trang nhà trang sách l bản tin l thiền học l tiểu sử trang thơ l h́nh ảnh l bài vở  

QUYỀN NĂNG TƯ TƯỞNG
 


hoa bưởi

Tác gỉa  ANNIE  BESANT


 mục lục  chú thích  đầu sách  cuôi sách

MỤC  LỤC

 

Cuối sách
Lời nói đầu
Nhập đề
Hữu ngã là Người-hiểu-biết.
Vô ngã là Cái-được-biết.
Hiểu biết phân biệt là “Tri”.

CHƯƠNG I.

BẢN CHẤT CỦA TƯ TƯỞNG
Sự liên quan giữa Người-hiểu-biết, Vật-hiểu-biết, Sự-hiểu-biết

CHƯƠNG II.

KẺ SÁNG TẠO ẢO TƯỞNG
Hạ trí và Mạt na thức.
Rèn luyện và nâng cao Thể Trí.

CHƯƠNG III.
CHUYỂN  DI TƯ TƯỞNG

CHƯƠNG IV.
NGUỒN GỐC TƯ TƯỞNG

Mối liên quan giữa Cảm giác và Tư tưởng

CHƯƠNG V.

 KÝ ỨC

 Kư ức bản tính của trí nhớ.
Kém trí nhớ.
Kư ức tiên đoán.
CHƯƠNG VI.
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG
Giá trị của Thuật Quan sát.
 

 

Sự phát triển khả năng trí tuệ.
Rèn luyện trí tuệ.
Gần bậc cao minh.

CHƯONG VII.

ĐỊNH TRÍ
Nơi nào có Đối tượng là có Tâm thức đáp ứng

Định trí cách nào?

CHƯƠNG VIII.

NHỮNG TRỞ NGẠI CHO VIỆC ĐỊNH TRÍ
Trí xao động.
Định trí không đúng cách rất nguy hại.
Thiền định.

CHƯƠNG IX.

SỰ TĂNG CƯỜNG QUYỀN NĂNG TƯ TƯỞNG
Lo  - Làm sao cho hết lo?
Suy tưởng và Ngưng Suy tưởng
Bí quyết làm cho Trí an tịnh                

CHƯƠNG X.

GIÚP NGƯỜI KHÁC BẰNG TƯ TƯỞNG
Giúp đỡ kẻ quá vãng
Dùng Tư tưởng hoạt động trong giấc ngủ
Sức mạnh Tư tưởng Liên hiệp 


Lời Kết

PHỤ CHÚ

 

  mục lục chú thích  đầu sách  cuôi sách



 
LỜI  NÓI  ĐẦU
   

Tôi soạn quyển sách nhỏ này nhằm giúp học giả tìm hiểu bản tính mình, tuy chưa hoàn hảo, nhưng về phương diện trí thức, ít ra nó cũng hữu ích cho kẻ sơ cơ.
    
Người nào thấu rõ các nguyên tắc trình bày nơi đây có thể cộng tác với thiên cơ để mau tiến hóa, đồng thời các quan năng trí thức của mình cũng phát triển nhanh chóng nữa.

Đoạn đầu quyển sách này sẽ đem lại nhiều điểm khó khăn cho những độc giả chưa bén duyên với mùi đạo, nên những người đó có lẽ chỉ đọc sơ rồi bỏ qua. Thật ra phần nhập đề là căn bản cần thiết cho những ai muốn tìm hiểu các mối liên quan giữa trí thức cùng các môi giới của bản tính con người và ngoại cảnh.
       Kẻ nào muốn thực hành câu châm ngôn: “Mình tự biết mình” thì chẳng nên giải đãi trước sự cố gắng nhỏ nhen và cũng đừng mong thức ăn tinh thần ngẫu nhiên rơi vào miệng.

Dầu cho tác phẩm nhỏ này chỉ giúp được vài học giả đứng đắn vượt qua một ít trở ngại trên đường hiểm trở thì cũng đủ đạt mục đích rồi vậy.

                                                                                     ANNIE  BESAN

 mục lục  chú thích   đầu sách cuôi sách



PHẦN  MỞ  ĐẦU

Phải sống một đời sống trong sạch và thanh cao mới có thể nhận thức được giá trị của Minh Triết. Quyển sách nhỏ này ra đời nhằm mục đích nâng đỡ các học giả chân chính muốn áp dụng sự hiểu biết về lý thuyết đã lãnh hội trong khi nghiên cứu giáo lý Thông Thiên Học, ngõ hầu trau dồi bản tính mình và giúp ích nhân loại. Chúng tôi hi vọng sự thông hiểu tinh tường về bản tính trí thức sẽ hướng dẫn những kẻ ấy quyết tâm lánh dữ làm lành.

Cái tính tình thúc giục chúng ta sống một cuộc đời ngay thật sẽ giảm bớt phân nửa giá trị nếu ánh sáng của trí tuệ không soi tỏ con đường lập hạnh của chúng ta. Khác nào kẻ mù, càng đi xa thì càng lạc lối, để rồi rơi xuống hố sâu, và cũng như  Chơn Nhơn (Ego) bị vô minh che lấp, xa lìa đường chính, chung cuộc sa đọa vào vực thẳm của chướng ngbiệp.

Avidya –  Vô minh –  Chính là bước đầu làm cho con người xa lìa Đơn Nhứt để tiến đến sự chia rẽ. Do đó, người đời còn vô minh thì còn chia rẽ, giảm bớt vô minh thì giảm bớt chia rẽ. Chỉ khi nào con người diệt tận vô minh thì mới an vui tự tại. 

 HỮU NGÃ LÀ NGƯỜI-HIỂU-BIẾT
     
Khi nghiên cứu bản tính con người, chúng ta phải phân biệt giữa con người và các thể, giữa Chơn ngã với các lớp y phục bên ngoài.

Chơn ngã thì duy nhất, mặc dù Chơn ngã biểu hiện dưới nhiều hình thức bằng nhiều thể chất khác nhau. Dĩ nhiên, theo nghĩa đầy đủ nhất của từ thì chỉ có cái Ta là Chơn Ngã Duy Nhất. Tỷ như tất cả tia sáng đều do mặt trời phát quang, còn những cái “Ta” tức là con người (Bản ngã) đều là những tia sáng của Đại Ngã, cũng gọi là Chơn Ngã tối cao phát huy. Vì vậy mỗi người trong chúng ta đều có thể tự hào: “Ta là Đại Ngã”.

Tuy nhiên, trong mục tiêu hiện thời, chúng ta chỉ đề cập đến một tia sáng, song chúng ta cũng có thể xác định thực tính duy nhất của tia sáng riêng rẽ này, dù nó đang bị màn sắc tướng che khuất.

Tâm thức là Đơn Nhứt, nhưng tại chúng ta thường hay phân tích nó ra nhiều cách để dễ biện luận, hoặc giả do những giác quan yếu đuối của chúng ta tạo ra những quan niệm sai lầm để chúng ta tạm dùng nơi cõi trần.

Cái Ta là Hữu ngã, tức là Bản ngã luôn luôn biểu lộ chung trong ba trạng thái: “Nhận thức, Ý muốn và Hành động” –  do đó phát sanh những tư tưởng, những ham muốn và những hành động. Vả lại trong Bản ngã không có sự phân chia, cho nên toàn thể cái “Ta” hiểu biết, toàn thể cái “Ta” ham muốn và toàn thể cái “Ta” hành động. Ngoài ra các động tác này tương quan, tương ứng với nhau, vì vậy, khi chúng ta hiểu biết thì chúng hành động và ham muốn, khi chúng ta hành động thì chúng ta cũng hiểu biết và ham muốn, và khi chúng ta ham muốn thì chúng ta cũng hành động và hiểu biết.

Khi một chức năng nào vượt quá mức độ thì làm cho chức năng khác suy nhược, nhưng không tiêu diệt hẳn. Như một trong ba trạng thái của Bản ngã là chức năng “nhận thức” dù có tập trung mãnh liệt thế mấy cũng không thể diệt chức năng “ý muốn” và “hành động”. Hai chức năng này vẫn tồn tại và tiềm tàng trong Bản ngã. Hơn nữa, nhờ nghiên cứu tỉ mỉ nên chúng ta mới phân tích được.

Chúng ta gọi ba chức năng đó là “ba trạng thái của Bản ngã”. Thêm vài lời giải thích, có lẽ chúng ta dễ hiểu hơn: khi cái Ta an tĩnh thì trạng thái “nhận thức” phát hiện, nhờ đó chúng ta có thể tiếp nhận hình dáng mọi vật trước mắt. Khi cái Ta chú định vào sự biến đổi của trạng thái, thì phát sanh “Ý muốn”, và khi cái Ta đứng trước một cảnh vật nào, rồi phát động năng lực để tiếp xúc với cảnh vật đó thì sanh ra “Hành động”. Như vậy, chúng ta hiểu rằng ba trạng thái này không phải là sự chia rẽ của Bản ngã như một chia làm ba, cũng không phải ba phối hợp làm một, mà là cái một toàn thể, không chia xẻ được, phát hiện ra ba cách khác nhau.

Thật khó mà quan niệm minh bạch về Bản ngã, chỉ có một cách giản tiện gọi đích danh nó là Bản ngã. Bản ngã là tâm thức, nhạy cảm và luôn luôn hiện hữu. Mỗi người trong chúng ta đều nhìn nhận hiện đang “có Ta”. Không một ai phủ nhận cái “có Ta” hay thẳng thắn quả quyết rằng “không có Ta”. Như  Bhavagan  Das  đã nói: “Bản ngã là căn bản trọng yếu của sự sống... Theo lời ông Vachaspati –  Mishra trong Luận giải (the Bhamati) về quyển  Shariraka –  Bhashya của Ngài Sankaracharya thì không có người nào hoài nghi mà tự hỏi: “Có Ta hay không có Ta”? [1]

Thừa nhận “có Ta”, tức là chấp Ngã, đó là cái thừa nhận đầu tiên, trước hết mọi sự mà không cần phải trưng bằng cớ. Vì không một thực chứng nào có thể làm cho nó vững chắc thêm và cũng không có một phản chứng nào khác làm cho nó yếu bớt được. Cả thực chứng và phản chứng đều căn cứ  nơi “Ngã chấp”. Cảm giác không thể bắt bẻ được là vì chúng ta hiện đang Sống đây chỉ cảm biết hơn và kém. Khi Vui thích ta cảm thấy “Ta hơn”, nhưng đến lúc Khổ, ta lại cảm thấy “Ta kém”.

Nếu quan sát kỹ lưỡng, chúng ta cảm thấy “Ngã chấp” này diễn tả ba cách riêng biệt:

1 –  Sự phản hưởng từ bên trong cái Vô ngã là Sự hiểu biết, nguồn gốc của tư tưởng.

2 –  Sự tập trung vào nội tâm là Ý chí, nguồn gốc của ham muốn.

3 –  Sự phát triển ra ngoại cảnh là Năng lực, nguồn gốc của sự hoạt động.

Ta hiểu biết hay suy tư”, “Ta ham muốn hay ước vọng”, “Ta phát huy năng lực hay hành động”, đó là ba sự xác định của Ngã chấp, là Bản ngã duy nhất. Tất cả sự biểu hiện đều có thể gom vào một hay của ba đề mục này. Bản ngã cũng chỉ biểu lộ ở cõi trần theo ba phương thế đó mà thôi, giống như các màu sắc biến đổi đều do ba màu chánh. Cũng một lẽ ấy, tất cả những biến tướng của Bản ngã đều do “Hiểu biết”, “Ý muốn” và “Hành động” hợp chung lại.

Cái Ta ham muốn, cái Ta hiểu biết, cái Ta hành động, chính là cái Một trong trường tồn, tạo thành căn bản của cá thể trong Không gian và Thời gian. Đó là Bản ngã dưới hình thức tư tưởng, là trạng thái của Kẻ-hiểu-biết và cũng là đề mục của quyển sách.

VÔ NGÃ LÀ CÁI ĐƯỢC-HIỂU-BIẾT 
     Bản ngã vốn “bản tính là hiểu biết”: tự thấy nơi nó phản chiếu nhiều sắc tướng, và do kinh nghiệm, Bản ngã nhận biết rằng nó không thể hiểu biết, hay hành động, hoặc ham muốn xuyên qua những sắc tướng được. Tuy nhiên, nhờ sắc tướng mà Bản ngã mới nhận thức được sắc tướng không thuộc phạm vi kiểm soát của Bản ngã như lúc ban sơ. Bản ngã đã ý thức được sắc tướng và xem sắc tướng như nó. (Mặc dù quan niệm này sai lầm, nhưng rất cần thiết). Vì Bản ngã hiểu biết chớ không phải sắc tướng hiểu biết hay suy tư. Bản ngã ham muốn chớ tuyệt nhiên sắc tướng không ham muốn hay vọng động chi cả. Bản ngã phát huy năng lực chớ sắc tướng không mảy may xê dịch hay hành động gì hết. Bởi vậy, Bản ngã không thể xâm nhập vào sắc tướng để nói: “Ta biết”, “Ta muốn”, “Ta làm”, và sau cùng Bản ngã hiểu rằng mỗi sắc tướng đều có cái “Ngã” riêng biệt, đang biến chuyển dưới hình thức kim thạch, thảo mộc, thú cầm, nhân loại và siêu nhân, đoạn tổng hợp lại bằng một từ ngữ dễ hiểu là “Không Ta”, tức  là Vô ngã.

Vô ngã là gì?

Đó là câu hỏi đã nêu ra từ ngàn xưa và được giải đáp như sau:

Vô ngã nghĩa là  “Không Ta” hay là không chấp nhận có Ta. Tất cả những gì mà Ta không hiểu biết, Ta không ham muốn hay là Ta không hành động, đều gọi là Vô ngã.

Lời giải đáp trên đây phù hợp với nhu cầu thực tế. Tuy nhiên, sau khi lần lượt phân tích các trợ duyên –  ngoại trừ bản chất tế nhị cấu tạo Bản ngã –  thì Bản ngã hiểu rằng các trợ duyên ấy là nhiều thành phần của Vô ngã, là đối tượng của sự hiểu biết, kết thành “Sự-vật-để-hiểu-biết”, chớ không phải “Người-hiểu-biết”.

Thật ra Bản ngã không khi nào tự xem nó như một đối tượng riêng biệt, chính do bản chất tinh vi hơn hết tạo cho Bản ngã một cái Ta riêng biệt, vì bản chất này rất cần thiết để tạo thành một cá thể. Nếu hiểu biết bản chất đó chỉ là Vô ngã thì chúng ta mới có thể nhìn sâu vào Tất cả. 

SỰ HIỂU BIẾT LÀ TRI

Muốn Bản ngã trở thành “Người-hiểu-biết”, còn Vô ngã thành “Cái-được-hiểu- biết” thì giữa đôi bên phải có sự tương quan rõ rệt. Bản ngã phải ảnh hưởng đến Vô ngã và Vô ngã cũng phải ảnh hưởng đến Bản ngã thì mới sanh ra sự hiểu biết.

Sự hiểu biết phân biệt là môi giới giữa Bản ngã và Vô ngã. Đặc tính của sự hiểu biết sẽ là đầu đề cho chương sau. Tuy nhiên, trước hết chúng ta cần phải hiểu rõ rằng sự hiểu biết là mối liên kết bao hàm nhị nguyên:

1 –  Ý thức được có một cái “Ta” (Bản ngã hay Hữu ngã).

2 –  Thừa nhận có một cái “Không Ta” (Phi ngã hay Vô ngã).

Hai yếu tố này phải tương tác nhau mới sanh ra “Sự hiểu biết”.

Người-hiểu-biết, Cái-hiểu-biết, Sự-hiểu-biết –  Đó là Ba trong Một, mà chúng ta cần phải cố gắng tìm hiểu cho tường tận, nếu chúng ta muốn dùng sức mạnh tư tưởng để làm cứu cánh cho mình và phục vụ đời.

Theo thuật ngữ Tây phương: Trí khôn hiểu biết là Chủ thể, vật thể được hiểu biết là Đối tượng, còn mối liên kết giữa Chủ thể và Đối tượng là Sự hiểu biết.

Vả lại, chúng ta cần phải hiểu về đặc tính của Người-hiểu-biết và Cái-hiểu-biết, sự tương quan giữa Người-hiểu-biết và Cái-hiểu-biết, sau cùng là cách phối hợp các mối tương quan ấy.

Khi hiểu rõ các điều trên đây, chúng ta đã trải qua một bước dài để đi đến chỗ Mình tự biết Mình, là cơ cấu của Minh triết. Chừng đó chúng ta mới có thể giúp đỡ những người lân cận có hiệu quả và giúp đời đắc lực. Đó là tiêu chuẩn chân thật của Minh triết và cũng nhờ lòng Từ bi bác ái mà Minh triết cứu độ chúng sanh thoát khỏi phiền não, đến tận bờ giác.

Đó cũng là đề mục cho sự nghiên cứu của chúng ta. Sách Tâm lý học Cổ truyền rất thâm diệu chép rằng: Đối tượng của triết lý là diệt khổ. Vì lẽ đó mà các thức giả phải suy tư và cũng vì thế mà sự hiểu biết vẫn được theo dõi không ngừng.

  mục lục  chú thích  đầu sách   cuôi sách



CHƯƠNG  MỘT

BẢN CHẤT TƯ TƯỞNG

Bản chất của tư tưởng có thể nghiên cứu về hai quan điểm:

    1 –  Quan điểm về Tâm thức, là khả năng hiểu biết phân biệt,

    2 –  Quan điểm về Sắc tướng, là hình thể. Nhờ có hình thể thì chúng ta mới thấy biết. Hình thể thường biến đổi theo ngoại cảnh.

Theo Triết học, chúng ta nên tránh hai trường hợp sau đây kẻo bị sa vào chủ nghĩa cực đoan.

Phái cực nội (hướng nội thái quá) chủ trương vạn vật, vạn sự do tâm tạo, không chấp nhận sắc tướng là điều kiện tối cần cho tâm thức. Trái lại, phái cực ngoại (hướng ngoại thái quá) thì duy vật, phủ nhận sự sống trong tâm linh và cho rằng tất cả mọi hình thức đều do vật chất hóa sanh.

Hình dạng và sự sống, vật chất và tinh thần, khí thể và tâm thức, đều là trạng thái liền đôi của Cái Đó liên kết chặt chẽ và khi biểu hiện thì không khi nào tách biệt ra. Cái Đó không phải tâm thức hay khí thể mà là cội rễ của cả hai: vật chất và tinh thần.

Triết lý nào chỉ biết có vật chất mà phủ nhận sự sống trong tâm linh thì sẽ vấp phải những vấn đề nan giải. Trái lại, triết lý nào chỉ chú trọng về sự sống thiêng liêng, không chịu hiểu biết vật chất thì sẽ gặp một bức tường kiên cố ngăn cách, không thể vượt qua được.

Giải pháp cuối cùng là tâm thức và khí thể, sự sống và hình dạng, tinh thần và vật chất, là biểu thị nhất thời của hai trạng thái của Hiện Hữu Duy nhất mà chúng ta không thể hiểu biết được, trừ phi trạng thái đó biểu hiện thành:

       a) Tinh thần Căn nguyên (Pratyagatman) –  Bản thể vô tướng –  do đó phát sanh những cái Ta riêng biệt,

       b) Vật chất Căn nguyên (Mulaprakriti) thì phát sanh sắc tướng, tức là những hình dáng có thể trông thấy được.

Khi biến hiện thì Tinh thần Căn nguyên sanh ra bộ ba tâm thức, và Vật chất Căn nguyên sanh ra bộ ba Vật chất, còn nền tảng của Thực tại Duy nhất thì tâm thức hữu vi không thể nào biết rõ. Như đóa hoa không bao giờ hay biết rễ cây đã làm cho nó nẩy nở, mặc dù rễ cây là nguồn sống của hoa; nếu không có rễ thì không khi nào có hoa.

Bản ngã là Người-hiểu-biết, có nhiệm vụ làm phản chiếu lại nó cái Vô ngã. Tỷ như kính ảnh thu nhận ánh sáng do những vật phản chiếu lại và nhờ ánh sáng làm biến đổi thể chất mà nó rọi vào để tạo thành hình ảnh của sự vật. Cũng thế đó, Bản ngã thâu nhận những hình ảnh ở ngoại cảnh. Nhờ tia sáng của Bản ngã Duy nhất rọi vào cảnh vật, rồi cảnh vật ấy phản chiếu trên nhãn cầu của Bản ngã làm phát hiện trên mặt nhãn cầu hình bóng cảnh vật vô ngã. Trong giai đoạn hoạt động đầu tiên của tâm thức Bản ngã không hiểu biết được cảnh vật thực sự, mà chỉ nhận biết hình bóng cảnh vật của vô ngã phản chiếu trên lớp nhạy cảm của nhãn cầu, nghĩa là con người (Bản ngã) nhờ cặp mắt mới nhận biết hình bóng cảnh vật ở ngoại giới.

Bởi vậy, cái Trí là quan năng của Bản ngã, có thể ví như tấm gương soi, đặt trước cảnh vật nào thì thấy trong gương in hình bóng cảnh vật đó. Đúng ra, chúng ta không khi nào biết được thực thể của chính cảnh vật, mà chỉ biết hình dung của cảnh vật phát hiện từ trong tâm thức của chúng ta, vì cái trí của chúng ta chỉ nhận thức được những phản ảnh của cảnh vật chớ không phải cảnh vật thật sự. Cũng như vậy, cái Trí chỉ hiểu biết được ảo ảnh của ngoại cảnh chớ không thể hiểu biết được thực thể của cảnh vật. Sở dĩ hình ảnh phát hiện ra được là do trợ duyên làm cho Bản ngã nhận thức cảnh vật, sự nhận thức này chỉ phỏng tạo theo cảnh vật.

Tuy nhiên, trong đoạn trước, chúng tôi có dùng từ “phản chiếu” và tấm gương soi để so sánh, thật ra không được chỉnh, vì cảnh tượng ở trong trí là phỏng tạo theo cảnh vật, chớ không phản chiếu. Thể chất của cái Trí chế biến một cảnh vật tương tợ cảnh vật mà cái trí đã thâu nhận được, kế đó Bản ngã phóng tác và sửa đổi lần lần cảnh vật đó cho giống cảnh vật thật ở bên ngoài, rồi gọi là Ta hiểu biết cảnh vật. Thật ra trong trường hợp này, những gì mà Bản ngã nhận thức được chỉ là ảnh tượng do trợ duyên tạo ra chớ không phải cảnh vật thật sự. Vả lại, ảnh tượng đó không phải là một phóng tác y hệt cảnh thật, vì lý do riêng, chúng tôi sẽ đề cập vấn đề này nơi chương khác.

Có người hỏi: Nếu vậy thì chúng ta không thể nào biết được cảnh vật thật sự hay sao ? Cái thấy sai lầm này còn kéo dài mãi không ?

Điều đó làm cho chúng ta nhận thấy có sự biến chuyển khác biệt giữa tâm thức và vật chất. Sở dĩ  tâm thức hoạt động được là do vật chất. Có như thế mới tìm được lời giải đáp cho câu chất vấn tự nhiên trên đây theo trí tuệ của mọi người. Khi Bản ngã tiến hóa cao thì tự nhiên quyền năng phát triển, do đó Bản ngã có thể tạo lại trong trí tất cả những gì ở ngoại giới. Cái lớp vỏ vật chất bao bọc cái trí mà trước kia Bản ngã dùng hoạt động thì bây giờ tan rã. Lúc này tâm thức nhận thấy rằng Bản ngã của nó và các Bản ngã khác đang cùng nhau tiến hóa vốn là đồng nhất, vì vậy Bản ngã chỉ xem Vô ngã như vật chất do nhiều Bản ngã riêng biệt kết hợp lại mà thôi. Đó là “Đại Nhật, Hãy ở với chúng tôi[2]. Đó là sự hiệp nhất, là sự vinh quang của cuộc tiến hóa, lúc ấy tâm thức tự biết mình và biết những tâm thức khác cũng như mình vậy. Hòa đồng với vạn vật là hiểu biết thông suốt, Bản ngã nhập vào trạng thái vi diệu là đồng nhất, bất hoại, ký ức không mất, sự chia rẽ cáo chung và người-hiểu-biết, vật-được-hiểu-biết, sự-hiểu-biết chỉ là Một.

Hiện thời, trí thức là đặc tính kỳ diệu của Bản ngã đang tiến triển do sự hiểu biết, vậy chúng ta cần phải nghiên cứu để nhận thức bản tính của tư tưởng đặng thấy rõ vọng tưởng, ngõ hầu có thể dùng vọng tưởng để đả phá vọng tưởng, Vì thế, chúng ta phải học hỏi, tìm hiểu tại sao sự liên lạc giữa Người-hiểu-biết và Cái-được-biết lại sanh ra Sự-hiểu-biết. Điều này sẽ làm cho chúng ta nhận thấy rõ ràng hơn về bản chất của tư tưởng.  

SỰ LIÊN QUAN GIỮA NGƯỜI-HIỂU-BIẾT, VẬT-ĐƯỢC-BIẾT VÀ SỰ-HIỂU-BIẾT. 
   
Rung động là một từ đã được các Triết gia Đông phương khởi xướng từ ngàn xưa, mãi tới ngày nay từ này mới trở thành điểm then chốt cho khoa học Tây phương. Sự vận động là căn nguyên của tất cả vạn vật, Sự sống vận động, Tâm thức vận động. Khi sự vận động ảnh hưởng đến vật chất thì gọi là sự dao động, nói cho dễ hiểu hơn là rung động. Đơn nhất, Toàn thể, là bất di bất dịch… Cái Đơn nhất dầu động hay tịnh, cũng là Đơn nhất tuyệt đối, không có sự luân chuyển trong Đơn nhất tương đối. Chỉ khi nào có sự sai biệt, hoặc sự chênh lệch từng phần thì chúng mới có thể nghĩ đến cái mà chúng ta gọi là động. Động chỉ là một sự thay đổi vị trí trong một khoảng thời gian liên tục. Khi Đơn nhất hóa thành muôn vàn thì phát sanh vận động, nếu sự vận động điều hòa thì chúng sanh mạnh khỏe, có ý thức và sinh sống, trái lại, nếu sự vận động không điều hòa thì sanh bệnh tật, vô ý thức và diệt vong. Sinh tử, tử sinh là chị em sinh đôi, giống như sự vận động biểu hiện.

Khi Nhất bổn biến thành Vạn thù thì sự vận động đương nhiên xuất hiện, cái Hiện diện khắp nơi tức Vô sở bất tại (chỗ nào cũng có) xuất hiện trong nhiều phần tử riêng biệt, sự vận động không ngừng tiêu biểu cho cái Hiện diện khắp nơi. Nói một cách khác, cái Hiện diện khắp nơi biểu hiện ra phản ảnh hay hình ảnh trong vật chất. Bản chất của vật chất là phân ly, cũng như bản chất của Tinh thần là Duy nhất. Khi Một sinh Hai –  như trong sữa có ván sữa –  thì phản ảnh của cái Hiện diện khắp nơi là Một trong muôn vàn vật chất đang sinh hóa không ngừng trong sự vận hành vô cùng vô tận.

Sự chuyển động tuyệt đối –  mỗi đơn vị đều vận hành trong một điểm hư  không nơi mỗi sát na [3]  cũng đồng nhất với yên tĩnh, nhưng chỉ đồng nhất theo quan điểm đối với vật chất, chớ không đồng nhất đối với tâm linh. Về phương diện tâm linh chỉ có Một, nhưng về phương diện vật chất thì biến đổi thiên hình vạn trạng.

Cái chuyển động vô tận này xuất hiện dưới hình thức vận hành, nó rung động nhịp nhàng trong vật chất và biểu hiện trong mỗi “Một đơn vị tâm thức riêng biệt” gọi là Jiva[4]. Jiva này phân cách với Jiva khác như bị cô lập do một tấm vách tường vật chất ngăn cản. Khi luân hồi, mỗi Jiva đều mặc trang phục vật chất[5]  khác nhau. Khi trang phục vật chất này rung động thì nó truyền sự rung động đến vật chất ở xung quanh, rồi vật chất ấy tiếp chuyển sự rung động đó lan tràn ra ngoài và truyền tới trang phục bao bọc một Jiva khác và xung kích Jiva này như Jiva đầu tiên.

Trong loạt rung động này –  khởi đầu từ một Jiva mang một xác thân rung động và truyền sự rung động lan tràn đến Jiva khác cũng có xác thân làm thành sự rung động tương tục để xác thân này có thể tiếp xúc với xác thân khác. Xác thân sau hiểu biết được xác thân trước để rút kinh nghiệm. Dầu sao cũng có một vài sự khác biệt, là khi Jiva thứ nhì tiếp được sự rung động của Jiva thứ nhất thì nó rung động, nhưng không phải chỉ lập lại động tác rung động đó mà nó phối hợp sự rung động đầu tiên của nó với sự rung động bị ràng buộc ở ngoại cảnh, vì thế nó không tạo được một hình ảnh giống như thật được, mà chỉ phóng tác một hình ảnh tương tự, càng lâu càng rõ thêm, bởi vì một khi xác thân còn tồn tại thì con người không thể nhận thức được sự gì chính xác và chân thật cả.

Những sự rung động liên tục này thường xảy ra luôn nơi trần thế. Như một ngọn lửa là trung tâm tạo tác của sức nóng trong dĩ thái[6] gọi là nhiệt khí, sự rung động nhiệt khí gọi là làn sóng nóng hay là nhiệt ba. Nhiệt ba truyền qua lớp dĩ thái chung quanh, tỷ như gần đó có một thoi sắt thì làn sóng này rung động truyền sang qua những phân tử li ti của thoi sắt làm cho thoi sắt rung động cùng nhịp rồi thì thoi sắt trở nên nóng và trở nên nơi phát nguồn nhiệt lực. Cũng như vậy, các loại rung động di chuyển từ Jiva này đến Jiva khác và tất cả sinh vật liên kết với nhau đều do mạng lưới ý thức này.

Bởi đó cho nên, trong cõi hữu hình có nhiều loại rung động như: tia sáng, sức nóng, điện khí, âm thanh, v.v... tất cả đồng tính chất và cùng theo phương thức chuyển động trong dĩ thái, nhưng đặc tính và tốc độ của các làn sóng thì khác nhau.

Nhận thức, Ý muốn và Hành động biểu dương sự “hiểu biết, ý chí và động tác” xuyên qua bản thể, cả thảy cùng đồng chung một tính, nghĩa là đều do sự rung động cấu tạo và tùy thuộc đặc tính rung động mà phát sinh những hiện tượng khác nhau.

Vài loại rung động khác biệt có đặc tính riêng trong vật chất như: “rung động tư tưởng”, “rung động dục vọng” và “rung động hành vi”, những từ này dùng diễn tả vài sự kiện của vạn vật. Có vài loại dĩ thái rung động cảm nhiễm nhãn quan, chúng ta gọi là “ánh sáng”, có thứ dĩ thái khác có sự rung động tinh vi hơn, chỉ có cái trí mới cảm nhận được gọi là “tư tưởng”. Hiện thời chúng ta đang bị một vật chất có nhiều mật độ riêng biệt, bao bọc xung quanh, phát ra sự rung động dễ cảm nhiễm chúng ta và những nhãn quan khác nhau thuộc về những thể xác thô trược hay những thể xác tinh khiết của chúng ta đáp ứng lại. Sự rung động cảm nhiễm đến mắt gọi là “ánh sáng”, sự rung động cảm nhiễm đến cái trí gọi là “tư tưởng”. Khi làn sóng “dĩ thái ánh sáng” rung động phát sanh từ một cảnh vật đến mắt chúng ta gọi là “nhìn thấy”, còn khi làn sóng “dĩ thái tư tưởng” rung động phát sanh giữa cảnh vật và trí não của chúng ta thì gọi là “ý nghĩ”. Trong hai điều này không có điều nào huyền bí nhiều hay ít hơn điều kia.

Bàn về cái trí, chúng ta nhận thấy rằng sự giao tiếp của làn sóng tư tưởng làm thay đổi cơ cấu của những nguyên tố, còn khi nghĩ đến vật cụ thể thì chúng ta lại có cảm giác như trước kia đã kinh nghiệm những ấn tượng đó ở ngoại cảnh. Bản ngã có dịp tác động sự rung chuyển và tất cả những gì có thể đáp ứng được, đều tạo thành sự hiểu biết.

Tư tưởng là sự phóng tạo trong trí của Người-hiểu-biết và những gì Được-hiểu-biết. Nói theo nghĩa đen, đó là một bức tranh do các làn sóng rung động phối hợp lại tạo thành hình ảnh.

Khi một phần của Vô ngã rung động, thì Bản ngã tiếp nhận sự rung động đó rồi rung động trở lại, thì phần Vô ngã ấy trở thành vật Được-hiểu-biết. Giữa các vật chất có ít nhiều sự rung cảm thì sự va chạm vật này với vật kia đều có thể sanh ra Sự-hiểu-biết. Vì thế mà sự liên quan giữa Người-hiểu-biết, Vật-được-hiểu-biết và Sự-hiểu-biết luôn luôn giữ vững và tồn tại mãi mãi

 mục lục  chú thích   đầu sách cuôi sách


CHƯƠNG  HAI

 KẺ SÁNG TẠO ẢO TƯỞNG 

“Có thản nhiên trước cảnh vật đã nhìn thấy thì môn sinh mới khám phá được Chủ tể của Giác quan, là kẻ Sáng tạo Tư tưởng và làm phát hiện ảo tưởng.

Cái Trí là kẻ phá hoại lớn nhất của Thực Tại”.

Đó là đoạn văn mà Bà H.B.Blavatsky trích dịch trong quyển Kim Huấn Thư, một áng văn kiệt tác và cũng là món quà quí giá của tác giả đã lưu truyền cho hậu thế.

Thật ra không còn từ nào khác dùng để diễn tả ý nghĩa cái Trí cho rốt ráo bằng câu: “Cái Trí là kẻ sinh ra ảo tưởng”.

Cái Trí không phải là Bản ngã hiểu biết, vì vậy chúng ta cần phải luôn luôn thận trọng để phân biệt cho rõ rệt. Có nhiều sự lầm lẫn chẳng những gây sự khó khăn mà còn làm cho học giả rối trí thêm là tại có lắm người không chịu để ý đến sự khác biệt giữa Bản ngả hiểu biết và cái Trí là quan năng dùng để tiếp nhận sự hiểu biết. Nhận lầm cái Trí là Bản ngã hiểu biết thì chẳng khác nào ta lầm tưởng cái đục của ông thợ chạm là ông thợ chạm.

Mỗi Bản ngã đều có hai cái Trí căn bản, nói đúng hơn, là hai thể Trí: Một thể Trí cấu tạo bằng lớp vật chất tinh vi gọi là Thượng Trí [7] và manas , Trí trừu tượng; và một thể Trí khác nữa làm bằng vật chất rất thô sơ gọi là Hạ Trí [8] và manas , Trí cụ thể. Cái Trí tự nó phản chiếu trong vật chất nguyên tử của trạng thái Bản ngã tiêu biểu cho sự Hiểu biết. Cái Trí này thường hay hạn chế Jiva[9], vì vậy khi lý trí tâm thức gia tăng chừng nào thì càng làm trở ngại Jiva nhiều thêm chừng nấy theo đủ mọi cách. Giả như một người nào làm công việc gì mà bị bắt buộc phải mang bao tay dày cộm thì cảm thấy đôi tay bị bó rọ, gây trở ngại mọi hoạt động. Trong khi sờ mó vật gì, đôi bàn tay của y mất hết xúc giác, chẳng còn khéo tay và lanh lẹ như trước, y không thể nhặt món gì nhỏ bé, chỉ cầm được những vật to lớn một cách vụng về. Cũng như vậy, khi Bản ngã mang thêm Hạ trí, các quan năng của Bản ngã đều bị kếm chế, không tự do phát huy khả năng được.

Trong đoạn tới, chúng tôi sẽ giải thích thêm về “Cái Trí cụ thể” tức là hạ trí hợp với manas.

“Trí” là kết quả do ý niệm của kiếp trước và hằng bị ý niệm trong kiếp này thay đổi luôn. Có một điều chắc chắn không thay đổi là, bất cứ khả năng nào, dù mạnh dù yếu, thảy đều do nghiệp quả của những hành vi trong tiền kiếp.

Cái trí của chúng ta đã tạo nên kết quả thì không thể sửa đổi được liền trong nhất thời, mà phải sửa đổi lần lần, chúng ta không thể dùng ý chí cương quyết mà vượt qua được, cũng không thể ném nó qua một bên, mà cũng không thể cấp tốc loại trừ những bất hảo của kết quả. Trí nào thì quả nấy. Trí là thành phần của Vô ngã tạo ra để chúng ta trọn quyền sử dụng, và cũng nhờ Vô ngã, chúng ta mới hiểu biết, phân biệt được.

Do kết quả của kiếp trước nên ngày nay chúng ta mới có những ý niệm trong trí. Mỗi cái trí đều có cách thức rung động riêng và rung động không ngừng, tạo thành bức tranh sống động thay đổi liên tục. Mỗi ấn tượng hoạt động từ ngoại cảnh do nhãn cầu thu nhận và khối rung động đang có sẵn, sửa đổi khối rung động mới đến, đồng thời cũng bị khối rung động mới đến biến đổi nữa. Vì vậy, thành quả không do nơi sự phỏng tạo chính xác của khối rung động mới, mà do sự phối hợp giữa các rung động mới và các rung động đã có sẵn.

Thêm một thí dụ về ánh sáng: nếu chúng ta đặt một tấm kính màu đỏ trước mắt, rồi nhìn vào một cảnh vật có màu xanh lục, thì cảnh vật đó trở thành đen. Những rung động làm cho chúng ta cảm thấy sắc đỏ bị sự rung động của màu xanh lục ngăn lại, vì thế chúng ta thấy lầm cảnh vật màu xanh lục là màu đen. Cũng như vậy, nếu chúng ta nhìn vào cảnh vật có màu xanh da trời với kính màu vàng, thì cảnh vật đó cũng trở nên đen. Thành thử khi có hai màu sắc khác nữa, gọi là màu trung gian, ấn tượng này làm chúng ta có cảm giác như cảnh vật đổi màu, khác hẳn màu mà chúng ta đã thấy bằng mắt thường. Nhưng dầu chúng ta có thấy được bằng mắt thường, thì cũng chỉ thấy hơi khác hơn, vì khi mắt thu cảnh vật, tự nó sửa đổi sự rung động ấy với tốc độ mau lẹ quá sức tưởng tượng. Cái trí bị ảnh hưởng do sự trung gian giữa kính màu và cảnh vật, và đã làm cho cảnh vật ấy thay đổi màu sắc. Bản ngã không ý thức được ảnh hưởng của cái trí, cũng như một người chưa hề có cơ hội thấy, cũng không ý thức được cảnh vật thay đổi màu sắc, ngoại trừ sự nhìn thấy xuyên qua kính có màu xanh hay đỏ.

Khi chúng ta nói: “Cái Trí là kẻ sinh ra ảo tưởng”, theo ý nghĩa thông thường là cái trí có thể cho chúng ta biết hình ảnh sai lệch do sự phối hợp của cái trí với ngoại cảnh. Thật ra câu trên đây còn có ý nghĩa khác cao siêu và sâu  sắc hơn nhiều. Câu “Cái Trí là kẻ sinh ra ảo tưởng” có dụng ý chỉ cho chúng ta hiểu biết hình ảnh sai lệch đó là hình bóng ở ngoại cảnh chớ không phải là hình ảnh thật, nó chỉ là hình bóng của cái bóng do trí ta tạo ra. Bấy nhiêu đây cũng đủ cho chúng ta nhận thức về ảo ảnh do bản tính sáng tạo.

****

Nếu chúng ta hiểu biết thực trạng của thế giới, quan niệm của chúng ta sẽ thay đổi hẳn, vì từ nhỏ đến khôn lớn, chúng ta chỉ quen tánh hiểu biết thế giới bằng sự rung động sửa đổi của thể trí trong phạm vi sắc tướng. Điều này không phải không thể nhận thức được, mặc dù những người nhận thức được toàn là những người đã làm chủ được tư tưởng và tiến hóa cao. Nếu tâm không vọng động thì sự rung động của thể trí cũng ngưng hoạt động, cảnh vật bị tiếp xúc tạo ra một hình ảnh giống như cảnh thật, sự rung động về phẩm và lượng đều tương đương, không rung động với rung động của kẻ bàng quan. Hoặc giả tâm thức tự phóng ra ngoài và làm sống động cảnh vật khách quan để nó có thể trực tiếp cảm nhận những sự rung động. Có hai trường hợp để chúng ta nhận thức được thật sự của hình tướng.

1- Ý niệm trong cảnh giới thực tại mà sắc tướng tiêu biểu trạng thái hữu hình có thể hiểu biết được bằng tâm thức hoạt động trong Thượng trí mà không bị cái Trí cụ thể hay những thể thấp khác làm trở ngại.

2- Sự thật cho chúng ta biết rằng các sự vật đều do ấn tượng của chúng ta, chớ tự ta không thể biết được thực thể của sự vật –  ngoại trừ trường hợp trên - đó là điều quan trọng khi chúng ta áp dụng chơn lý này vào đời sống thực tế.             

Chơn lý dạy chúng ta phải khiêm tốn, thận trọng và lắng tai nghe những ý tưởng mới. Chúng ta cần phải diệt trừ tánh hay quả quyết rằng tất cả những gì chúng ta thấy đều đúng cả. Chúng ta hãy tập xét đoán chúng ta trước, rồi sẽ xét kẻ khác.

Sau đây là một thí dụ để làm sáng tỏ vấn đề:
     Tôi gặp một người có cách thức rung động có thể bổ túc cho sự rung động của tôi. Khi gặp nhau, chúng tôi không thích vì không hạp nhau. Giữa chúng tôi, không thấy có điều chi khác biệt, nhưng cả hai chúng tôi đều ngạc nhiên không hiểu tại sao ông A nào đó khen người mà chúng tôi chê dốt là thông minh, bởi vì chúng tôi chê bai lẫn nhau, người này nói người kia đần độn, người kia nói người này ngu ngốc. Song le, nếu tôi tự hiểu biết mình một chút, ắt không còn thắc mắc nữa. Thay vì tưởng nghĩ người ấy đần độn, tôi tự hỏi: Phải chăng tôi có điều chi sơ sót nên không thể đáp ứng sự rung động của người ấy ? Cả hai chúng tôi đều rung động, song nếu tôi không nhận thức được quan niệm và sự hoạt động của người ấy, là vì tại tôi không đáp ứng lại sự rung động của y. Tại sao tôi xét đoán người ấy ? Là bởi vì tôi không hiểu người ấy trước khi tôi tự sửa đổi cho đầy đủ để có khả năng tiếp nhận y.

Chúng ta không thể sửa đổi kẻ khác, nhưng ít ra chúng ta có thể tự sửa đổi ta, là cố gắng không ngừng để làm phát triển khả năng cảm ứng của chúng ta. Chúng ta phải trở thành ánh sáng trong suốt, hiển lộ trong các màu sắc, chẳng những không làm cho màu sắc hoen ố, mà làm cho màu sắc nổi bật và tươi thắm thêm. Chúng ta có thể đo khoảng cách giữa chúng ta và ánh sáng trắng trong suốt bằng cách dùng năng lực của chúng ta để đáp ứng lại các đặc tính khác nhau.

HẠ TRÍ VÀ MANAS (MẠT NA THỨC)
    
Bây giờ chúng ta có thể xem xét cách cấu tạo thể trí hay Trí cụ thể là quan năng của tâm thức theo trạng thái Người hiểu biết  hầu tìm hiểu sự cấu tạo này ra sao, và bằng cách nào chúng ta đã đào tạo cái trí trong dĩ vãng và tìm biện pháp sửa đổi nó trong hiện tại.

Xét về phương diện sự sống thì tinh thần là manas. Manas là trạng thái nhận thức của Bản ngã phản chiếu trong vật chất nguyên tử của cõi thứ ba gọi là Cõi Trí[10].

Xét về phương diện sắc tướng (hình dạng) thì manas có hai trạng thái riêng, mỗi trạng thái hoạt động theo điều kiện khác nhau do nơi tâm thức sử dụng manas  ở Cõi Trí. Hai trạng thái này do hợp chất của vật chất ở cõi trí bị thu hút vào chung quanh trung tâm rung động thuộc nguyên tử của cõi trí. Vật chất này tùy theo bản tính và cách dùng của tâm thức gọi là “chất liệu trí tuệ” hay “chất liệu tư tưởng”. Vật chất ấy tạo thành một vùng rộng lớn trong vũ trụ, thâm nhập vào chất thanh khí ở cõi Trung giới và chất Hồng trần ở thế gian. Các vật chất ấy tràn ngập trong bảy cảnh giống như trạng thái vật chất ở hồng trần. Những chất này rất nhạy cảm đối với sự rung động của trạng thái Bản ngã là sự hiểu biết, và trạng thái này ấn định cho nó đặc tính riêng.

Trạng thái thứ nhất –  cao hơn hết của cái trí –  là Thượng trí (Nhân thể). Thượng trí gồm có vật chất từ cảnh thứ năm và thứ sáu của cõi Trí, tương ứng những chất dĩ thái tinh vi hơn hết ở cõi Trần. Trong giai đoạn tiến hóa hiện tại thể Thượng trí này ở đa số có đôi chút phát triển, vì Thượng trí không dùng để suy luận những sự việc ở cõi Trần. Vậy ngay bây giờ, chúng ta nên tạm gác vấn đề Thượng trí qua một bên. Tóm lại, Thượng trí là quan năng của Trí trừu tượng.

Trạng thái thứ nhì, là thể trí, cũng gọi là Hạ trí. Nó gồm chất tư tưởng của bốn cảnh thấp hơn hết ở cõi trí, tương ứng với chất dĩ thái thấp nhất ở cõi Trần  trong trạng thái chất hơi, chất lỏng và chất đặc. Nó có thể gọi là thể trí dày đặc. Thể này chia làm bảy loại căn bản lớn, mỗi loại gồm nhiều hình thức và tùy trình độ phát triển khác nhau, nhưng tất cả đều tiến hóa theo định luật chung. Hiểu biết và áp dụng được những định luật này, tức là ta đem sự tiến hóa chậm chạp của thiên nhiên để đổi lấy sự tiến hóa mau lẹ do khiếu thông của người tự quyết định. Đó là điểm quan trọng của sự khảo cứu về thể trí.

RÈN LUYỆN VÀ NÂNG CAO THỂ TRÍ
     
Điều chúng ta cần phải hiểu là do phương pháp nào mà tâm thức rèn luyện được thể trí, vì trong đời sống hằng ngày hằng giờ, chúng ta đều có cơ hội áp dụng phương pháp ấy cho mục đích cao thượng. Dù trong khi thức hay ngủ, chúng ta vẫn luôn luôn đào luyện thể trí của chúng ta. Khi tâm thức rung động, thì nó cảm nhiễm chất thượng thanh khí hay chất tư tưởng ở chung quanh, một ý nghĩ vừa thoáng qua, cũng đủ cho nó thu hút vài phân tử của chất tư tưởng, rồi phóng ra ngoài vài phân tử khác. Về phần thể xác do Bản ngã mượn dùng tạm ở cõi trần cũng do sự rung động, nhưng đừng quên rằng yếu tính của tâm thức luôn luôn nhìn nhận chính nó là Vô ngã. Đó là vì tâm thức bao gồm hai chiều hướng tương phản nhau, cho nên khi thì tâm thức chấp nhận “Tôi là thế này”, khi lại phủ nhận “Tôi không phải là thế này”. Do đó tâm thức vận chuyển trong vật chất tạo thành sự hút vào rồi đẩy ra mà chúng ta gọi là rung động. Khi vật chất chung quanh bị tâm thức rung động, vật chất ấy liền truyền sự rung động đó ra để cảm nhiễm tâm thức khác.

Thế thì các vật chất, dù tinh khiết hay thô sơ, đều tùy thuộc tính chất rung động do tâm thức phát sinh. Các tư tưởng trong sạch và thanh cao gồm những rung động mau lẹ, chỉ cảm nhiễm các chất tinh vi của thể trí, còn những chất thô trược thì không cảm nhiễm, vì không rung động đồng nhịp với chất tinh vi được. Khi một ý tưởng cao đẹp rung động, các chất thô trược đều bị loại ra ngoài, đồng thời thay thế những chất tinh khiết vào để rèn luyện thể trí trong sạch. Trái lại, những tư tưởng xấu xa, đê hèn rất dễ thu hút các chất thô trược vào thể trí hạ tiện, đồng thời xua đuổi các chất tinh khiết ra ngoài.

Đặc tính rung động của tâm thức là luôn luôn sa thải chất cũ rồi đem chất mới thay vào để rèn luyện thể trí. Vì thế, mỗi hành động hay ý niệm vừa phát khởi đều gây nên hậu quả; như khi xưa chúng ta có những hành vi hay tư tưởng lành dữ thế nào thì ngày nay những hành vi hay tư tưởng đó đáp ứng lại cho chúng ta y như thế.

Nếu thể trí của chúng ta cấu tạo bằng chất tinh khiết thì ý tưởng xấu xa đê hèn không cảm ứng thể trí của chúng ta, nhược bằng, thể trí của chúng ta cấu tạo bằng chất thô trược, thì chất đó dễ cảm nhiễm những ý tưởng thoảng qua thấp hèn, mà không thể cảm nhiễm những ý tưởng tốt lành được.

Khi chúng ta tiếp xúc với một vị đạo hạnh có tư tưởng thanh cao, những rung động tư tưởng của vị ấy có năng lực khêu gợi nhịp rung động trong thể trí của chúng ta gia tăng tốc độ để có thể cảm ứng sự rung động tư tưởng của vị đó. Sự rung động này có công năng bài tiết lần lần những chất ô trược trong thể trí để sự rung động tư tưởng của chúng ta tăng thêm đến mức độ cao. Những lợi ích mà chúng ta nhận lãnh của các vị đạo đức phần lớn là do nơi ý tươM