂ BA CHUYỆN
1/ - Trong bộ giáo sử của Sozomène ( Histoire ecclésiatique de Sozomène) (L. IX, ch VI) có thuật chuyện vua Alaric tới công phá thành Narnia bị những giáo sĩ Etrusques dùng sấm sét đánh lui. Thành Narnia khỏi bị thất thủ.
2/ - Lucius Pison cũng nói Đệ nhị Quốc Vương La Mă hồi thế kỷ thứ 7 là Numa Pompilius xuất thân từ một tu viện biết dùng sấm sét đặng giết thú rừng. Pline cũng công nhận việc nầy là đúng với sự thật.
3/ - Bà Alexandra David Néel cũng có nói một vị Lạt Ma ở Tây Tạng dùng sấm sét giết một đứa chăn chiên v́ nó phá khuấy ông.
II
CON MẮT THẦN
Người ta nói rằng Thần Thánh biết ḷng dạ con người ra sao. Hồi chưa học Đạo th́ chúng ta lấy làm lạ lắm. Về sau chúng ta biết rằng tư tưởng và ư muốn của con người đều có h́nh dạng.
Thần Thánh có thần nhăn, thiên nhăn nên thấy được ư muốn của con người, điều nầy rất dễ hiểu.
Hiện giờ những vị tu hành đắc Đạo có thần nhăn, thiên nhăn cũng đọc được tư tưởng và ư muốn của con người vậy.
Tôi đem hai thí dụ nầy ra cho quí bạn thấy rằng càng ngày nhơn loại càng tiến hóa th́ khoa Huyền bí học càng được phổ biến và thiên hạ sẽ không c̣n cho câu chuyện Thần quyền và Thần bí là lạ lùng hay dị đoan nữa.
Tôi xin chia Những chuyện Thần quyền và Thần bí trong đạo Phật ra làm hai phần :
Phần thứ nhứt – Trong đời sống của đức Phật.
Phần thứ nh́ – Trong giáo lư hay là Thuyết Luân Hồi và Nhân Quả.
PHẦN THỨ NHỨT
CHƯƠNG THỨ NHỨT
CÔNG NHẬN THẦN QUYỀN
Trong lịch sử Phật giáo có thiếu chi việc chứng tỏ Phật giáo mặc nhiên công nhận Thần quyền, tôi xin kể 7 chuyện thôi.
1.- Chuyện Thứ Nhứt
THIÊN THẦN MỞ CỬA.
Sách Phật nói rằng : lúc Thái tử trốn đi, nhờ Thiên thần làm cho các cửa thành tự nhiên mở ra và quân canh ngă lăn ra ngủ mê man không nghe có vó ngựa Kantaka sải đi.
(La Lumière de l’Asie – Ánh Sáng Á Châu trương 125 – 116)
2.- Chuyện Thứ Nh́
ĐẤT RUNG CHUYỂN.
Sau khi Đức Bồ Tát đắc quả Phật th́ đất rung chuyển 12 lần. Quả Địa cầu giống một cái bông. (Đời sống của Đức Phật theo kinh sách cổ Ấn Độ trương 91)
(La vie du Bouddha d’après les textes de l’Inde ancienne par Hérold page 91).
Về việc đất rung chuyển, sách Phật có ghi hai lần nữa.
Một lần là lúc Phật nói với Ma Vương : “Ma Vương ơi ! từ đây tới ba tháng nữa, ta sẽ nhập Niết Bàn”. Phật vừa dứt lời th́ đất rung chuyển và sấm sét vang rền.
Khi Phật nhập Niết Bàn tại Kusinara, đất cũng rung chuyển và sấm sét vang rền một lần nữa, ấy là lần chót.
3. - Chuyện Thứ Ba.
MƯA HOA.
Trong kinh sách Phật có thuật nhiều chuyện Mưa Hoa. Tôi xin kể vài vụ mà thôi.
a/ Lúc Đức Phật trở về Ka bi la hoát tu (Kapilavastu) Ngài ở trong một cái vườn xoài. Khi Ngài vừa bước lên ngồi trên ngai của người ta làm sẵn cho Ngài th́ một trận mưa hoa rơi xuống; người ta thấy toàn là bông hường.
Vua Tịnh Phạn và Hoàng Thân Quốc Thích rất kinh ngạc và kính phục vô cùng.
(Đời sống của Đức Phật do theo kinh sách cổ Ấn Độ trang 144).
b/ Lúc Phật gần bỏ xác đặng nhập Niết Bàn th́ cũng có một trận mưa hoa rơi xuống và trên không có tiếng tiêu thiều nhạc trổi để tiển đưa Đấng Trọn Lành từ giả cơi trần.
(Le Bouddha, sa vie, sa doctrine, sa communauté par Oldenberg page 223)
c/ Ông Sư Nghiêm đời Đường ngồi tụng kinh tại chùa Vân Hoa th́ có một trận mưa hoa rớt xuống. V́ thế trong cuốn “Quan Âm Thị Kính” có mấy câu nầy :
311 - Cửa thiền sẽ lén chân coi,
Trông lên Sư Cụ vừa ngồi tụng kinh.
313 – Mưa hoa rải khắp bên ḿnh,
Nhấp nhô đá cũng xếp quanh gật đầu.
315 - Mới hay đạo Phật rất mầu,
Nghĩ đây cũng dễ đổi sầu làm vui.
Câu chuyện Mưa Hoa, Vụ Hoa và chuyện học tṛ Sư La Thập giảng kinh Niết Bàn tại núi Hổ Khưu và khi ông hỏi mấy ḥn đá ở chung quanh nghe lời ông nói có hạp với ḷng Phật hay không th́ mấy ḥn đá gật đầu. Có thật hay không ? Dám chắc đời nay không ai hiểu rơ điều ấy. Nhưng bây giờ đây, trong cuốn Chơn Sư và Đường Đạo, chương thứ 14, Đức Leadbeater có nói về Đức Phật và hai cuộc lễ : lễ Huê Sắc tức là ngày Vía của Đức Phật và lễ A Sa La là lễ kỷ niệm ngày Phật Chuyển Pháp Luân.
Đức Leadbeater thuật lại rằng : lúc Phật hiện ra và giơ tay ban ân huệ tức th́ một trận mưa hoa rơi xuống giữa đám đông quần chúng. ( . . . en même temps qu’il élève la main droite en l’attitude de bénédiction, tandis qu’une grande pluie de fleurs tombe sur le peuple).
(Xin xem cuốn Chơn Sư và Đường Đạo trương 288)
(Les Maîtres et le Sentier page 288, Edition 1926)
Nhưng tin hay không, quyền đó là ở nơi quí bạn.
4. - Chuyện Thứ Tư
THIÊN ĐẾ INDRA CHỨNG LỜI NGUYỆN VÀ BAN ÂN HUỆ
CHO THÁI TỬ VICVANTARA.
Đức Phật mới thuật cho vua Tịnh Phạn và Hoàng Thân Quốc Thích ḍng Thích Ca nghe câu chuyện nầy :
“Trong một kiếp trước, tôi đă thấy gia quyến tôi tụ họp chung quanh tôi và ca tụng tôi.
Thuở ấy có một vị Vương đế ngự trị tại thành Jayatoura tên là Sânjaya.
Vợ là Hoàng hậu Phousati và con là Thái tử Vicvantara. Vicvantara cưới Công chúa Madri và sanh được hai đứa con : một trai đặt tên Jâlin, một gái đặt tên là Krishnajâna.
Thái tử có nuôi một con Bạch Tượng có tài kêu mưa hú gió giờ nào cũng được.
Ngày kia xứ Kalinga bị hạn hán. Người và vật chết đói và chết khát rất nhiều. Vua xứ Kalinga nghe đồn tài phép của Bạch Tượng bèn sai một đoàn sứ giả qua yết kiến Thái tử và xin Bạch Tượng đem về Kalinga. Khi nghe đoàn sứ giả phân trần tự sự, Thái tử bèn nói : “Sao mấy vị không xin cặp mắt tôi, da thịt tôi”.
Nói rồi Thái tử sai người dẫn Bạch Tượng ra cho đoàn sứ giả. Hay tin nầy dân chúng thành Jâyatoura đâm ra hoảng hốt. Họ sợ bị trời hạn th́ họ sẽ chết đói. Họ bèn kéo nhau vào triều phản đối và xin vua xử tử Thái tử. Vua an ủi họ, hứa hẹn với họ đủ điều, hồi lâu họ mới dịu giọng và xin đày Thái tử ra chốn sa mạc xa xăm. Vua phải nghe theo.
Thái tử bèn dẫn vợ con lên xe ngựa chở đồ đạc ra đi. Dọc đường Thái tử gặp ba thầy Bà la môn xin Ngài bố thí. Thái tử cho người thứ nhứt cặp ngựa, người thứ nh́ cái xe, c̣n người thứ ba cây kiềng vàng của Công chúa.
Vợ chồng con cái Thái tử phải đi bộ vô cùng khổ sở.
Trên trời, Thiên Đế Anh Tra (Indra) thấy rơ mọi việc. Ngài bèn hóa ra thành tŕ rộng lớn, lầu đài tráng lệ, vườn tược sum sê rồi Ngài biến thành một ông già cỡi một con ngựa ra đón rước Thái tử và vợ con về cung điện của Ngài ở. Vợ chồng Thái tử ngồi trên ngai vàng. Yến tiệc dọn ra đầy cao lương mỹ vị. Ông già mới nói : “Thái tử hăy ở đây trọn đời với tôi”. Ăn uống xong xuôi, Thái tử ngồi suy nghĩ rồi bổng chốc đứng dậy nói : “Thưa Cụ ! Tôi đă căi lịnh vua cha. Tôi bị đày ra sa mạc, tôi không có quyền ở đây hưởng hạnh phúc. Tôi xin từ giả cụ”.
Ông già hết ḷng cầm lại nhưng không được.
Ra khỏi cửa thành vài bước, Thái tử ḍm lại th́ thành tŕ biến đi đâu mất, chung quanh toàn là cát trắng nóng nực. Thái tử và vợ con đi tới một cái núi, chung quanh rừng rú bao bọc gặp một cái cḥi bỏ hoang, vợ chồng mới vô đó ở. Vợ chồng con cái ăn trái rừng, uống nước suối. Bảy tháng trôi qua, không một bóng người lai văng. Bữa kia, một thầy Bà la môn đi ngang qua cḥi thấy hai đứa nhỏ đang chơi giỡn trước sân; thầy bèn ngắm nghía chúng nó rồi mới nói với Thái tử : “Vợ tôi làm việc mệt nhọc quá, nó muốn có kẻ đỡ tay chân. Vậy ông cho tôi hai đứa con ông đi”. Thái tử nghe qua sửng sốt, hồi lâu mới trả lời :” Được, ông hăy dẫn chúng nó đi”. Lúc đó Công chúa đang hái trái trong rừng, th́nh ĺnh trong ḷng hồi hộp, như linh tính báo cho nàng biết có việc chẳng lành xảy ra, nàng bương bả chạy về. Nhưng đă trễ. Thầy Bà la môn dẫn hai đứa nhỏ đi mất rồi. Công chúa khóc than thảm thiết. Bổng đâu có một người Bà la môn khác bước đến. Ông đă già và đi đứng mệt nhọc. Ông ḍm Công chúa rồi nói với Thái tử : “Ông hăy coi, tôi già quá mà lại bị bịnh tê. Tôi đi đứng khó khăn. Tôi không có người giúp đỡ. Vậy ông hăy cho tôi cô nầy. Cô sẽ săn sóc tôi. Ông làm một việc phước đức rất lớn, cả hoàn cầu sẽ ca tụng ông”. Thái tử nghe qua ngồi suy nghĩ rồi nói với Công chúa : “Em có nghe ông già nói hay không ? Tôi phải trả lời làm sao đây ?” Công chúa bèn đáp : “Anh đă cho hai đứa con yêu quí của chúng ta rồi, anh hăy ừ đi, em không phàn nàn đâu”. Thái tử bèn cầm tay Công chúa đặt vào tay ông già. Ông già cám ơn Thái tử rồi nói : “VINH DIỆU THAY THÁI TỬ VICVANTARA ! CẦU NGUYỆN XIN NGƯỜI SỚM ĐƯỢC THÀNH PHẬT”. Ông bước đi vài bước rồi trở lại nói : “Tôi c̣n phải qua xứ khác kiếm một con hầu nữa. Tôi để nàng nầy lại cho ông và từ đây ai xin nàng ông cũng đừng cho”. Nói rồi ông già biến h́nh thành một người rất xinh đẹp, mặt chiếu hào quang sáng rỡ. Thái tử và Công chúa nh́n ra là Thiên Đế (Indra) bèn cúi đầu làm lễ. Thiên Đế nói : “Thái tử và Công chúa mỗi người xin ta một ân huệ, ta sẽ ban cho”. Thái tử bèn nói : “Cầu xin một ngày kia tôi được thành Phật và giải thoát chúng sanh ở miền rừng núi”. Thiên Đế bèn đáp : “Thái tử sẽ được toại nguyện”.
Tới phiên Công chúa : “Cầu xin thầy Bà la môn đă dẫn hai đứa con tôi đi đừng để chúng nó trong nhà mà đem bán chúng nó tại thành Jayatoura và người mua chúng nó là đức Vua Sanjaya”.
Thiên Đế bèn đáp : “Công chúa sẽ được hài ḷng”. Nói rồi Thiên Đế bèn bay lên trời. Công chúa bèn than : “Ước sao vua cha tha tội cho Thái tử”. Trên không có tiếng vọng lại : “Vĩệc ấy sẽ được”.
Thái tử được vua cha tha tội. Thái tử trở về Jayatoura được dân chúng tiếp đón nồng hậu và đoàn tụ với hai con.
Thuật xong chuyện nầy đức Phật bèn nói : “Thái tử Vicvantara là tôi đây. Quí Ngài hoan nghinh tôi bây giờ cũng như người ta đă hoan nghinh tôi thuở xưa. Hăy đi theo con đường giải thoát.
(Đời sống của Đức Phật do theo kinh sách của cổ Ấn Độ trương 144 – 159 tóm tắt).
Rơ ràng Phật công nhận Thần quyền.
5.- Chuyện Thứ Năm
CINCA ĐỘN BỤNG VU CÁO PHẬT
THIÊN ĐẾ ANH TRA GIẢI NGUY.
Khi bọn đạo sĩ đấu phép thua Phật rồi (xin xem tới) th́ họ đâm ra oán hận và t́m dịp báo thù. Họ lại ở gần vườn Kỳ Viên và ŕnh ṃ những việc làm của Phật và các đệ tử Ngài. Họ toa rập với một cô gái đẹp tên Cinca, tánh nết rất lẳng lơ và xảo quyệt. Cinca độn bụng lên càng ngày càng lớn và đi rêu rao rằng : V́ ăn ở với Phật nên nàng đă thọ thai. Tới tháng thứ chín, Cinca bèn lại chỗ Phật đương thuyết pháp nói lớn tiếng rằng : “V́ Ngài mà tôi mang thai nghén, Ngài không đoái hoài đến tôi. Tôi không chỗ ở để sanh đẻ”.
Phật điềm nhiên nói : “Cinca cô có nói láo không ? Chỉ có một ḿnh tôi và cô biết mà thôi”. Cinca la lên : “Tôi không bao giờ nói láo”. Phật vẫn ngồi im lặng. Lúc đó trên trời, Thiên Đế Anh Tra thấy rơ mọi việc. Ngài xét rằng đă đến lúc phải gỡ mặt nạ của Cinca. Tức th́ bốn vị Thiên thần được lịnh hóa ra bốn con chuột lắt chung vô áo Cinca cắn đứt dây. Một khúc cây tṛn rớt xuống đất. Phật bèn cười và nói : “Cinca ! Đứa con của cô đó”. Các tín đồ nổi giận nguyền rủa Cinca, phun nước miếng vào mặt nàng. Cinca hoảng hồn chạy mất.
(Đời sống của Đức Phật do theo kinh sách của cổ Ấn Độ trương 206 – 209).
Chuyện nầy chứng thật Phật nhờ Thần quyền giải nguy. Nhưng c̣n có chứa một ư nghĩa sâu xa về Huyền bí học. Người đắc đạo không bao giờ được phép dùng thần thông đặng minh oan cho ḿnh khi ḿnh bị vu cáo.
Tới bực Phật, thần thông rộng lớn, đạo pháp cao cường, Phật làm cho khúc cây rớt xuống không được hay sao, lựa phải nhờ tới bốn vị Thiên thần xuống giúp. Nhưng Phật yên lặng để Nhân quả định đoạt. Những Đấng Chí Tôn cầm cân tội phước gọi là những Đấng Nam Tào Bắc Đẩu không khi nào để Phật bị hàm oan.
6.- Chuyện Thứ Sáu.
PHẬT BIẾT RƠ PHẠN VƯƠNG (BRAHMA) NHƯ MỘT NGƯỜI
ĐĂ VÀO CƠI CỦA PHẠN VƯƠNG Ở VÀ SANH ĐẺ NƠI ĐÓ.
Phật đi đến xứ CÔ SA LA (Kosala) vào một cái làng của người Bà la môn tên Manasâkrita và ngự trong một cái vườn xoài. Có hai thầy Bà la môn c̣n trẻ, một người tên Vâsichtha, một người tên Bhâradvâdja, học hai trường khác nhau, tới ra mắt Phật.
Vâsichtha bèn thưa : “Bạch Phật ! chúng tôi mới căi nhau về con đường chánh. Tôi nói con đường của thầy Bà la môn Panchkarasâdi chỉ là con đường ngay hơn hết, dắt đến sự hợp nhứt với Phạn Vương. C̣n người bạn của tôi đây lại cho rằng con đường của thầy Târoukchya dặn ḍ mới thật con đường ngay hơn hết. Bạch Phật chúng tôi biết Phật là bực Toàn giác, giáo chủ các Thiên thần và con người. Chúng tôi mới tới đây hỏi Phật hai con đường đó có phải là những đường giải thoát hay không ? Chung quanh làng chúng tôi có nhiều con đường mà cả thảy đều dắt đến Manasâkrita. Những đường của mấy thầy Bà la môn dạy đều giống mấy con đường đó không ?
Phật bèn hỏi : “Hai thầy có tưởng rằng hết thảy những con đường đều tốt hết không ?”
- Bạch Phật ! chúng tôi đều tưởng như vậy.
Phật nói tiếp : “Có thầy Bà la môn nào thông thạo kinh Phệ đà thấy tận mặt Đức Phạn Vương không”.
- Bạch Phật không có vị nào thấy cả.
Phật hỏi thêm . . . “Vậy trong những vị dạy mấy thầy Bà la môn có vị nào thấy Phạn Vương không ?
- Bạch Phật cũng không ai thấy cả.
Phật nói : “Bây giờ thí dụ một người kia làm một cái thang tại ngă tư đặng leo lên nhà. Người ta mới hỏi y : “Cái nhà anh ở đâu mà làm cái thang đặng leo lên ? Anh biết nó ở hướng đông hay hướng tây ? Hướng nam hay hướng bắc ? Nó cao hay thấp, hay là không lớn không nhỏ ?”
Y trả lời : “Tôi không biết”. Người ta liền nói : “Anh làm một cái thang đặng leo lên một cái nhà mà anh không biết ra sao và anh cũng không thấy nó nữa ?” Y trả lời : “Quả thật tôi đă làm như thế”. Hai thầy nghĩ sao về người đó ?
Hai thầy có cho lời của y là điên khùng hay không ?
- Bạch Phật ! Những lời đó thật là điên khùng.
- Vậy th́ những thầy Bà la môn phải nói : “Chúng tôi chỉ cho anh con đường hiệp nhứt với cái mà chúng tôi không hiểu mà cũng không thấy nữa”. Nếu tục lệ của người Bà la môn như thế th́ công việc của họ làm vô ích quá.
Bharadvadja bèn thưa : “Bạch Phật ! Thật đúng như vậy”.
Phật mới nói : “ Vậy th́ không thế nào người Bà la môn thông thạo kinh Phệ đà có thể chỉ đường hiệp nhứt với cái mà họ không biết và cũng không thấy nữa. Thật là không khác nào một đoàn người mù níu nhau đi. Người đi đầu, người đi chính giữa, người đi chót đều không thấy đường. Theo ư Ta chuyện mấy thầy Bà la môn thuộc kinh Phệ đà thuật lại là chuyện của người mù. Nó thiệt là kỳ dị, thiệt là chuyện nói suông, không ích lợi vào đâu cả.
Bây giờ thí dụ một người đi đến mé rạch, va có việc muốn qua bờ bên kia. Va bèn cầu khẩn cho bờ bên kia dời qua bên nây đặng cho va bước lên dễ dàng. Cái bờ bên kia v́ có lời cầu khẩn của va mà dời qua bên nây không ?
- Bạch Phật ! Không khi nào được bao giờ.
- Đó là công việc của mấy thầy Bà la môn bấy lâu nay. Họ không tập luyện những tánh t́nh tốt để thành ra “thật một người Bà la môn” mà họ đă nói.
Indra (Anh Tra) ! Chúng tôi cầu khẩn Ngài.
Soma (Sô Ma) ! Chúng tôi cầu khẩn Ngài.
Varouna (Hoa ru na) ! Chúng tôi cầu khẩn Ngài.
Brahma (Phạn Vương) ! Chúng tôi cầu khẩn Ngài.
Thật ra không thể nào nhờ sự cầu nguyện, nhờ sự van vái, nhờ sự xưng tụng công đức mà khi thác rồi họ được hiệp nhứt với Phạn Vương.
Bây giờ ta hỏi hai thầy : “Người Bà la môn nói về đức Phạn Vương ra làm sao ! Ngài có ưa hoa nguyệt không ?”
- Bạch Phật ! không .
- Đức Phạn Vương có hung ác không ? Có kiêu căng không ? Có biếng nhác không ?
- Bạch Phật ! không.
- C̣n mấy người Bà la môn có tránh khỏi mấy tánh đó không ?
Vasichtha bèn thưa : “Bạch Phật ! Họ c̣n mấy tánh đó”.
Phật bèn nói : “Người Bà la môn c̣n ưa khoái lạc, c̣n bị giác quan cám dỗ, họ say hoa đắm nguyệt, họ hung bạo, họ biếng