trang nhà l trang sách l bản tin l thiền học l tiểu sử l trang thơ l h́nh ảnh l bài vở

ANNIE  BESANT
 

TÂM   PHÁP

THE  DOCTRINE  OF  THE  HEART

Trích từ những bức thư của các môn đồ Ấn Giáo.

Với lời nói đầu của Annie Besant.


 

LỜI NÓI ĐẦU

Hãy học phân biệt chân với giả, những điều phù du tạm bợ với điều vĩnh cửu muôn đời. Hãy học tập trước hết sự tách biệt của cái học trí óc với Minh triết-Linh hồn, cũng như “Nhãn pháp” với “Tâm pháp”.  –  Tiếng nói vô thinh.                  

Dưới tựa đề “TÂM PHÁP”, sách này có in một loạt bài thuyết giảng, chủ yếu gồm những đoạn trích trong thư tín của các bạn người Ấn. Chúng không đưa ra thực chất của một “quyền uy” nào cả mà chỉ chứa đựng những tư tưởng có thể vài bạn trong chúng ta nhận thấy hữu ích và chúng tôi muốn chia xẽ cho những người khác. Các điều này dự kiến chỉ dành cho những ai quyết tâm theo đuổi một đời sống cao cả hơn và đem lại sự chú ý cho những ai đặc biệt hiểu biết rằng chính đời sống này mới chắc chắn đưa họ bước vào Đường Đạo của Người Đệ Tử dưới sự dìu dắt của các Đấng Cao Cả vì các Ngài đã trải qua con đường đạo trong quá khứ nhưng vẫn còn lưu lại trên địa cầu hầu giúp đỡ những người khác; đến phiên họ, họ cũng phải đặt bước như các Ngài. Tư tưởng trong những bức thư này thuộc về các tôn giáo, nhưng sự phát biểu và tình cảm thì của người Ấn Độ. Lòng sùng tín cao quí, mãnh liệt được biết ở phương Đông là Bhakti –  tâm sùng đạo và tự hiến dâng trọn vẹn, không giới hạn cho Thượng Đế và các Đấng Thiêng Liêng mà sự sống của các Ngài đã biểu lộ qua thân xác của những người hiến dâng. Lòng sùng tín (Bhakti) này, không nơi nào được biểu hiện tuyệt vời như trong Ấn Giáo, mà tác giả những bức thư đây là các môn đồ, vì thế họ đã quen với lối hành văn phong phú, hoa mỹ của Phạn ngữ nên khi được chuyển sang Anh ngữ có vài sự hài hòa không rõ ràng cùng với hương vị thi ca ngọt ngào của ngôn ngữ chính gốc của họ. Người Anglo Saxon tính tình lạnh lùng, họ có vẻ dè dặt, tình cảm thường kín đáo; thế nên, họ hoàn toàn không quen với tâm hồn dồi dào, nhạy cảm tôn giáo của người phương Đông dâng trào tự nhiên như là khúc hát của con chim sơn ca. Tuy thế, đó đây ở phương Tây, chúng ta cũng có thể tìm thấy một Bhakta (người sùng đạo) rất chân thành, ví dụ Thánh Thomas  a  Kempis, Thánh Theresa, Thánh John vác Thập tự giá, Thánh Francis ở Assisi, Thánh Elisabeth ở Hungary. Tuy nhiên, phần lớn sự nhạy cảm tôn giáo ở phương Tây dù cho sâu sắc chân thành thế mấy cũng đều có khuynh hướng im lặng và tự ẩn giấu. Đối với những người như thế thì các bức thư này không cần thiết và cũng không dự định dành cho họ.

Giờ đây chúng ta hãy quay sang việc xem xét một trong những điều tương phản rõ nét về đời sống cao cả hơn. Thật sự thì tất cả chúng ta đều nhận thức rằng huyền bí học đòi hỏi chúng ta phải có nghị lực cần thiết cho một cách xa lánh nào đó và đồng thời phải tuân thủ một kỷ luật tự giác. Cả hai điều mà chúng ta rất ưu ái và ngưỡng mộ là bậc tôn sư, H.P.B và cái truyền thống về đời sống huyền môn chúng ta đã nghiêm túc học qua là tính dứt bỏ và sự tự chủ; đây là những qui định đối với người có thể sẽ bước qua cổng Thánh Điện. Chí Tôn Ca (Bhagavad Gita) không ngớt lập lại lời dạy về tính chất khác nhau giữa đau khổ và vui thích, về sự thăng bằng trọn vẹn trong mọi hoàn cảnh, mà nếu không có những điều đó thì không thể thực hiện được yoga chân chính nào. Về khía cạnh này của đời sống huyền môn, tất nhiên phải được mọi hành giả nhận thức qua phần lý thuyết cùng với sự phấn đấu tuân thủ để tự mình thâm nhập trọn vẹn. Còn khía cạnh khác của đời sống này, thật sự là vấn đề được nói nơi quyển Tiếng nói vô thinh, bao gồm lòng thiện cảm với tất cả giới hữu tình cũng như thích ứng kịp thời nhu cầu của mọi người. Đó là sự biểu hiện tuyệt vời của các “ Chân Sư Từ Ái” và vì Người, chúng ta phụng sự như được đưa ra nơi tựa đề. Theo đó việc rèn luyện bên ngoài mỗi ngày thì những bức thư này trực tiếp hướng dẫn tư tưởng chúng ta và là những gì chúng ta hay bỏ qua nhất trong cuộc sống của mình; dù sau cũng có nhiều điều tốt đẹp của nó cùng với sự toàn hảo có thể làm rung động tâm hồn chúng ta. Nhà huyền bí học chân chính là người biết phán xét thật nghiêm khắc cá nhân mình và phần nhiều họ là người cương quyết trong công việc khó khăn được giao, là bạn hữu rất thông cảm với mọi người ở xung quanh, đồng thời cũng là người giúp đỡ hòa nhã nhất. Đạt đến trạng thái dịu dàng và năng lực đồng cảm này là mục tiêu của mỗi chúng ta và nó chỉ có thể thành tựu bằng cách rèn luyện không ngừng những điều đó để hướng đến mọi người ở xung quanh mà chẳng hề có sự phân biệt nào cả. Mỗi người muốn trở thành nhà huyền bí học phải sẽ là nhà huyền bí học trong gia đình mình, và trong vòng thân cận thì tin chắc nơi sự đồng cảm và giúp đỡ để họ sẵn sàng biến đổi nỗi đau khổ âu lo và tội lỗi của mình. Có thể họ nghĩ rằng hầu hết không có gì hấp dẫn, tất cả thật chán ngắt, buồn nãn và không hài lòng, nhưng ít ra họ cũng có được một người bạn. Mọi khát vọng hướng đến một cuộc sống tươi đẹp hơn; mọi mơ ước nảy nở trong lòng là được phụng sự vô tư, trong sáng; mọi nguyện vọng phần nào được sống sao cho cao thượng hơn và có thể tìm thấy nơi anh một sự can trường đang sẵn sàng và mãnh liệt. Từ đó, mọi mầm mống tốt lành có thể bắt đầu tăng trưởng với nhiệt tình và sự khích lệ do bản chất từ ái đang hiện hữu trong anh.

Đạt đến năng lực phụng sự này là một vấn đề tự huấn luyện trong đời sống hằng ngày. Trước hết, chúng ta cần phải nhận biết cái NGÃ trong tất cả mọi người chỉ là một; do đó, nơi mỗi người mà chúng ta sẽ giao tiếp, chúng ta phải phớt lờ cái vẻ khó thương ở sắc diện bên ngoài và tìm hiểu cái NGÃ nội tại nơi tâm của họ. Điều kế tiếp là phải hiểu thấu đáo –  bằng sự xúc cảm chớ không thể chỉ trên lý thuyết –  rằng cái NGÃ đang cố gắng tự biểu lộ xuyên qua những vỏ bọc bên ngoài là sắc tướng, chính những vỏ này làm ngăn ngại nó; nhìn chung, thì bản chất bên trong hoàn toàn là tình thương, là từ ái, chính những vỏ bọc xung quanh cái NGÃ khiến chúng ta bị lệch lạc. Vậy, chúng ta sẽ phải tự đồng nhất với cái NGÃ đó. Điều mà chúng ta phải thừa nhận chính mình là tinh túy của nó và cùng nhau cộng tác để chiến đấu chống lại bản chất thấp hèn luôn tìm cách bóp chẹt sự biểu lộ CHÂN NGÃ. Khi chúng ta hoạt động theo bản tính thấp kém, tầm thường của mình trong việc giúp đỡ anh em, thì đường lối duy nhất để đạt hiệu năng là thấy điều chúng ta và họ không khác nhau, cũng hạn chế, cũng thành kiến, cũng là ảo tưởng lệch lạc, chúng ảnh hưởng bản tính thấp của chúng ta. Vậy sự giúp đỡ này phải theo đường hướng của họ chớ không phải của chúng ta, vì như thế mới có thể thực hiện được sự giúp đỡ chân chính. Đây là cách huấn luyện trong huyền môn. Chúng ta phải học sao để tự mình rút ra khỏi cái bản tính thấp kém, tầm thường đó; phải nghiên cứu nó, nhận biết những cảm nghĩ của nó và đừng bao giờ bị nó ảnh hưởng ngay cả những khi dễ xúc động, và vì thế trong khi chúng ta rút kinh nghiệm bằng xúc cảm, chúng ta phải phán đoán với trí thông minh.

Chúng ta phải vận dụng phương pháp này trong việc giúp đỡ anh em mình cho đến khi chúng ta cùng với họ đồng một cảm nghĩ như sợi dây đàn đồng âm thanh hòa cùng một nốt với họ, rồi từ đó, chúng ta phải thoát ra khỏi mọi sự ràng buộc của cái “TÔI” để xét đoán, khuyên lơn và nâng đỡ nhưng luôn luôn sử dụng cách nào để anh em chúng ta nhận biết rằng bản tính tốt đẹp hơn của y tự biểu lộ qua lời lẽ của chúng ta.

Chúng ta thật tâm mong muốn chia xẽ những gì tốt lành nhất của mình, một cuộc sống TINH THẦN không giữ lại điều chi nhưng để cho ra tất cả. Thường những điều “tốt đẹp nhất” của chúng ta có thể không hấp dẫn đối với người mà chúng ta đang cố gắng giúp đỡ, chẳng khác nào nghệ thuật thi văn cao quí đối với một em nhỏ bé bỏng. Khi những điều tốt đẹp nhất được chúng ta trao cho thì anh này có thể hấp thu được, nhưng anh kia lại từ chối chẳng phải vì chúng ta miễn cưỡng trong công việc, mà thật ra là chưa phải lúc. Vì thế, các Chân Sư Từ Ái thực hiện sự giúp đỡ chúng ta như giúp đỡ con cái các Ngài; y như phương thức đó, chúng ta tìm cách cố gắng giúp đỡ những người còn trẻ tuổi hơn về cuộc sống Tinh Thần.

Chúng ta không được quên việc tình cờ có người đến với chúng ta trong một lúc nào đó, họ chính là người mà Chân Sư đưa đến để chúng ta phụng sự ngay thời điểm này. Nếu chúng ta thiếu nhạy bén, thiếu kiên nhẫn hay thờ ơ lãnh đạm, dĩ nhiên việc giúp đỡ người ấy sẽ thất bại, đồng thời chúng ta không làm tròn nhiệm vụ đối với Ngài. Thường chúng ta hay bỏ lỡ phận sự ngay trước mắt vì đang say mê công việc khác và thiếu hiểu biết nhiệm vụ giúp đỡ linh hồn nhân loại được trao cho chúng ta ngay lúc đó. Vậy, chúng ta cần nhắc nhở lòng mình về mối nguy cơ này, do sự tinh tế trong nhiệm vụ nên nó thường là nhiệm vụ giả vờ, nếu sự hiểu biết chưa sâu sắc thì không thể hoàn thành được nhiệm vụ. Chúng ta cũng không có ý muốn làm một vài công việc thuộc loại đặc biệt nào đó, luôn luôn chúng ta phải thật lưu ý đến công việc, nhưng với một tâm hồn tự do, thanh thoát và “chuyên chú ” sẵn sàng đáp ứng tiếng nói thì thầm khe khẻ nhất của Chân Sư, có thể các Ngài cần chúng ta trong việc phục vụ một vài người nào đó mà qua chúng ta họ sẽ được giúp đỡ.

Tính nghiêm khắc đối với các thể thấp của bản thân được trình bày trên đây, là một điều kiện để công việc phụng sự có hiệu quả, vì chỉ người không còn chú ý đến chính bản thân mình, dửng dưng với sự vui thích và đau khổ mới đầy đủ tự do tỏ sự đồng cảm trọn vẹn với người khác. Không tha thiết điều gì nên anh có thể cho ra tất cả. Với tình thương vị tha, anh trở thành hiện thân của tình thương cho mọi người.

Trong huyền bí học, quyển sách của sự sống giúp chúng ta thay đổi quan niệm chủ yếu về sự chú ý. Chúng ta nghiên cứu các sách khác chỉ để tuân theo những gì chúng ta có thể thực hiện trong cuộc sống. Đối với việc học tập, ngay cả những tác phẩm huyền bí cũng chỉ duy nhất có nghĩa là để mở mang tinh thần, nếu chúng ta đang phấn đấu sống một cuộc đời như thế thì mới thật sự là sống, không phải chỉ để hiểu biết suông mà đó là sự tinh luyện tâm hồn, khác với việc kiến thức choán đầy đầu óc. Đây là những điều hướng dẫn chúng ta đến dưới chân Sư Phụ.

Từ ngữ “lòng sùng tín” là bí quyết của mọi sự tiến bộ thực sự của đời sống tinh thần. Trong công việc, chúng ta tìm kiếm sự phát triển các hoạt động tinh thần, chớ không mong tìm những kết quả làm ta hài lòng, vì đây là việc phụng sự các Chân Sư chớ đâu phải để thỏa mãn cá nhân chúng ta. Đối với sự thất bại nhất thời, chúng ta không nên thối chí, nản lòng cũng như những khi rơi vào tình trạng u ám, khó khăn gần như không còn sinh khí; chúng ta có thể rút kinh nghiệm cho đời sống nội tâm chúng ta.

Vậy phụng sự vì lợi ích của công việc chớ không vì vui thích mới bắt tay vào việc, đó là một bước tiến tới rõ rệt vì chúng ta bắt đầu đạt được sự quân bình nội tâm cũng vô tư trong nhận xét, chúng ta có thể an lòng phụng sự dù lúc thất bại cũng như lúc thành công, lúc tâm tư vẩn đục hay khi trong sáng. Nếu chúng liên tiếp chi phối phàm ngã đến mức cảm thấy thật vui thích khi thực thi công việc của Chân Sư thì những điều này chỉ là nỗi đau khổ của bản tính thấp kém của chúng ta; bước tiếp nữa là chúng ta phải phụng sự với nhiệt tình và chu đáo dù khi niềm vui thích kia có biến mất đi và tất cả sự hân hoan thư thái như bị mây che khuất hoàn toàn. Mặt khác, khi phụng sự các Đấng Thiêng Liêng, chúng ta có thể lại phục vụ cho chính mình –  phục vụ vì những gì các Ngài ban cho chúng ta chớ không phải vì tình thương trong sạch.

Ngày nào hình thức tinh vi này của việc tìm kiếm cho riêng mình chiếm ưu thế là ngày đó chúng ta có nguy cơ thất bại trong công việc phụng sự, nếu xung quanh chúng ta còn nhiều sự tối tăm bao phủ, nếu trong lòng còn cảm thấy sắp chết đến nơi và tuyệt vọng. Ngay trong đêm buồn ảm đạm này của tinh thần mà nhiệm vụ cao quí nhất vẫn được tuân thủ, thì mọi sự cám dỗ cuối cùng của bản tính thấp kém sẽ đổ vỡ tan tành.

Sở dĩ chúng ta nhấn mạnh đến lòng sùng tín, bởi vì khắp nơi, chúng ta nhận thấy nhiều người chí nguyện bị lâm nguy khiến cho sự tiến triển công việc của Chân Sư bị ngăn trở do những yếu tố mạnh nhất của tự ngã. Đây chính là đối thủ của chúng ta và đây cũng là chiến trường nữa. Khi nhận thấy những điều này, người chí nguyện có thể tiếp đón mọi thứ trong cuộc sống hàng ngày của mình để rồi đập vỡ ra từng mảnh những gì đã bám chắc, ăn sâu phàm ngã; tuy nhiên cũng phải biết ơn tất cả “những người khó ưa” đã nhẫn tâm xúc phạm anh, làm náo động tình cảm cũng như chạm đến lòng tự ái của anh. Họ là những người bạn tốt nhất, những người trợ giúp nhiều nhất của anh mà chẳng bao giờ quan tâm, chú ý điều nào cả; nhưng chúng ta phải biết ơn những gì họ đưa đến đã làm tổn hại tinh thần đối thủ lợi hại nhất là phàm ngã của chúng ta. Thế nên hãy để ý điều này trong đời sống hàng ngày vì nó trở nên một trường huyền bí học và chúng ta bắt đầu học tập sự quân bình toàn hảo rất cần cho một quãng đường cao hơn của người đệ tử trước khi có được tri thức thâm sâu; và do đó mà quyền năng có thể đặt vào đôi tay của chúng ta. Vậy, nơi nào không có sự yên tĩnh, tự chủ, cũng như sự dửng dưng với các vấn đề cá nhân, lòng sùng tín trong sáng phục vụ kẻ khác, thì nơi đó, không có huyền bí học chân chính, cũng không có đời sống tinh thần thật sự. Thần linh học bậc thấp không đòi hỏi những đặc tính này, thế nên, những tay huyền bí học giả mạo chấp nhận ngay, còn Huyền môn Chánh đạo đòi hỏi những đặc tính đó cốt để môn sinh có được những điều kiện gia nhập vào Hàng ngũ Tân tín đồ. Vậy, mục tiêu trọng yếu của mỗi người chí nguyện là tự rèn luyện vì họ có thể phụng sự và thực hành nghiêm túc kỷ luật bản thân để “khi Chân Sư nhìn vào tâm họ, Ngài có thể thấy không còn một vết bợn nhơ nào cả”. Sau đó, Ngài sẽ dắt tay anh và hướng dẫn anh đi về phía trước.

                                                                                       Annie Besant

 

Tai họa treo lơ lửng trên đầu con người đặt niềm tin của mình gắn chặt vào tài sản riêng tư bên ngoài hơn là sự an tịnh nội tâm, vì điều này không tùy thuộc vào lối sống ở ngoại cảnh. Thực tế là càng có những tình huống không thuận lợi nhiều thì phải có sự ngưỡng mộ, sự hi sinh lớn lao hơn trong cuộc sống giữa con người với nhau, họ tiến gần đến mục tiêu cuối cùng nhờ bản chất tự nhiên của bao thử thách khó khăn phải vượt qua. Do đó, bởi thiếu khôn ngoan nên con người dễ bị lôi cuốn quá mức vào cách biểu lộ của sinh hoạt tôn giáo bên ngoài, vì những gì diễn ra trên cõi giới vật chất thì thật phù du hão huyền, chỉ đưa đến sự chán nản, thất vọng đắng cay. Vậy, bất cứ ai khi đã bị thu hút mãnh liệt vào một lối sống nào ở ngoại giới thì sớm muộn gì cũng phải học bài học về tính chất tương đối, vô nghĩa của tất cả sự vật trần gian. Và họ cũng trải qua sớm những kinh nghiệm bắt buộc do nghiệp quả của quá khứ, dĩ nhiên nó tốt hơn cho cá nhân họ. Quả thật khi có điều khó chịu bất ngờ giáng xuống, nó khiến con người khó giữ vững vị trí, thế nhưng luôn luôn cần phải nếm qua chén đắng nếu muốn chữa trị tận gốc sự dại khờ. Khi cơn gió nhẹ từ Tòa Sen của các Ngài êm ả thổi qua linh hồn, thì bạn sẽ hiểu biết được sự tồi tệ ở môi trường xung quanh không đủ sức phá hỏng khúc nhạc quyến rủ trong tâm hồn bạn.

Cũng như một người Âu có nhiệt tâm với huyền bí học, cảm thấy gần gũi với Đấng Cao Cả hơn khi y đặt chân lên đất nước Ấn Độ; và cái cảm giác của một người Ấn thì cũng thế khi y trèo lên đỉnh cao của ngọn Tuyết Sơn. Nhưng dù sao đây cũng chỉ là một ảo giác, vì một người không thể tiếp cận được Đấng Thanh Khiết bằng cách di chuyển của hồng trần mà phải bằng tấm lòng trong sạch và kiên quyết chịu đựng khổ nhọc vì hạnh phúc thế gian. Cũng bởi sự kém hiểu biết của người đời lầm lạc đáng thương nhìn các Đấng Tôn Kính của chúng ta nên tôi xin nhắc lại những lời này: “Tiếng huýt gió của con rắn làm tổn hại vẻ uy nghi hùng vĩ của ngọn Tuyết Sơn hơn là lời vu khống, lăng mạ của thế gian đối với ai đó trong chúng ta”.

  

* * *

Tất cả các môn sinh cần có một kiến thức nào đó về huyền bí học, dù chỉ một lần thừa nhận rằng có các tập đoàn tác nhân vô hình thường xuyên tham gia vào những sinh hoạt nhân loại. Các Tinh linh Ngũ hành thường tạo mọi loại ảo tưởng và sự lừa bịp qua cách hóa trang, cũng như các thành viên trong Huyền Môn Hắc Đạo thích mê hoặc và đánh lừa kẻ có nhiệt tâm với minh triết chân chính, người ta cũng phải nhận biết Bản Chất đó trong các sự việc nhân ái quan trọng và công bằng tuyệt đối, nhờ vào vài khả năng phân biệt giữa tiếng nói của những cư dân trong không khí và của các Chân Sư. Tôi thiết tưởng những điều đó sẽ được tán thành toàn diện vì rằng lý trí, trực giác và lương tri vốn là năng lực cao tột của chúng ta, điều duy nhất nhờ đó, chúng ta mới có thể hiểu được chân với giả, tốt với xấu, đúng với sai. Bản chất này nếu được hiểu là không có gì hết thì chắc chắn sẽ thiếu năng lực soi sáng lý trí, thiếu sự thích ứng với yêu cầu thận trọng cao nhất của bản chất đạo đức để luôn luôn được xem như là thông điệp của các Chân Sư.

Vậy, cũng phải nhớ rằng các Chân Sư ở đây là các Chân Sư Minh Triết và Từ Ái, tiếng nói của các Ngài soi sáng và mở mang tâm trí ta chớ không hề làm bối rối và gây lo lắng, ưu tư; các Ngài trấn tĩnh chớ không làm náo động sự yên tịnh của chúng ta, các Ngài nâng đỡ chớ không làm mất đi thanh thế. Các Ngài không hề áp dụng phương pháp làm héo mòn tâm trí, tê liệt lý trí cũng như trực giác. Làm sao tránh được hậu quả nếu các vị Đế Quân của Tình Thương và Ánh Sáng lại gán ép cho các môn đồ những truyền thông chống lại lý trí lẫn tri thức đạo đức ? Thế nên sự cả tin mù quáng có thể chiếm chỗ của niềm tin sáng suốt; sau đó, việc làm tê liệt đạo lý luân thường thay việc phát triển tinh thần làm cho người mới nhập môn chắc hẳn sẽ không được giúp đỡ, cũng không có ai hướng dẫn dìu dắt họ, để rồi triền miên trong thú vui thích, nô đùa của vài tinh linh và các nhân vật Bàn Môn hiểm độc.

Phải chăng đây là định mệnh của con đường người đệ tử ? Con đường của Tình Thương và Minh Triết như thế sao ? Tôi không nghĩ là bất cứ ai biết suy luận lại tin tưởng nó lâu được, mặc dù trong khoảnh khắc người ấy có thể bị mê hoặc và cả tin những điều hết sức vô lý như thế.

 

                                         * * * * * * * * * * * * * *

 

Một trong biết bao điều do dự, nghi ngờ ở tâm trí của người đệ tử gây ra cho y nhiều nỗi đau buồn, đó là sự ngờ vực rằng tính chất yếu đuối, nhu nhược của thể xác có thể làm ngăn chận bước tiến của tinh thần. Tiến trình đồng hóa và bảo dưỡng tinh thần không cần phải hao tổn năng lượng vật chất mà sự phát triển tinh thần cũng có thể tiếp tục trong khi xác thân chịu đựng đau đớn. Đây hoàn toàn là một ảo tưởng và cũng là món nợ đời đến kỳ phải thanh toán do thiếu hiểu biết và sự quân bình nội tâm nên thân xác phải chịu đựng nhiều khổ sở và đói khát để làm cho nó đáp lại những kinh nghiệm tinh thần. Đây là lúc thực thi công việc phụng sự hữu dụng nhất cho mục tiêu của Tập đoàn các Đấng Thiêng Liêng phải vững vàng và sẽ có được sự tiến bộ thật sự. Khi đúng thời điểm, những kinh nghiệm tinh thần cần ghi ấn tượng sâu sắc vào tâm thức qua não bộ thì thể xác không thể nào cản trở được. Một ít khó khăn do thể xác gây nên có thể bị xóa sạch ngay tức khắc. Việc tin rằng do một sự cố gắng nào đó của thể xác, bằng một bước duy nhất có thể giúp sự phát triển tinh thần tiến lên là một lầm lạc. Con đường tiếp cận các Ngài là sự thực thi một cách tốt đẹp nhất những điều mà các Ngài mong ước được thực hiện, khi đã hoàn thành thì không có gì khác để làm thêm nữa.

                                     * * * * * * * * * * * * * * *

Đối với tôi dường như những điều này thật đặc biệt ngọt ngào do sự bền lòng kiên nhẫn cũng như trong niềm vui tự hi sinh ý chí của mình cho ý chí của các Vị hiểu biết nhiều hơn và luôn dìu dắt ta chân thành. Như thế không có gì là ước muốn cá nhân trong đời sống Tinh Thần cả. Cho nên người đệ tử có thể vui vẻ hi sinh hạnh phúc của riêng mình thì các Ngài nhận thấy cơ hội làm việc cho những người khác qua trung gian của đệ tử. Đôi khi trong lúc cô đơn, người đệ tử cảm thấy như mình bị bỏ rơi, tuy thế, y lại luôn luôn cảm thấy có các Ngài ở bên cạnh khi công việc được hoàn thành. Do đó, giai đoạn tối và sáng phải xen kẽ nhau và chắc chắn phải tốt đẹp vì bóng đêm chỉ ở một lúc và ảnh hưởng đến khi chúng ta cảm thấy cô đơn, cho dù ngay cả nỗi đau khổ ấy của riêng ta có thể sẽ tăng phần mãnh liệt. Cảm nhận được sự hiện diện và ảnh hưởng của các Ngài thật là món quà thiêng liêng nhất khó thể tưởng tượng được, nhưng rồi ngay cả điều đó chúng ta cũng lại phải tự nguyện hi sinh nữa bởi khi ta từ chối vì nghĩ rằng điều đó quá cao cả, quá tốt lành đối với chúng ta, thì cuối cùng điều thiện trên cõi hồng trần đạt được thật dễ dàng

                           

                                    * * * * * * * * * * * * * * 

Hãy cố gắng hiểu thấu đáo vẻ đẹp của sự đau khổ khi đau khổ ấy chỉ đem lại cho con người tư cách xứng đáng với công việc phụng sự. Chắc chắn không bao giờ chúng ta khao khát hòa bình nếu cần phải sống trong sự xung đột trên thế gian để giúp đời. Cố gắng cảm thấy rằng dù sự tối tăm dường như bao quanh bạn, song nó không có thật. Đôi khi chúng tự ẩn trong một ảo ảnh không quan trọng của ngoại cảnh, nhưng đó là phúc lành tỏa ra với sự phong phú đặc biệt khi đúng thời điểm. Trong những lúc tối tăm bao quanh thì lời nói không giúp ích được nhiều, lúc bấy giờ người đệ tử phải cố gắng giữ vững niềm tin của mình trong trạng thái đang cận kề bên cạnh các Đấng Cao Cả và nghĩ rằng dù ánh sáng chỉ tạm thời rút khỏi tâm thức–thức tỉnh của tinh thần nhưng dưới sự ban rãi từ bi và minh triết nó đang tăng trưởng hàng ngày trong nội tâm. Và khi tinh thần nhạy cảm trở lại, nó thật bất ngờ và vui mừng nhận thấy làm thế nào những công việc của tinh thần vẫn tiếp tục mà không có sự tham dự của ý thức tỉ mỉ nào đó. Chúng tôi hiểu biết Đại Luật. Trong đêm tối tăm của cõi giới tinh thần với nỗi sợ hãi cố hữu dù lớn lao hay bé nhỏ vẫn tiếp diễn theo là ánh sáng ban ngày và người đã giác ngộ nhận ra sự mờ mịt, u ám là hiệu quả của một qui luật thiên nhiên nên không còn phiền não. Chúng ta có thể chắc chắn rằng đến phiên tình trạng u ám đó rồi cũng sẽ tan đi. Phải luôn luôn ghi nhớ rằng sau đám khói mờ dày đặc nhất bao giờ cũng có ánh sáng tỏa ra từ Tòa Sen của các Đấng Chí Tôn trên thế gian. Hãy vững vàng và đừng bao giờ làm mất niềm tin nơi các Ngài và rồi không có điều gì phải lo sợ. Thật sự, bạn phải chịu đựng nhiều thử thách, nhưng chắc chắn bạn chống cự lại chúng.

Khi bóng đêm mờ mịt treo lơ lửng như một bức màn bao quanh linh hồn, đó là lúc bạn phải có khả năng trông thấy thế nào thực sự là bóng tối và đâu là ảo tưởng hão huyền. Thế nên, chính sự tối tăm này cuối cùng đủ sức hủy hoại biết bao linh hồn cao quí nhưng chưa đạt đến mức độ chịu đựng lâu dài bền bỉ.

  

                                           * * * * * * * * * * * * *
      Đời sống Tinh thần và lòng Từ ái dù cho ra bao nhiêu cũng không cạn kiệt. Sự tiêu dùng chỉ thêm vào nguồn dự trữ và khiến cho nó càng phong phú dồi dào và mạnh mẽ hơn lên. Hãy cố gắng an vui và hài lòng càng nhiều càng hay, bởi vì trong an vui mới có đời sống tinh thần đích thực; còn đau buồn, tuyệt vọng chỉ là kết quả của vô minh và nhận thức thiếu sáng suốt của chúng ta. Cho nên, bạn phải chế ngự theo khả năng của bạn; cảm giác buồn phiền làm mờ mịt bầu không khí tinh thần. Dù bạn không thể ngăn chận trọn vẹn khi chúng ập đến, nhưng ít ra bạn không thể buông xuôi phó mặc. Vì thế, bạn hãy nên nhớ rằng sự toàn phúc ngự nơi tâm vũ trụ.

 

                                            * * * * * * * * * * * * * *

Trong tâm của người đệ tử đã hiến dâng không có chỗ cho những nỗi niềm tuyệt vọng, vì điều đó làm yếu đi lòng tin cũng như tín ngưỡng và như thế chúng sẽ cung cấp một đấu trường cho những năng lực đen tối để tranh chấp gay go. Xúc cảm này là một ảo tưởng để tự chúng hành hạ người đệ tử và khi xảy ra ảo tưởng đó chúng có thể đạt một vài lợi điểm. Qua bao kinh nghiệm cay đắng nhất, tôi mới học được rằng tự tín thật sự không giúp được gì và thậm chí với sự thử thách có bản chất loại này còn lừa gạt ta nữa. Chỉ có một phương cách để đào thoát an toàn ra khỏi những ảo tưởng này là tự hiến dâng trọn vẹn cho các Ngài. Lý do của điều này thì quá rõ ràng. Một sức mạnh muốn có tác động vào những gì chống lại nó thì cả hai phải ở cùng một cảnh giới để trên đó năng lực mới đối kháng nhau được. Nay, những điều lo âu và ảo tưởng kia không còn được phàm ngã sinh ra thì phàm ngã cũng không cần sức chống lại chúng. Vụ việc này đến từ các Nhân vật trong Bóng Tối nên chúng chỉ có thể bị vô hiệu hóa bởi những Huynh Đệ Chánh Đạo. Tuy nhiên, cần thiết để được an toàn là phải bỏ rơi phàm ngã –  bản tính chia rẽ của chúng –  và giải thoát khỏi tất cả các Àhamkàra[1].

                                        * * * * * * * * * * * *

Hãy hiểu biết rằng ta phụng sự Hội [2] của chúng ta –  hoặc vì vấn đề có tầm sinh hoạt quan trọng nào đó đều được đặt dưới sự quan sát, trông nom của những Đấng Quyền Lực thông tuệ bao la và cao cả hơn chính bản thân bé nhỏ của chúng ta, sự liên hệ này không cần thiết nhiều cho chúng ta mà cho sứ mệnh chủ yếu của Hội, phần còn lại là sự hài lòng thực thi cẩn thận nhiệm vụ và cần cù trong phần việc được chỉ định theo sự sáng suốt và khả năng cao nhất của chúng ta. Sự cẩn thận và lo lắng chắc chắn có những chức năng của riêng nó nằm trong sự tiết kiệm năng lượng của thiên nhiên. Ở người thường thì bộ óc được dùng xử lý công việc và ngay cả giúp cho các bắp thịt vận động; không có những sự kiện này thế gian khó thể hoàn tất phân nửa sự tiến bộ trên cõi giới vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, ở một giai đoạn nhất định của sự tiến hóa nhân loại, những điều này được thay đổi bằng một tri thức về bổn phận và tình yêu chân lý cùng với tầm nhìn trong sáng có sức thúc đẩy hướng về phía trước trong việc phụng sự. Như vậy, để đạt được mức đó không hề do bất cứ một số phân tử năng lượng và khí lực của hệ thần kinh nào. Thế nên, bạn phải tống khứ hết tất cả sự nản lòng, thất chí và hướng thẳng linh hồn bạn về Nguồn Ánh Sáng để phụng sự cho mục tiêu quan trọng cuối cùng mà vì đó bạn có mặt ở đây, tâm bạn ôm trùm tất cả nhân loại nhưng hoàn toàn an phận về kết quả công lao của bạn. Các bậc hiền nhân thánh triết của chúng ta đã dạy như thế, chính Đức Sri Krishna đã cổ vũ Arjuna trên chiến trường, và vì lẽ đó, chúng ta sẽ phải đích thân điều khiển năng lực của mình. Cảm nghĩ của tôi liên quan đến những nỗi đau khổ thế gian cũng rõ ràng, chính xác như của các bạn. Không có gì đau khổ cho tôi hơn là cách xử sự mù quáng, thô bạo của đa số các bạn đã trưởng thành đang theo đuổi những cảm giác và bày tỏ ý kiến trống rỗng, vô nghĩa, còn sai lầm do ảnh hưởng của đời sống thế tục của họ. Quan niệm dốt nát và điên cuồng này làm xúc động và mủi lòng tôi nhiều hơn là sự thử thách cam go về mặt vật chất mà nhân loại phải gánh chịu. Mặc dù lời cầu nguyện cao quí của Rantideva đã trước đây làm tôi xúc động sâu xa nhiều năm từ khi tôi có được một cái nhìn thoáng qua về bản chất bên trong của sự vật, tôi xem những quan niệm của Đức Phật thật là uyên bác và siêu tột hơn hết. Dù tôi có thể vui lòng cùng chịu nỗi khổ cực hầu an ủi một đệ tử đang bị đau đớn dày vò; nhưng vì thấy được những nguyên nhân và hậu quả mật thiết của sự khổ sở đó, nên nỗi đau buồn của tôi về tình cảnh ấy không mãnh liệt bằng lòng thương xót sự cơ cực của những người kém hiểu biết đáng thương, một cách thiếu khôn ngoan nên đành cam chịu trang trải các hình phạt về tội ác mà họ đã gây ra trong quá khứ. Chức năng của trí tuệ chỉ là so sánh và suy luận; còn sự hiểu biết tinh thần vượt xa hơn nhiều. Với trí năng tinh vi khôn khéo có lẽ bạn đã phát ngấy như người bị bội thực trong cái môi trường xung quanh mà bạn đang sống, nhưng nói cho cùng thế gian chỉ là một học đường, một học viện đào tạo, và tuy nhiên, đối với người có suy tư sâu sắc không có kinh nghiệm nào dù là đau khổ hay lố lăng lại không thể dùng được và có giá trị sâu xa mà chúng ta vượt qua chỉ làm chúng ta khôn ngoan hơn và chính những điều sai lầm sẽ giúp chúng ta được vững vàng đáng kể trong tương lai. Cho nên, chúng ta không nhất thiết phải càu nhàu, ta thán về bất cứ điều gì dù cho bề ngoài có làm ta khó chịu.

 

                                     * * * * * * * * * * * * * *

Nhân Quả mà Chí Tôn Ca và Yoga Vàsishthà [3] đã dạy, có nghĩa là hành động và ý chí bắt nguồn từ Vàsanà hay dục vọng. Điều này được đề ra riêng biệt trong qui luật đạo lý, vì không có việc gì hoàn thành với cảm giác thực sự bởi nhiện vụ, cũng không có được gợi ý bởi cảm nghĩ “cần phải làm”, mà có thể nói đó là triệu chứng thoái hóa bản chất đạo đức của người thực hiện ngay khi nếu y bị sai lầm trong phân định về nhiệm vụ và sự đúng mức của y. Sai quấy đương nhiên phải bù lại bằng đau khổ mới tương xứng với lỗi lầm nhưng chắc chắn điều đó không hề làm mất đặc tính hay làm hoen ố Jivàtma [4] .

 

                                         * * * * * * * * * * * * *

Thật thích hợp để áp dụng tất cả những biến cố trong cuộc đời như là những bài học để chuyển chúng thành lợi điểm, và như thế, sự buồn rầu khi phải xa lìa các huynh đệ thương mến cũng hữu ích cho chúng ta nữa. Vậy thế nào là không gian và thời gian trên cõi Tinh Thần ? Nó chỉ là ảo ảnh của khối óc, không thực thể, nó dường như không tồn tại và thiếu sự tác dụng của thể trí, mà chính cái trí là vỏ bọc bên ngoài giam cầm Jivàtmà (Chơn Ngã). Đau khổ chính là sự thôi thúc trong sạch và rất hiệu nghiệm cho cuộc sống đầy đủ của Tinh Thần. Rốt cuộc, sự tốt lành sẽ đến giúp mọi người trong chúng ta chấm dứt đau khổ; thế nên chúng ta chẳng phải than phiền làm chi. Không những thế, các đệ tử còn phải hiểu rõ rằng chẳng có một kết quả nào tình cờ xảy ra mà không có ý chí của các Đấng Tôn Kính của họ, vậy chúng ta nên xem mọi sự đau khổ đưa đến như là một bước hướng về sự tiến bộ tinh thần đồng thời là phương tiện để phát triển nội tâm, nhờ đó chúng ta sẽ có khả năng phụng sự các Ngài và từ đó nhân loại sẽ tốt đẹp hơn.

 

                                        * * * * * * * * * * * * * *

Nếu chúng ta có thể phụng sự các Ngài, nếu trải qua tất cả các thời kỳ sóng gió và tai họa lớn lao mà linh hồn chúng ta vẫn hướng về Tòa Sen của các Ngài thì nỗi đau đớn và khổ sở mà sự trừng phạt trên các thể tạm thời này có là gì đâu ? Chúng ta hãy hiểu biết đôi chút về ý nghĩa thâm sâu của những đau khổ, những thăng trầm này của hoàn cảnh bên ngoài –  càng chịu nhiều nỗi khốn khổ, đau đớn có nghĩa là càng có nhiều nghiệp quả xấu được giải quyết, càng thêm nhiều năng lực phụng sự; quả là một bài học hay đã học –  những tư tưởng này không đủ nâng đỡ, khuyến khích chúng ta vượt qua bao khốn khổ của ảo tưởng hay sao ? Khi đau khổ mà ta hiểu biết và có lòng tin thì thật là điều êm ái, ngọt ngào; nó khác biết bao với nỗi bất hạnh của kẻ dốt nát, kẻ hoài nghi và người không tín ngưỡng ! Con người có thể mong ước hầu hết tất cả nỗi khốn khổ, nghèo nàn trên thế gian là của chúng ta cốt để những người còn lại có thể được giải thoát và hạnh phúc. Sự đóng đinh trên thập tự giá của Chúa Giê Su (Jesus Christ) tượng trưng cho giai đoạn này của tinh thần người đệ tử. Bạn không nghĩ như thế sao ? Hãy luôn luôn vững niềm tin và lòng sùng tín, không đi lệch hướng khỏi đường thánh thiện của tình thương và chân lý. Đây là nhiệm vụ của bạn –  cái còn lại bạn sẽ được chu toàn do các Đấng Nhân Từ mà bạn phụng sự. Bạn hiểu tất cả những điều này, sở dĩ tôi nói ra để củng cố thêm kiến thức của bạn, vì chúng ta thường hay quên một vài bài học hữu dụng nhất của mình và trong những lúc khó khăn, nhiệm vụ của một người bạn là nhắc nhở chúng ta những điều hay đã biết hơn là kiên quyết ghi nhớ những chân lý mới lạ. Vì lẽ đó mà Draupadi thường an ủi người bạn đời thánh thiện của bà là Yudhisthira những lúc tai họa cấp bách, có thể trong khoảnh khắc làm sụp đổ sự bình tĩnh thường nhật của ông. Thế nên Vasishtha tự trấn tĩnh và đạt được sự bình thản trước thảm trạng đau đớn xé lòng bởi cái chết của các con. Quả thật, khía cạnh maya [5] (hão huyền) của thế giới này không thể nói hết được ! Một mặt thì biết bao mỹ lệ, thơ mộng, còn mặt khác thì có biết bao khủng hoảng và khốn khổ bất hạnh. Vâng, maya là bí nhiệm của tất cả những gì bí nhiệm và người nào đã có được sự hiểu biết về maya thì chính họ đã đạt tới sự hợp nhất với BRAHMAN [6] –  niềm Hạnh Phúc Tột Cùng và Ánh Sáng Tối Cao.

 

                                     * * * * * * * * * * * * * *

Chân dung nữ thần Kàli có vẻ hoảng hốt đứng trên Shiva đang phủ phục là một bức minh họa ý nghĩa –  công dụng cao –  của sự giận dữ và lòng căm hờn. Tính chất đen tối tượng trưng cho sự giận dữ và thanh gươm cũng có nghĩa là lòng dũng cảm về mặt thể chất và toàn bộ bức hình muốn nói : miễn là một người có sự giận dữ và lòng căm hờn cùng với thể lực mạnh mẽ, y có thể sử dụng chúng để trấn áp những đam mê khác và đánh bại những dục vọng thể xác. Điều này còn tượng trưng cho những gì thực sự xảy ra khi lần đầu tiên tâm trí quay hướng về đời sống cao cả hơn. Lúc đó, chúng ta đang trong tình trạng ước muốn sự minh triết và sự cân bằng trí tuệ, thế nên chúng ta cần phải đánh bại hoàn toàn ham muốn bằng những xúc cảm mạnh mẽ của mình, bằng sự giận dữ dùng để chống lại tật hư nết xấu của chính mình, và vì thế, hãy triệt hạ chúng. Sự kiêu hãnh của chúng ta cũng phải được dùng để chống lại những xu hướng không xứng đáng của thể xác cũng như tinh thần; có như thế, chúng ta mới đạt được nấc thang đầu tiên và tiếp tục phát triển sự nghiệp đạo đức. Do đó, hình ảnh Shiva phủ phục trên đất chứng tỏ khi một người tham gia trong trận chiến như thế, y không chú ý đến cái nguyên lý cao cả nhất của y là ATMÀ [7] (Ý chí) –  không những thế, ngay trong hiện tại y phải giẫm nát nó và ngày nào y chưa giết chết được kẻ thù cuối cùng của Chơn ngã thì y vẫn chưa nhận thức được vị thế hiện tại của mình đối với Atma trong suốt cuộc chiến đấu. Vì lẽ đó, nữ thần Kàli chỉ nhận thấy Shiva dưới chân mình khi bà đã giết chết tên Daitya[8] cuối cùng, sự nhân cách hóa Àhamkarà (Ngã thức), và khi đó, bà đỏ mặt hổ thẹn vì sự cuồng nộ quá mức của mình. Mặc dù dục vọng không hoàn toàn bị chinh phục, chúng ta vẫn phải sử dụng chúng cho chính sự trấn áp chúng, vô hiệu hóa sức mạnh của dục vọng này bằng một dục vọng khác, và như vậy, chỉ bằng cách đó chúng ta có thể bước đầu tiêu diệt tính ích kỷ của cái “tôi”, đồng thời lần đầu tiên thoáng thấy ATMA –  Shiva ở trong chúng ta –  người mà chúng ta không biết đến khi dục vọng đang náo loạn trong tâm hồn.
 

                                        * * * * * * * * * * * * *

Vậy, chúng ta có thể luôn luôn gác qua một bên ước muốn riêng tư thiển cận của mình để được phụng sự công việc của các Ngài một cách chân thành thì thật tốt, đó là kinh nghiệm của tôi; chỉ đơn độc noi theo sự dìu dắt của các Ngài, một người thường tránh xa được vài vực thẳm đầy nguy hiểm mà y đang chạy đâm đầu vào một cách vô ý thức. Những lúc như thế, dường như khó rời xa điều ưa thích, nhưng cuối cùng đâu có gì, chẳng qua chỉ còn niềm vui mang lại từ sự hi sinh như thế thôi ! Cho nên, chẳng có sự huấn luyện nào tốt hơn là trong một số năm ngắn ngủi của cuộc sống trên thế gian khi con người bị dồn vào những hoàn cảnh thật chán chường, tê tái thì cố gắng tìm nơi bảo đảm an toàn dưới Chân đầy ơn phước của các Đấng Chí Tôn, vì chẳng có nơi nào khác để trú thân. Và rồi, người đệ tử mới nảy nở một thói quen luôn nghĩ là y chỉ có một chốn ẩn thân nơi các Ngài và bất cứ lúc nào không nghĩ đến các Ngài y sẽ thấy khốn khổ, đáng thương. Do đó, những khi tuyệt vọng tối tăm quá sức, có thể bừng lên trong y một ánh sáng mà sau này không bao giờ còn mờ mịt nữa. Những người đã thấy được một tương lai xa xôi rộng mở mà bị che khuất bởi đôi mắt mù quáng của chúng ta, thì nên phụng sự và thực hiện điều gì tốt nhất cho thế gian. Những thành quả cấp thời, những thú vui tạm bợ phải được hi sinh vì chung cuộc vốn là sự an toàn chớ không là một cơ may bị thất bại. Chúng ta càng mong ước làm cho số phận tối hậu của mình được toại nguyện thì mỗi ngày phải bớt đi khao khát gặt hái kết quả đó. Chỉ nhờ đau khổ, chúng ta mới có thể đạt tới hoàn thiện và trong sạch; chỉ nhờ đau khổ, chúng ta mới có thể tự thích hợp với vai trò tôi tớ của Trẻ Mồ Côi luôn kêu gào đòi thức ăn tinh thần. Thế nên cuộc sống của chúng ta chỉ có giá trị khi được hi sinh quên mình dưới Chân các Ngài mà thôi.

   Chúng ta hãy hân hoan khi cơ hội hi sinh cá nhân mình để phụng sự cho Tác Nhân vĩ đại, vì như thế, sự khổ đau có thể được các Ngài sử dụng hầu đưa nhân loại lầm lạc đáng thương tiến lên một bước nhỏ nhưng cao cả hơn. Thật ra nỗi đau khổ nào mà người đệ tử cam chịu đều là sự tiến bộ nghiêm túc đạt được ở cõi trần. Vì thế, y phải bình thản và vui lòng trước nỗi đau khổ, từ đó y sẽ sáng suốt hơn phần nào chớ không còn một ấn tượng chết chóc mù quáng phải chịu đựng nữa. Trong toàn bộ quá trình của sự tiến hóa, có một qui luật hiển nhiên là gánh chịu những điều đau khổ mà ngay cả những người sơ cơ cũng thấy rõ là chẳng có sự việc nào đáng giá có thể đạt được mà không trả bằng một sự hi sinh tương xứng.

 

                                      * * * * * * * ** ** **

Người đệ tử đã từ bỏ tất cả mọi ý thức về bản thân để tự hiến mình làm một công cụ cho những Bàn Tay Thiêng Liêng sử dụng, vậy cần thiết không phải sợ hãi về những cuộc thử lòng và những điều khó khăn của trần gian đau khổ. “Vì Ngài hướng dẫn sao tôi làm vậy”. Đây là cách thức dễ dàng nhất vượt qua bên kia để thoát vòng nghiệp quả cá nhân, nếu một người đặt trọn năng lực của mình dưới Chân Đấng Chí Tôn thì không còn tạo tác nghiệp quả cho y nữa, vì vậy Đức Shri Krishna hứa rằng: “Chính Ta nhận giữ sự cân bằng nghiệp quả của đệ tử”. Người đệ tử không cần thiết phải nghĩ đến những thành quả của công việc mình làm. Vị Chân Sư Cao Cả Thiên Chúa giáo dạy rằng: “Không nên nghĩ gì đến ngày hôm sau”.

 Đừng để sự thôi thúc cấp thời hướng dẫn hạnh kiểm. Vì hăng hái nhiệt tình thuộc về cảm xúc chớ không là hạnh kiểm. Trong huyền bí học chân chính không có vấn đề hăng hái nhiệt tình trong hạnh kiểm, vì vậy nhà huyền bí học lúc nào cũng phải tự kềm chế. Một trong hầu hết những khó khăn ở cuộc sống của nhà huyền bí bọc là giữ sự quân bình một cách chính xác và quyền lực này chỉ có từ tri thức tinh thần thực sự. Nhà huyền bí học sống nhiều ở nội tâm hơn đời sống bên ngoài. Y nhận thức, cảm xúc, hiểu biết càng ngày càng nhiều, nhưng biểu lộ ra càng ngày càng ít. Ngay như những sự hi sinh y cũng phải thể hiện ở nội giới nhiều hơn nơi ngoại cảnh. Trong lòng sùng tín tôn giáo thông thường thì mọi sự hi sinh và bản chất chất mạnh mẽ của một người là khả năng được dùng gắn bó với hình thức bên ngoài để chiến thắng các chế giễu và cám dỗ trên cõi vật chất. Nhưng trong đời sống của nhà huyền bí học các điều này phải được dùng cho những mục tiêu quan trọng hơn. Vậy, sự cân xứng phải được xem xét và hình thức bên ngoài chỉ là phụ thuộc. Nói tóm là không bao giờ độc đoán. Cũng như Hamsa [9] (con hạc) từ hợp chất sữa và nước lấy riêng ra sữa khỏi nước; nhà huyền bí học cũng phải trích lọc ra, giữ lại chất sống và tinh hoa của tất cả phẩm tính khác nhau trong hki loại bỏ lớp vỏ vô giá trị thì những điều c̣n lại này được giữ bí mật.

 

                                         * * * * * * * * * * * *

Làm sao người ta có thể giả định rằng Chân Sư phải can thiệp vào đời sống và hành động của mọi người; họ tranh luận với nhau là vì các Ngài không xen vào nên các Ngài không hiện hữu, hoặc nếu có thì các Ngài lại thờ ơ, lãnh đạm về mặt đạo lý. Với sự quân bình lý trí họ có thể thảo luận về sự tồn tại của một định luật đạo lý nào đó nơi cõi trần gian này và tranh cãi về các vấn đề hết sức bất công cũng như những hành động bỉ ổi giữa nhân sinh chống lại giả thuyết của một định luật như thế. Tại sao họ lại quên rằng các Đấng Chân Sư là những vị Jivanmuktas[10], các Ngài thi hành Thiên Luật, thực sự  là tinh thần của Luật và đồng hóa với Luật. Nhưng không cần thiết phải lo lắng, đau khổ về những điều này vì ṭa án xét đoán những vấn đề khó khăn của tâm thức không phải là dư luận quần chúng mà chính là Chân ngã của chúng ta. Một cuộc đấu tranh gian khổ như thế cốt yếu là thanh lọc tâm tư và nâng cao linh hồn chớ nào phải đấu tranh mãnh liệt theo dục vọng của chúng ta hoặc ngay cả sự “công phẩn thích đáng”, cái được gọi là “sự bực tức ngay thẳng” có khả năng thúc đẩy chúng ta về phía trước.

                                            * * * * * * * * * * * * *

Điều gì làm phiền muộn và gây khó khăn cho chúng ta ? Có phải chúng không được tiếp đón nồng nhiệt và thuận lợi ? Chúng không là huấn luyện viên và là nhà giáo dục tài ba nhất với đầy đủ bài học hữu ích cho chúng ta hay sao ? Phải chăng điều này không mang nhiệm vụ khiến chúng ta tiến bước dễ dàng hơn xuyên qua bao sự biến đổi trong cuộc sống và sự thăng trầm của vận mệnh ? Phải chăng điều đó không làm mất uy tín của chúng ta nếu chúng ta thất bại trong việc giữ gìn sự yên tĩnh của tâm trí và sự thăng bằng của tính khí, mà vấn đề này có phải là luôn luôn biểu hiện tâm tính của người đệ tử ? Chắc chắn y phải bình thản giữa bao cơn giông tố và sóng gió khủng khiếp ở ngoại cảnh ! Một thế giới nhìn chung là cuồng loạn, nếu một người chỉ quan sát khía cạnh bên ngoài và còn biết bao điều dối trá, lọc lừa nữa trong cái vẻ điên rồ của nó. Đó là sự điên cuồng thật sự của hành động dại dột nơi mà đối tượng của tệ nạn này chính là sự dốt nát về thân phận của y –  không những thế, lòng tin của chính y cũng phải hợp lý một cách hoàn hảo. Ôi ! nếu chúng ta không cảm nhận được sự hài hòa và tiếng nhạc đang ngự trị nơi linh hồn của sự vật và đôi mắt không mở ra để nhìn thấy sự ngông cuồng tuyệt đối lan tràn khắp cả vỏ bọc bên ngoài thì chúng ta làm sao chịu đựng nỗi một cuộc sống như thế !

   Bạn không thấy miễn cưỡng biết ơn vì phải chịu buồn khổ khi chúng ta đang vâng theo ý muốn của các Đấng Cao Cả của chúng ta và tận lực thi hành bổn phận của mình hay sao ? Bạn không những chỉ có được sự an bình và mãn nguyện mà còn có niềm vui và sự hoạt bát trong khi bạn đang phụng sự công việc của các Ngài; chính là đặc ân cao quí nhất và là sự vui thích xác thực nhất của chúng ta khi nhớ đến các Ngài.

 

                                      * * * * * * * * * * * * * 

Vậy, chắc chắn đã hẳn các Ngài sẽ không bao giờ rời bỏ chúng ta. Đối với chúng ta, chúng ta phải gắn bó với các Ngài bằng một tấm lòng sùng tín chân thật và sâu đậm. Nếu sự hiến dâng của chúng ta vẫn chân thật và sâu đậm như thế thì không hề có vấn đề ngẫu nhiên rời xa bước chân thánh thiện của các Ngài. Tuy nhiên, bạn sẽ phải hiểu biết thế nào là ý nghĩa của lòng sùng tín chân thật và thâm sâu. Bạn cũng hiểu đúng như tôi là không có điều gì ngoại trừ khước từ hoàn toàn ý muốn của phàm ngã, tận diệt các nhân tố phàm tục trong con người mới có thể thiết lập được Bhakti [11] chính thống và xác thật. Đây chỉ là điều khi mà toàn bộ bản chất của con người hài hòa một cách hoàn hảo với Định Luật Thiêng Liêng và khi chẳng có một âm chói tai trong thành phần nào đó của hệ thống, khi mà toàn thể tư tưởng, quan niệm, thị hiếu, dục vọng, tình cảm, tự nguyện hoặc bắt buộc đồng thanh ngân vang lên hòa vào “Hơi Thở Vĩ Đại của Thượng Đế” thì mới đích thực là đạt tới lý tưởng chân thật của sùng tín và rồi không còn gì hơn thế mãi mãi. Chỉ khi vươn tới giai đoạn này của Bhakti, chúng ta mới không còn sợ thất bại, sự tiến triển mới được đảm bảo lâu dài và kết quả mới chắc chắn. Người đệ tử không còn thất bại vì thiếu sự chăm sóc và yêu thương của các Đấng Chân Sư Cao Cả, mặc dù những việc này là do sự ngoan cố của chính y và do bản chất yếu đuối bẩm sinh. Chúng ta không thể nói sự ngoan cố đó khó thể xảy ra cho người mà tư tưởng chia rẽ của họ vẫn còn dây dưa chưa dứt –  vã lại ảo tưởng và sự bại hoại đã ăn sâu nhiều niên kỷ chưa được bứng tận gốc rễ.
 

                                     * * * * * * * * * * * * * 

Chúng ta không thể tự lừa dối mình trong bất cứ tình thế nào. Có vài sự thật quả là cay đắng; tuy nhiên, quá trình diễn biến của sự giác ngộ nhất chính là hiểu biết và đối phó với chúng. Vậy, sống trong một thiên đàng tưởng tượng chỉ là cách ngăn chặn lối vào miền chân Cực Lạc. Thật ra, nếu chúng ta chú tâm tìm kiếm nơi con người mình, còn hay không còn một dấu vết nào của sự chia rẽ hay cá tính, còn một ý muốn bất kỳ nào chống lại tiến trình tự nhiên của những biến cố, chúng ta có thể sẽ không tìm được động cơ nào, nguyên nhân nào nảy sinh ra, ngay cả sự tự phụ hay ước muốn chống đối ấy. Thế nên, hãy như chúng ta hiểu biết và tin tưởng rằng ý niệm về sự cô lập chỉ là sản phẩm của maya, rằng sự vô minh cùng với tất cả dục vọng cá nhân chỉ bắt nguồn từ cảm nghĩ cô lập này và là cội rễ của mọi điều khốn khổ của chúng ta. Chúng ta không còn cách nào hơn để truy tìm những vấn đề lạc lầm và quan điểm ảo tưởng này khi cố xét đoán hơn thiệt về chúng. Nhưng nếu chúng ta phân tích những sự việc hiện tại và theo dõi chính cá nhân mình hằng ngày, đồng thời quan sát những cách thức khác nhau của cuộc sống mình trong nhiều hoàn cảnh không giống nhau và hay biến đổi, thì một sự kết thúc có nhiều sai biệt tự nó sẽ thuyết phục chúng ta, và ta sẽ nhận thấy rằng còn lâu sự thật hiện có trong đời sống của mình do hiểu biết và tin tưởng mới xảy ra được. Nó chỉ đến trong khoảnh khắc lúc này hay lúc khác khi chúng ta quên hẳn thân xác mình, hoặc môi trường vật chất nào khác ở chung quanh, đắm mình quán tưởng trọn vẹn vào Đấng Thiêng Liêng –  không những thế, còn tự hòa nhập vào với Deity [12] nữa.

 

                                       * * * * * * * * * * * * *