Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 

BIỂU TƯỢNG HỆ

Trích trong quyển KIẾN TẠO CÀN KHÔN

(Building of The Cosmos)

Tác giả  ANNIE BESANT

Bản Dịch 2013

 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS

Bài thuyết trình tại Đại Hội Đồng Thường Niên thứ 18

của Hội Thông Thiên Học  ở Adyar, Madras, Ấn Độ

THÁNG 12 NĂM 1893

Biểu tượng hệ trong các tôn giáo có thể được gọi là một ngôn ngữ chung. Bằng cách này, người ta ngụ ư rằng cần chấp nhận một vài h́nh thức bên ngoài mà khi tŕnh bày cho bất cứ ai tinh thông về h́nh tướng th́ đều truyền đạt cho tâm trí người ấy một ư tưởng xác định; chẳng hạn như, cũng như bạn có một ngôn ngữ biểu ư mà mỗi người đều học được thành ra tiếng mẹ đẻ của ḿnh; cũng như bạn có thể có những con số trong số học, mỗi con số đều mang theo một ư niệm nào đó, nhưng nếu con số ấy được diễn ra thành ngôn ngữ nói lên được th́ từ ngữ ấy ắt khác nhau tùy theo ngôn ngữ mà người ta sử dụng. Cũng vậy, trong mọi thời đại người nào đă nghiên cứu tôn giáo cũng đều có một ngôn ngữ chung giúp cho họ có thể giao thiệp với nhau; điều này khiến cho không một vấn đề nào là quan trọng xét theo quê hương của người ấy, cũng như chẳng có ǵ quan trọng xét về tôn giáo đặc thù theo mặt ngoại môn vẫn vây bủa y, khi y vượt qua được biểu tượng ấy và nhận ra được ư nghĩa của nó th́ các bậc Điểm đạo đồ đồng môn đă truyền đạt được tri thức cho y, tri thức ấy đối với y cũng xác định và chắc chắn dường như thể nó đă được truyền đạt cho ta theo ngôn ngữ đặc thù nào có dùng tới lời lẽ. Thế mà xét về sự thống nhất cơ bản của các tôn giáo th́ không có bằng chứng nào lớn hơn sự thống nhất về các biểu tượng tôn giáo. Khi ta thấy bên trong khuôn viên một đền thờ Ấn giáo cũng có những biểu tượng giống như nơi các di tích xa xăm ở vùng đất Tây phương; khi ta thấy cũng biểu tượng nơi đền thờ và các tàn tích ở Tây phương ấy được mô phỏng lại trong nhà thờ hoặc nhà thờ chính của Ki tô giáo thời nay; khi ta thấy ở Á châu, ở Mỹ châu, ở Âu châu và ở nhiều đảo trên Thái B́nh Dương cũng có chính những biểu tượng ấy xuất hiện trở lại th́ ta có thể biết rằng người ta đă khiến cho biểu tượng ấy bao hàm cùng một ư niệm, được sử dụng cùng một phương tiện để truyền đạt nó, biết được cùng một sự thật và tôn thờ cùng một ư tưởng. Bằng cách đó, việc nghiên cứu biểu tượng hệ có thể thường xuyên giúp ta thu lượm được từ tri thức quá khứ những điều hiện nay đă thất truyền. Như vậy ta có thể biết được một sự thật vĩ đại nào đó bồi dưỡng cho nếp suy tư của chính ta và khi cứu xét một Kinh điển cổ truyền nào đó, ta có thể nhận ra bên dưới lớp vỏ biểu tượng sự thật mà ta đă nhận được bằng một phương thức khác. Như vậy khi xét về những tác phẩm cổ truyền do các bậc đại Hiền triết, các Huấn sư Thiêng liêng viết ra, ta có thể thấy rằng người ta đă che giấu trong tác phẩm này những điều bí mật về tri thức tâm linh, c̣n họ đă làm như vậy để cho những điều bí mật ấy có thể được bảo tồn xuyên suốt mọi biến động và mọi thăng trầm của kiếp sống, và khi con người đă đạt tới một giai đoạn tiến hóa tâm linh nào đó, th́ ở đây sẵn sàng có trong tầm tay y kiến thức mà y có thể thủ đắc được. Như vậy những điều đă được truyền tải qua các giai đoạn hắc ám một lần nữa lại có thể xuất hiện để soi sáng cho thế gian. Bởi v́ ngày nay chúng ta đang ở trong chu kỳ hắc ám, đang sống trong chu kỳ Mạt pháp Kali Yuga, trong đó tính linh đạt mức thấp nhất, bởi v́ thời kỳ này được đặc trưng cho sự chiến thắng của những quyền năng hắc ám, và ḷa mắt đi của con người thiếu giác ngộ vốn đă nh́n thấy rơ tinh tường trong những thời đại tượng pháp và chánh pháp, cho nên biểu tượng hệ đối với chúng ta có tầm quan trọng sâu sắc nhất. Đó là v́ khi chu kỳ này đang đến gần th́ ta cần thấy rằng các bậc Thánh hiền đă che giấu bên dưới biểu tượng và bên dưới lớp vỏ những chuyện ngụ ngôn bên ngoài là những sự thật được bảo tồn cho các thế hệ vị lai – chẳng những nơi cái ta gọi là biểu tượng hệ b́nh thường hoặc h́nh tướng bên ngoài mà c̣n nơi ẩn dụ, nơi chuyện ngụ ngôn, nơi cái được gọi là thần thoại và nơi cái được dùng làm nghi lễ. Qua tất cả những điều đó đều có cốt lơi của sự thật tâm linh và thỉnh thoảng lại có một vị nào đó xuất hiện, Ngài có thể hiểu được sự thật ẩn bên dưới biểu tượng bên ngoài của chuyện ngụ ngôn hoặc nghi lễ; nhờ vậy Ngài triển khai được sự thật ra từ biểu tượng ấy để có thể củng cố được đức tin của con người nơi những thực tại tâm linh và tái khẳng định ánh sáng của một thời đại hạnh phúc hơn giữa đêm đen. Đó là v́ chẳng những biểu tượng đă lưu truyền sự thật từ đời này sang đời khác mà nó c̣n đóng vai tṛ chứng nhân thường xuyên minh chứng cho sự tồn tại của chân lư. Đôi khi người ta ngụ ư muốn che giấu nó đi, nhưng có khi người ta lại ngụ ư sự thật ẩn tàng được bộc lộ ra sao cho sự bộc lộ ấy có thể tái xác lập niềm tin của con người nơi chân lư. Công tŕnh đặc biệt mà ngày nay hội Thông Thiên Học đă thực hiện chính là làm theo ư muốn của các bậc Huấn sư Thiêng liêng, các Ngài đă nghĩ ra những biểu tượng ấy và để cho chúng chịu trách nhiệm về đủ thứ tôn giáo trên thế giới. Điều này khiến cho thỉnh thoảng điều đă được thực hiện và điều đang được thực hiện ngày nay lại chính là khi sự thật đă bị thất truyền đối với đa số và khi niềm tin vào nó phần lớn là đă biến mất; lúc bấy giờ lời giải thích hợp lư ấy sẽ trấn an được tâm trí con người khiến họ cảm thấy bằng chứng về sự tồn tại chân lư, bởi v́ có thể nói là nó được đưa ra từ những ngóc ngách ẩn kín nhất; lúc bấy giờ tín ngưỡng lại tăng trưởng và đức tin một lần nữa lại có thể giúp ta ngẩng cao đầu bởi v́ sự tiết lộ ấy đă biện minh cho thực tại của biểu tượng giúp ta nhận ra sự thật nội giới, do đó đâm ra tin chắc rằng ánh sáng vẫn c̣n ẩn tàng và có thể nói là khi mở ra th́ cái đèn lồng ấy một lần nữa lại được tiết lộ cho thế gian. Điều này khiến cho biểu tượng hệ có giá trị ở chỗ chẳng những tải theo sự thật và cung ứng nó cho bậc minh triết mà c̣n gây ấn tượng lên ngoại giới về thực tại trường tồn của sự thật tâm linh; và chính kiến thức về điều này khiến cho một số chúng ta có thể nhấn mạnh tới sự bảo tồn các nghi thức, cho dẫu khi chẳng ai hiểu được chúng. Tôi biết rằng trong tâm trí của một số người th́ điều này được coi là điên rồ và mê tín dị đoan; tôi biết rằng trong tâm trí của một số người th́ điều này dường như là nêu ra một chướng ngại vật chận đường tiến bộ. Họ chỉ nh́n thấy nghi lễ theo quan điểm đó là chướng ngại vật. Họ không ngộ ra được giá trị là ẩn tàng bên trong điều dường như chướng ngại ấy có thể có cái đáng tôn thờ. Đôi khi có thể có một đền đài cổ truyền nói tới những chuyện đă qua của các dân tộc. Các bạn muốn kéo một đường ray băng ngang qua đó và bạn bảo rằng thật rất quan trọng khi đường ray sẽ vạch ra một đường thẳng giữa hai điểm và tốt hơn là nên quét sạch cái dinh thự cổ truyền ấy vốn đă trở thành một chướng ngại để cho người ta có được lợi ích thực tiễn là tiết kiệm được mười phút đồng hồ khỏi bị mất đi nếu đường ray xe lửa phải chạy ṿng quanh dinh thự ấy. Thay v́ phá đổ dinh thự rồi tiêu hủy nó, đôi khi có thể là minh triết hơn khi ta phí phạm mười phút đồng hồ - biết bao nhiêu thời khoảng như ấy bị phí phạm – c̣n hơn là tiêu diệt di tích ghi chép lại một diễn biến mà nếu không có nó th́ tâm trí con người có thể không nhớ ra được. Như vậy nếu các nghi thức – ư nghĩa của chúng thậm chí đă thất truyền – thất truyền hiện nay trước cặp mắt của người phàm nhưng không thất truyền trước tri thức của các bậc Hiền triết Thiêng liêng và không thất truyền trong quyền năng tương lai, khi lần nữa sự thật mà chúng che giấu lại được phát lộ, nếu các nghi thức của Ấn giáo đă được quét sạch hoàn toàn ra khỏi Ấn độ, th́ ta t́m đâu ra những lập luận để tái khẳng định sự thật tâm linh cho dân Ấn độ biết? Nhưng bởi v́ các nghi thức vẫn c̣n đó và bởi v́ các biểu tượng vẫn c̣n đó cho nên nhờ biết được sự thật, ta có thể biện minh được cho giáo huấn cổ truyền ngay cả bằng những biểu tượng được bảo tồn ấy, thế là có thể đạt tới tâm hồn và tâm trí của con người bằng một cách nào đó ắt hoàn toàn không thể đạt được nếu biểu tượng ấy đă biến mất.

Thế để minh họa, tôi xin bắt đầu bằng một biểu tượng vốn phổ biến khắp thế giới mà ta thấy có trong mọi tôn giáo, mặc dù ở nhiều tôn giáo khác nhau nó vẫn chỉ có khác nhau rất ít về dáng vẻ bên ngoài: tôi muốn nói biểu tượng nổi tiếng về Thập tự giá ngày nay phần lớn là được thế giới hiện đại đồng nhất hóa với một tôn giáo rất hiện đại, có lẽ phần lớn là được đồng nhất hóa trong tâm trí của nhiều người trong số các bạn với tôn giáo ấy. Tuy nhiên nó là biểu tượng xưa cũ nhất trong mọi biểu tượng và đă đến với chúng ta từ một thời kỳ mà tư tưởng phương Tây thấy đắm ch́m trong u tối. Cho dù bạn đào sâu đến đâu đi nữa vào trong vỏ trái đất, cho dù các tàn tích của đô thị có xưa cũ đến đâu đi nữa th́ khi đào xuống bạn vẫn có thể khai quật được nó; cho dù bạn đào vào trong vỏ đất ở Mỹ châu, Âu châu, Á châu và Phi châu th́ đâu đâu bạn cũng t́m thấy Thập tự giá ấy có nơi ở Âu châu đă được việc khảo cứu hiện đại khai quật, có những nơi được bao phủ bằng các tàn tích của những nền văn minh vốn đă hoàn toàn biến mất khỏi bề mặt trái đất rất lâu trước khi nền văn minh của Đế quốc La mă đă từng mơ tới: một nền văn minh kéo dài trong hàng thế kỷ, thế rồi bị đổ nát.

Khi ta trở ngược lại qua hàng thiên niên kỷ đào sâu xuống qua các tàn tích nói lên sự thoái hóa ấy, sâu măi xuyên suốt qua tất cả, vào trong các tàn tích c̣n xưa cũ hơn nữa của một nền văn minh vốn không để lại di tích nào, ngoại trừ trong những sử liệu được chôn sâu kín, ngay cả lúc bấy giờ, bạn ắt t́m thấy một Thập tự giá được đánh dấu trên gốm sành sứ vốn đă tồn tại lâu hơn chính di cốt của dân tộc đă làm nên nó, đó là v́ gốm sứ ấy được phát hiện bên cạnh những bụi đất nhỏ vốn tan biến đi khi ngôi mộ được mở toang ra, khi gốm sứ có khắc biểu tượng Thập tự giá và chôn bên cạnh người chết, nó truyền thụ ư nghĩa linh thiêng của riêng ḿnh. Nếu ta truy nguyên xa đến tận thời kỳ xa xăm này – thời kỳ cổ xưa nhất ở mọi xứ xét về Giống dân thứ năm của con người – không có chỗ nào mà bạn không t́m thấy biểu tượng ấy; trong kinh điển cổ truyền nhất bạn ắt thấy Thập tự giá mà sau này biểu diễn ṿng tṛn chân trời, biểu diễn xa hơn h́nh tướng của Vishnu vốn là Thời gian. Ṿng tṛn là biểu tượng của Thời gian vô thủy vô chung và bên trong đó có một Thập tự giá mà mọi Thần linh, mọi Rishis, mọi Mặt trời và mọi Ngôi sao đều dựa trên đó, nghĩa là vạn hữu trong thế giới biểu hiện. Ta hăy đi xa hơn nữa tới trước khi Giống dân thứ năm được sinh ra – trở ngược vào những thời kỳ mà không c̣n di tích nào nữa ngoại trừ trong tay các Đấng điểm đạo – đó đây có một tảng đá mà chúng có thể diễn tả ư nghĩa của nó và trên những tảng đá ấy, ta vẫn c̣n t́m thấy h́nh Thập tự giá được khắc sâu trên đó. Truy nguyên tới tận Giống dân thứ tư vốn bị một thảm họa ghê gớm nuốt chửng mà từ đó chỉ những mầm mống xuất hiện để giúp khai sinh ra giống dân thứ năm; ngay cả khi đó th́ bạn ắt thấy cùng một biểu tượng linh thiêng đối với Giống dân thứ tư cũng như linh thiêng đối với Giống dân thứ năm. Điều này khiến cho chúng ta có thể coi nó là một biểu tượng phổ biến khắp thế giới, biểu tượng mà ta không thể cho phép một trong những tôn giáo mới nhất và gần đây nhất lại tiếm đoạt dường như thể nó chỉ thuộc về tôn giáo ấy thôi. Đó là v́ nó là một biểu tượng thường được đóng trên ngực của Điểm đạo đồ, linh thiêng đối với tôn giáo xét theo những ngóc ngách sâu kín nhất, chứ không phải tài sản riêng tư của một trong những tín ngưỡng công truyền nhất và hiện đại nhất. Vậy th́ bây giờ ta hăy xét Thập tự giá – xét về căn bản th́ nó là ǵ? Chính luôn luôn trong ṿng các sử liệu xưa cũ nhất vào thời đại sau này; ṿng tṛn đă tuột ra khỏi nó và Thập tự giá khi mất đi ṿng tṛn bèn bị thoái hóa xét theo ư nghĩa cao siêu nhất. Biểu tượng này luôn luôn có ư nghĩa cao nhất xét về Tinh thần; và trong cơi tâm linh th́ nó giáng hạ biểu hiện ra ngoại giới để rồi cuối cùng t́m được lời giải thích thứ nh́ nơi những ngôi sao vốn là các h́nh dáng bên ngoài của những Đấng thông tuệ cao cả giúp cho Càn khôn di chuyển; thế rồi khi nó càng rớt xuống thấp cho đến khi nó giáng xuống tận con người để rồi nó trở nên bị thoái hóa hơn trong ư nghĩa sùng bái sinh thực khí mới đây nhất, đă bị ô nhiễm bởi những tư tưởng không thanh khiết từ tâm trí con người bu vào nó. Vậy th́ ta hăy xét ṿng tṛn và theo ư nghĩa sơ khai nhất th́ nó tượng trưng cho cái sự Tồn tại Vô biên mà khi bước vào biểu lộ ắt hạn chế được chính ḿnh. Trước hết ta đă được dạy về một ṿng tṛn ánh sáng bị ràng buộc bởi bóng tối vốn không có giới hạn; và ṿng tṛn ánh sáng là khởi đầu của Càn khôn biểu lộ. Như vậy ta ắt thấy trong việc nghiên cứu ánh sáng th́ trước hết ta có ánh sáng không h́nh tướng; thế rồi ta mới được có một h́nh tướng sau này xuất hiện là khía cạnh hữu h́nh của sự biểu lộ; c̣n ṿng tṛn theo ư nghĩa sơ khai nhất có nghĩa là sự biểu lộ, v́ vậy là sự hạn chế, sự bắt đầu của vạn vật. Trong giai đoạn kế tiếp, Thập tự giá chia nó ra chính là lửa mà khi lóe lên từ trung tâm hướng ra bên ngoài ắt tạo ra hai đường kính, nó cung cấp sự sống linh hoạt bên trong ṿng tṛn này của vũ trụ và khiến cho sự tiến hóa là khả hữu để từ trung tâm điểm dần dần tiến ra ngoài. Thoạt tiên là một đường của Thập tự giá chính là đường được vạch ra theo hai hướng do ánh sáng của Thượng đế từ tâm điểm đi ra ngoài tới tận chu vi – ánh sáng của Thượng đế mà tôi có nói tới trong bài thuyết tŕnh thứ nh́, nó chiếu sáng ra từ Ngôi Lời lưỡng tính, từ cái mà ta thấy là Lửa và Nước, đó vốn là Tinh thần–Vật chất, nó chiếu sáng ra từ trung tâm điểm vốn là Thượng đế vô hiện; việc chuyển ra ngoài tới tận chu vi trước hết chia ṿng tṛn thành hai, rồi chia thành bốn. Chính đường ánh sáng này khởi sự từ điểm chuyển ra bên ngoài theo bốn hướng, nó vạch ra Thập tự giá đầu tiên đang biểu lộ, là biểu tượng của việc phân chia thành ra Tinh thần và Vật chất[[1]]. Rồi xuống thêm một chút nữa ta nhận ra sự phân chia này của Tinh thần và Vật chất có sự khai sinh ra Càn khôn với biểu tượng là Thập tự giá xoay vòng sao cho chữ Thập ấy không còn là hai đường thẳng mà mỗi cánh tay đòn của Thập tự giá lại gắn một phần vào vòng tròn biểu lộ, và bạn ắt thấy được chữ Vạn cổ truyền (Svastika) vốn chẳng những cung ứng cho ta ý tưởng về sự phân chia mà còn là ý tưởng về sự xoay vòng. Trong chữ Vạn với các cánh tay đòn xoay vòng, ta có điều gợi ý về vòng tròn cũng như là Thập tự giá, nhưng không còn là vòng tròn được cho sẵn xác định mà là vòng tròn xoay vòng, vì vậy đã trở thành một lực sản sinh ra sự sống. Liên kết mật thiết với điều này là biểu tượng hệ về các que lửa; ở đây ta có một cái chốt tượng trưng cho vòng tròn, còn cái que thẳng đứng được làm cho xoay tròn nhờ vào một sợi dây (như vậy tạo thành một chữ Thập); đến lượt khi nó xoay vòng vòng trong cái chốt th́ nó sinh ra lửa linh thiêng, do đó sinh ra Hỏa thần Agni, là biểu hiệu của cái Sự Sống giúp cho vũ trụ có thể xuất hiện được. Như vậy ta có chẳng những là vòng tròn, chẳng những là cái que thẳng đứng biểu diễn một nửa chữ Thập mà còn là sợi dây hoàn tất chữ Thập và gây ra sự xoay vòng. Ta có hình ảnh hoàn chỉnh về Thượng Đế Ngôi Hai mà khi chia ra thêm nữa thì có thể có được sự biểu lộ. Rồi tới sự xoay vòng, rồi tới nhiệt được sản sinh ra – tôi xin các bạn lưu ý tới điều ấy mà bạn có thể nhớ rằng đó là kết quả của tác động này của lửa – khi chỉ sự chói lọi của ánh sáng cũng chuyển thành lửa; bấy giờ bạn có được sự ra đời của Hỏa thần mà nếu không có ảnh hưởng sản sinh của nó th́ không thể có thêm sự biểu lộ. Thế rồi bạn có thể truy nguyên nó xuống mãi qua sự biến đổi nho nhỏ nơi hình tướng bên ngoài cho đến khi bạn thấy nó ở đâu đâu cũng là biểu tượng của Thượng Đế, Thượng Đế đang biểu lộ là một quyền năng sản sinh và cốt yếu là sáng tạo trong vũ trụ theo ý nghĩa cao nhất; xét theo ý nghĩa cao nhất th́ chính Thượng Đế đã sản sinh ra Càn khôn. Theo nghĩa thấp nhất thì nó biểu diễn cơ quan sinh dục vốn rất thường khai sinh ra các hình tướng thờ cúng bí truyền vốn đã trở thành một sự thoái hóa. Mắt lòa đi của nhà Duy vật chỉ đọc thấy ý nghĩa sùng bái sinh thực khí và đọc ra trong đó ý nghĩa bất tinh khiết của chính mình; bởi v́ đó là điểm vật chất thấp nhất trong khi điểm cao nhất là cái bắt đầu nơi bản thân Thượng Đế, biểu lộ qua thế giới hình tướng. Vậy là khi vạch ra Thập tự giá ta thấy nó có trong những công trình điêu khắc thời xưa ở trên tay chư Thần linh thường xuyên có mặt, hơi được định dạng khác nhau tùy theo loại hình mà người dân trong tôn giáo này chọn theo. Ở đó lại có một công dụng khác của ngôn ngữ biểu tượng này, bởi v́ tùy theo hình dáng đặc thù của biểu tượng đã được chọn dùng, ta có thể xét đoán được trình độ của tôn giáo mà các giáo dân đã tiến hóa tới mức đó. Chẳng hạn như xét Ai Cập gáo ta ắt thấy ở đó có chữ Thập, và vòng tròn thay đổi về bề ngoài. Chữ Thập không còn là chữ Thập được vạch trên vòng tròn Thời gian với hai cánh tay đòn có chiều dài bằng nhau. Nó đă trở thành chữ T với một cánh tay đòn bên dưới cánh tay đòn kia và thay vì ở bên trong vòng tròn Thời gian th́ vòng tròn này lại vượt ra ngoài nó và vượt trên đầu mút của chữ Tau. Vòng tròn không còn là Thời gian nữa, nó tiêu biểu cho nguyên khí âm. Ta thấy nó được vẽ mà các chư Thần linh cầm trên tay dưới dạng các bức bích họa trên Kim tự tháp; ta ắt thấy nó ở đó được coi là biểu tượng của sinh hoạt con người; và khi xác ướp nằm ườn ra đó để đến lúc Linh hồn làm cho nó phục sinh lại, th́ Thượng Đế tiến bước với chữ Tau và vòng tròn cầm trong tay, chữ Thập Sự Sống mà Linh hồn chạm vào môi của xác ướp để phục hồi lại phần Hồn và khiến cho thể xác phục sinh, có khả năng sống đời sống mới. Thay v́ xét nó trong tôn giáo Ai Cập sau này khi nó đã rớt khỏi ý nghĩa cao siêu nhất, ta hãy xét nó đang nằm trong tay của một trong các Thần linh Ấn Độ và ta ắt thấy rằng có một ý nghĩa tinh vi hơn và đẹp đẽ hơn có thể được rút ra từ đó. Ta hãy xét hình ảnh của Shiva, Mahadeva mà ta thấy Ngài đôi khi được biểu diễn trong các đền thờ – được biểu diễn là bậc Maha Yogi, nhà tu Khổ hạnh vĩ đại; ngài dùng Tapas để tiêu hủy mọi thứ vốn có bản chất thấp hèn và vẫn còn chỉ là Lửa thôi; mọi thứ khác nữa đều biến mất. Đạo sĩ Maha Yogi cầm trong bàn tay nhấc cao lên một sợi dây – sợi dây có hình bầu dục chứ không phải hình tròn và Ngài cầm nó trong bàn tay nhấc cao lên giữa ngón cái và các ngón khác; ta ắt thấy rằng hình bầu dục vượt cao lên trên bàn tay còn bàn tay khiến cho hình Thập tự giá nâng đỡ hình bầu dục. Liệu điều gì có thể là ý nghĩa trong tay của bậc đạo sĩ Yoga vĩ đại; chủ nhân ông của mọi tu sĩ khổ hạnh, điều gì có thể là ý nghĩa của biểu tượng này, vốn xét theo kho tài liệu hiện đại hơn đã được coi là biểu tượng sinh sản, biểu tượng của sự sống? Chẳng lẽ bậc đạo sĩ Yoga lại không tránh được hoạt động sáng tạo này vì người ta thường biểu trưng Ngài bằng vị Kumara trinh nguyên, Ngài đã từ chối sáng tạo và chẳng dính dáng gì tới sự biểu lộ trên cõi trần? Biểu tượng có một ý nghĩa cao siêu hơn. Hình bầu dục trong tay bậc tu sĩ Khổ hạnh vĩ đại truyền đạt cho tâm trí kẻ lão thông biểu tượng hệ ý nghĩa sau này vốn gắn liền với nó; nó tượng trưng cho mắt thứ ba của Tinh thần bởi v́ điều được Tapas mở ra, điều được mở ra bên trong bộ óc của tu sĩ khổ hạnh khi người ta đã đạt tới một giai đoạn phát triển nào đó; ở giai đoạn này người ta chinh phục được các lực hạ đẳng đời đời. Đó là v́ bàn tay tạo thành Thập tự giá tượng trưng cho một biểu tượng của Thập tự giá với những đam mê về bản chất hạ đẳng mà chỉ có đạo sĩ Yoga mới có thể đạt được sự sống tâm linh; còn Thượng Đế vốn là đạo sĩ Yoga vĩ đại đã đưa tay lên bắt ấn chứng tỏ rằng mọi đam mê đã bị đóng đinh trên Thập tự giá; thế là bằng cách đóng đinh trên Thập tự giá phần hạ đẳng thì ta mới có thể mở ra được phần thượng đẳng. Như vậy là Thập tự giá đã trở thành phương tiện mở ra cánh cửa khiến cho ánh sáng Tinh thần có thể chiếu vào, rồi tới việc khai mở mắt thứ ba vốn là Mắt của Shiva quen thuộc với mọi tín đồ Ấn giáo trên danh nghĩa nếu họ không thông hiểu được nó. Thế còn mắt thứ ba nó biểu hiện ra sao? Một lần nữa ta hãy nhớ lại câu chuyện cổ truyền là khi Ngài đă dấn thân vào Tapas th́ thần Tình thương của Ấn giáo đã ra sức phóng cán giáo vào Ngài, nhưng trán của Shiva mở ra từ đó, mắt thứ ba nhảy vọt ra phóng chiếu một tia sáng đốt cháy vị Thần cám dỗ ra thành tro bụi. Đó là v́ khi mắt ấy mở ra th́ không có một đam mê hạ đẳng nào có thể đánh bạo tới gần, vị tu sĩ khổ hạnh đã thành tựu. Và bất cứ khi nào chuyển vào bên trong đền thờ Thượng Đế vĩ đại, bạn thấy ngài được biểu diễn là Maha Yogi th́ bạn hãy mưu tìm sợi dây để ngộ ra được ý nghĩa nội tại của nó.

Bạn có thể tiến sâu thêm một bước nữa và tự mình đảm nhiệm học được bài học nó truyền đạt; bài học nói rằng nơi con người có một quyền năng có thể được dùng cho sinh hoạt hạ đẳng hoặc sinh hoạt thượng đẳng, cũng như sáng tạo ra hình tướng mới để cho sự sống tâm linh nơi con người được tiến hóa, nhưng không được cả hai cùng một lúc; vì vậy tình trạng độc thân là nét nổi bật của tu sĩ khổ hạnh, là một điều sơ bộ cần thiết trước khi ta có thể mở ra mắt thứ ba. Vì vậy ý tưởng về tu sĩ khổ hạnh luôn luôn bao gồm ý tưởng về sự trong sạch tuyệt đối của thể xác. Hoặc là bạn có thể thúc đẩy dòng sinh hoạt hướng lên tới tận Tinh thần hoặc là bạn có thể thúc nó hướng xuống Vật chất. Nếu nó tìm cách biểu hiện nơi cõi vật chất th́ nó không thể đồng thời vươn cao lên nhập vào các năng lượng sáng tạo mạnh mẽ của cõi Tinh thần. Và khi Shiva giơ cao chữ Thập này cùng với sợi dây vốn tiêu biểu cho việc mở mắt thứ ba th́ điều này có nghĩa là sự sống đã được tập trung bên trong đầu, mắt thứ ba của tu sĩ khổ hạnh đã được mở ra và bằng cách tập trung nó vào cực cao hơn th́ ta chắc chắn có được sự chiến thắng của Tinh thần. Bạn không còn có khuynh hướng hướng hạ về Vật chất, bạn đã thành tựu được sự chiến thắng của Tinh thần.

Ta hãy mưu tìm ý nghĩa của một biểu tượng khác, trong đó Vật chất và Tinh thần được diễn tả không còn riêng rẽ nữa mà hiệp nhất lại. Ở đây ta chẳng có Thập tự giá và hình bầu dục mà có một Tam giác kép lồng vào nhau cho thấy chúng không bị phân cách ra, vì vậy truyền đạt cho tư tưởng ta vũ trụ biểu lộ cùng với sự hiệp nhất Tinh thần và Vật chất qua mọi khả năng của sự sống hiện tượng. Đó là vì ở đây ta có Tam giác chỉa lên trên vốn là Lửa tức Tinh thần, thế rồi ta có Tam giác chúc xuống dưới vốn là Nước tức Vật chất và sự hiệp nhất của cả hai không thể tách rời ra được. Điều này có nghĩa là sự hiệp nhất giữa Tinh thần và Vật chất nơi vũ trụ biểu lộ; sự thật là sự hiệp nhất ấy vẫn còn chừng nào còn có sự biểu lộ. Bạn ắt thấy Tam giác kép này được dùng làm biểu tượng của hai trong số các vị thần Ấn giáo, vừa dùng làm biểu tượng của Shiva vừa dùng làm biểu tượng của Vishnu; đây là khi hai vị thần này được coi là hai khía cạnh của vị Thần nhất như. Khía cạnh chỉ lên trên được coi là khía cạnh Mahadeva, tức là Lửa; khi ngài di chuyển trên mặt nước thì Narayana có được biểu tượng này là Tam giác chỉa xuống dưới cho thấy Đấng thiêng liêng làm tiến hóa ra Vật chất như vậy khiến ta có thể biểu lộ nơi hiện tượng giới. Thế là bạn lại có biểu tượng về tính lưỡng nguyên, trong đó ta có hai vị Thần biểu diễn thành duy nhất xét theo bản thể và chỉ là hai trong khi biểu lộ: lửa và nước, dương và âm, nam và nữ một lần nữa. Đối với một số các bạn thì điều này có thể soi sáng cho một lời gợi ý mù mờ theo đó ta có thể tìm thấy trong Kinh điển mối quan hệ nội giới này giữa hai vị Thần lớn của Ấn giáo.

Một lần nữa khi nghiên cứu điều này ta có thể biết được câu chuyện cứ lẩn quẩn trong đầu bao giờ cũng tấn công vào gốc rễ của mọi điều cay đắng giữa các giáo phái hiện đại – tôi dùng từ hiện đại để so sánh – họ tạo ra tên tuổi của các Thần linh biến thành những bức tường chia rẽ thay vì là những lực hợp nhất. Đó là vì bạn có thể nhớ ra làm thế nào mà một tín đồ thờ thần Shiva lại tôn thờ trong đền thờ mình nhưng cảm thấy thù ghét cay đắng đối với một người lân cận tôn thờ thần Vishnu và họ thờ cúng không phải với tinh thần tôn giáo chân chính mà đối nghịch với nhau, chọn khía cạnh khác nhau của chư Thần làm khía cạnh của riêng mình. Nhưng xem kìa, một ngày kia khi y phủ phục trước đấng Mahadeva với tư tưởng giận dữ trong thâm tâm đối với kẻ đang thờ thần Vishnu th́ hình ảnh xuất hiện trước mắt y lại thay đổi khía cạnh; nó không còn đứng sừng sững ở đó, chỉ còn là thần Shiva không thôi mà bị chia chẻ ra làm đôi; một bên vẫn còn dưới dạng Mahadeva, còn bên kia có dạng Vishnu và cả hai hợp lại không còn là cặp bài trùng nữa mà chỉ là một; cả hai đều mỉm cười với tín đồ. Nếu thời nay mà người ta hiểu được câu chuyện này th́ ta ắt chẳng còn chứng kiến sự tranh chấp giữa hai giáo phái tôn thờ cùng một Đấng Thượng Đế duy nhất xét theo các khía cạnh khác nhau, và họ ắt cảm thấy ḿnh là anh em, tuyệt nhiên không thể tranh chấp gì với nhau. Thế là khi nghiên cứu những biểu tượng này, ta đạt tới mức thực chứng được Đấng thiêng liêng nơi các biểu tượng ấy và hiểu rõ được những gì là nền tảng của hình tướng bên ngoài.

Cũng theo đường lối tư tưởng ấy, điều đó dẫn tới một loại biểu tượng cụ thể hơn. Tôi cố tình xét một biểu tượng cụ thể để tôi có thể truy nguyên nó trong quá trình tiến hóa và cho bạn thấy bằng cách nào mà ý tưởng trừu tượng thích hợp nhất với tâm trí có trình độ giáo dục cao, lại dần dần xuất lộ từ một biểu tượng cụ thể hơn, một biểu tượng cần thiết nếu ta muốn làm cho tôn giáo trở nên dễ hiểu đối với kẻ thất học và dốt nát. Ở đây tôi xin phép nói một lời hơi lạc đề một chút nhưng có lẽ nó không xa lạ với những sự tranh cãi đang xâu xé nước Ấn Độ ngày nay. Ở phương Tây không có một sự đả kích nào đối với Ấn Độ thông thường hơn là sự đả kích tục sùng bái ngẫu tượng của nó, và bạn ắt thường xuyên thấy những lời chế nhạo và diễu cợt cay đắng được thốt ra bởi những người đã từng ở đây, họ đã thấy các ngẫu tượng và tục sùng bái ngẫu tượng cũng như các nghi lễ dâng lên ngẫu tượng, nhưng chưa bao giờ họ hiểu được những thứ ấy – không đâu, họ chưa bao giờ mất công tìm hiểu chúng, thậm chí cũng chẳng hỏi tín đồ xem những việc làm như thế có ư nghĩa như thế nào đối với y. Những khách tham quan này khi bàng quan đối với thành kiến do những cảm xúc ngoại lai gây ra, lúc trở về xứ sở ḿnh bèn đăng đàn nhiều lần nói tới dân Ấn Độ khốn khổ là kẻ ngoại đạo, miệt mài sùng bái ngẫu tượng; cần phải dạy cho dân Ấn Độ một tôn giáo mang tính tâm linh hơn và cứu dân tộc ấy khỏi cái sự suy đồi đang đè nặng lên tâm hồn và tâm trí họ. Thế mà vấn đề sùng bái ngẫu tượng là một vấn đề rất quan trọng bởi vì nó nêu ra thắc mắc cốt yếu này: Liệu có hay chăng sự thích ứng với vô minh? Làm thế nào mà khiến cho tôn giáo vừa dạy dỗ cho kẻ suy đồi nhất lại vừa là đối tượng sùng kính của những người có học thức cao nhất và những tâm trí mộ đạo nhất. Đây là một vấn đề hóc búa bởi v́ điều thích hợp để giáo dục cho kẻ dốt nát th́ lại không thích hợp đối với triết gia và tư tưởng gia tiến hóa cao. Biểu tượng hệ dạy cho kẻ dốt nát thì lại làm cho kẻ có học bị dội lại và nếu bạn cứ bảo rằng tôn giáo đều giống hệt như nhau đối với cả hai loại người ấy thì chỉ có hai khả năng xuất hiện trước mắt bạn. Nếu tôn giáo phải bình đẳng đối với mọi người thì bạn phải đẩy nó tới tận giới hạn của trí năng thấp nhất và sự hiểu biết kém phát triển nhất, bằng không thì chúng sẽ bị che lấp đi. Nếu tôn giáo là bình đẳng đối với mọi người th́ triết gia phải giáng cấp xuống thành nông dân hoặc trẻ con; và những đạo tâm cao cà nhất của y không thể tìm ra được phương tiện chuyển tải nào khá hơn mức có thể được lĩnh hội bởi kẻ vô ý vô tứ nhất và kẻ thất học nhất. Mặt khác, nếu tôn giáo phải hữu dụng cho tất cả mọi người th́ bạn ắt phải để cho sự dị biệt xuất hiện trong đó: khác nhau về cách trình bày tùy theo loại tâm trí mà nó sẽ gặp phải. Bạn ắt phải có một tôn giáo mang tính triết học dành cho triết gia và tôn giáo ấu trĩ dành cho con trẻ – không phải vì nhờ đó bạn sẽ kéo tôn giáo xuống thấp mà là để bạn có thể nâng tâm trí ấu trĩ lên cao và rèn luyện nó có khả năng tiến hóa trong tương lai vốn có thể nâng nó lên tới đỉnh cao nhất của tư duy tôn giáo. Thế mà ở phương Tây người ta đã chọn theo một phương pháp khác. Ở phương Tây người ta đã toan tính khiến cho tôn giáo đơn giản đến nỗi một người bán hàng rong cũng có thể hiểu được. Ở nước Anh theo thông lệ, từ ngữ ấy hàm ý là có khả năng trí tuệ và được giáo huấn rất thấp, một người đẩy xe cút kít trên đường phố bán rau quả, y là đại biểu của giới tiện dân nơi chính xứ Ấn Độ. Tôi đã từng bảo rằng Thông Thiên Học chưa bao giờ có thể hữu dụng bởi v́ nó vượt ngoài tầm lĩnh hội của người bán hàng rong. Liệu khi Âu châu hạ thấp khía cạnh trí thức của tôn giáo như thế th́ tác dụng của nó ra sao đối với tư tưởng tôn giáo? Nó có tác dụng là trí năng của thiên hạ đã vượt ra ngoài lãnh vực tôn giáo; ta có một sự ly khai hoàn toàn giữa trí năng và tôn giáo, và những tâm trí cao cả nhất không còn từ chối chấp nhận một tôn giáo xúc phạm tới những hoài bão cao thượng nhất của mình, trong đó họ không tìm ra điều ǵ bồi dưỡng cho những xúc động tâm linh cao cả. Đó là cái giá phải trả cho sự hạ thấp Lý tưởng Thiêng liêng sao cho tâm trí dốt nát nhất cũng có thể lĩnh hội được. 

Ở Ấn Độ ta lại có một kế hoạch khác. Ta có việc thừa nhận rằng tâm trí con người ở vào nhiều trình độ tiến hóa khác nhau, điều gì đúng cho người dân quê cày ruộng th́ lại không đúng với người Bà la môn nơi thiền đường. Cà hai đều có quyền đối với thế giới tôn giáo, cả hai đều có khả năng cho Tinh thần ít nhiều phát triển. Vì vậy mỗi người nên được bồi dưỡng bằng loại thực phẩm phù hợp với trình độ tiến hóa của mình. Bạn không thể cho người có trí óc non nớt nếm mùi thực phẩm của kẻ trưởng thành, cũng giống như bạn không thể nuôi một đứa trẻ con bằng loại thức ăn được dành cho người lớn đã trưởng thành. Nhưng quan niệm ấy ngụ ý cái gọi là tục sùng bái ngẫu tượng, điều này ngụ ý là bạn bảo tồn được tính linh cao siêu nhất nhưng phải trả giá là sự xét đoán sai lạc của những kẻ không đào sâu xuống bên dưới dấu hiệu bề ngoài của ngẫu tượng. Đó là vì ngẫu tượng có những ý nghĩa khác nhau tùy theo tâm trí mà tín đồ dành cho nó. Ngẫu tượng của người dân quê có thể chẳng là gì khác hơn một dạng tinh linh ngũ hành nào đó mà y phủ phục tôn thờ; mang đến cúng dường một giọt nước hoặc một đóa hoa hoặc khua chiêng gõ mõ để cúng dường. Đối với người Bà la môn thì việc thờ cúng một Đấng thiêng liêng như thế ắt là thoái hóa nhưng đối với người dân quê thì nó lại ngụ ý một điều gì đó mà y có thể nhận ra và tôn thờ; hành vi tôn thờ nơi bản thân y sẽ là tình thương và sự tín ngưỡng được khuấy động nơi bản thân y ắt mở ra con đường dẫn tới sinh hoạt tâm linh. Nếu bạn cung cấp cho y tư tưởng trừu tượng của người Bà la môn th́ y ắt há hốc mồm ra chẳng hiểu được gì về ý nghĩa của nó; vậy là bạn chẳng kích động được gì nơi tâm hồn y sự thoi thóp ban đầu của sinh hoạt tâm linh. Bạn hãy để cho ngẫu tượng có thể hấp dẫn y mặc dù đối với bạn nếu sùng bái nó có thể là suy đồi; thế là tia chập chờn đầu tiên của sinh hoạt tâm linh sẽ được khuấy động bên trong y. Nó sẽ được chứng minh, nó sẽ bắt đầu cơ tiến hóa tinh thần của y để rồi hết kiếp này sang kiếp khác, nó sẽ mang y tiến lên tới một quan niệm càng ngày càng cao siêu hơn về Đấng thiêng liêng, cho đến khi Linh hồn bắt đầu bằng cách khua chiêng gõ mõ trước một Tinh linh ngũ hành sẽ tìm đường về nhà phủ phục trước Gót Sen của đấng Mahadeva đắm chìm trong ánh quang huy bao giờ cũng tuôn ra từ đó. Đây là điều có thể có được khi bạn ngộ ra rằng Linh hồn được rèn luyện qua nhiều kiếp. Nếu bạn chỉ có một kiếp sống thế rồi đời đời sau đó cái gọi là Thiên đường th́ bạn ắt phải làm hối hả mọi thứ: bằng không thì rõ ràng là khi Linh hồn nhập cõi Thiên đường, nó ắt thấy mình ở vào vị thế hoàn toàn không thể hiểu được.

Để cho bạn thấy tục sùng bái ngẫu tượng này có công dụng ra sao tôi xin xét (tôi đă từng xét điều này ở đâu đó) một hình ảnh quen thuộc đối với bạn: Hình ảnh đấng Mahadeva trên con Nandi tức con Bò mộng chở ngài. Thế mà trong một thị trấn vào ngày lễ hội, ảnh hưởng của Thượng Đế đặt trên con vật chuyên chở ngài rồi được dẫn dắt đi qua đường phố trên thị trấn. Nhiều người với tâm trí ở các trình độ tiến hóa khác nhau ắt nhìn thấy nó; đối với họ nó ắt truyền tải các loại ư tưởng khác nhau. Trước hết ta hãy xét Chandogyopanishad và những ý nghĩa được trình bày trong đó [[2]]. Trong đó người ta nói Brahman ngồi trên con Bò mộng, nhưng tôi xét hình dáng quen thuộc hơn của đấng Mahadeva trên con Nandi. Xét theo quan điểm dân gian thì điều này có nghĩa là gì? Giờ đây tôi chỉ trích dẫn thôi. Bầu trời là biểu tượng của Thượng Đế và kẻ được gọi là tín đồ theo thần học ắt chỉ nhìn thấy hình ảnh bên ngoài của bầu trời trùm khắp mà đối với y là một biểu tượng hữu hiệu nhất của sự lớn lao và cao cả; đó là tự thân bầu trời đã có mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao bên trong mình; liệu bạn có thể có biểu tượng nào gây ấn tượng nhiều hơn những thứ ấy mà lại có thể truyền đạt cho tâm trí hạn hẹp cái ý tưởng vô cực, về sự sống vô biên vốn lấp đầy toàn thể không gian? Như vậy đối với kẻ nào đã được dạy dỗ một điều nào đó ít ra cũng về ư nghĩa của các biểu tượng thì Thượng Đế sẽ được tượng trưng bằng bầu trời trùm khắp; còn con Bò mộng mà ngài cưỡi trên đó ắt là biểu tượng của thế giới; và bốn cẳng chân của con Bò mộng, mỗi bàn chân có một tên riêng, sẽ nói cho y biết một điều ǵ đó về cách thức mà thế giới hoặc vũ trụ vận hành theo đó. Đó là v́ một bàn chân ắt là Agni tức thần Lửa, một bàn chân kia ắt là Vayu tức thần Gió – theo ngôn ngữ cao siêu hơn thì đó là Thần khí của Thượng Đế tối cao; một bàn chân khác ắt là Mặt trời khi nó chiếu sáng, cung cấp ánh sáng cho thế gian; còn bàn chân thứ tư ắt là bốn phương hay bốn góc chân trời. Như vậy đối với tâm trí y biểu tượng này ắt truyền đạt ý nghĩa như vậy, nếu có một ai giải thích cho y biết ý tưởng sự chăm sóc trùm khắp của Đấng thiêng liêng an dưỡng nơi thế giới biểu lộ; mặt trời, lửa, gió và bốn phương trên bầu trời, tất cả đều được tượng trưng bằng bốn chân của con Bò mộng đưa Thượng Đế tiến lên, do đó nâng đỡ và dẫn dắt sự sống của vũ trụ biểu lộ. Thế rồi một số các bạn ắt theo đuổi một lời giải thích tinh vi hơn được ban ra cho bạn; điều này được gọi là sự sùng bái trí tuệ. Thế rồi Thượng Đế ắt là tâm trí nơi con người và Thượng Đế cưỡi trên vật cưỡi của mình ắt là tâm trí ngự trong cơ thể. Bấy giờ bàn chân của con Bò mộng cũng không mất đi ý nghĩa bởi v́ một bàn chân khác là ngôn ngữ, một bàn chân nữa là hơi thở, một bàn chân nữa là thị giác và một bàn chân nữa là thính giác. Bấy giờ Shankaracharya dạy rằng vì bốn bàn chân của con Bò mộng đưa con thú đi tới bất cứ nơi đâu mà nó muốn đi; cũng vậy tâm trí đạt được mục đích nhờ vào ngôn từ, hơi thở, thị giác và thính giác; chúng khiến cho thể xác và Linh hồn bên trong thể xác tiếp xúc được với vũ trụ vật chất ngoại giới. Như vậy, nhờ vào các bàn chân này của con Bò mộng, tức các giác quan của con người, ta có thể chuyển đạt vào bên trong tới tận Linh hồn tri thức mà chính Linh hồn đã bước vào biểu lộ cũng chỉ cốt để mưu tìm nó thôi. Như vậy ta có được ý nghĩa triết học của ngẫu tượng khi nó diễu hành qua đường phố và nó nhắc ta nhớ tới Linh hồn đang hiện thể. Thế nhưng có một ý nghĩa sâu xa hơn mà bạn ắt không thấy được trình bày huỵch toẹt nhưng bạn có thể triển khai nó cho bản thân hoặc ít ra cũng nhận ra nó khi tôi giải thích. Thế mà ta hãy giả sử Thượng Đế tượng trưng cho chính Đấng thiêng liêng, tượng trưng cho Tinh thần mà ta mưu tìm, tượng trưng cho sự biểu lộ cao siêu nhất – cho dù ta gọi nó là Brahman, Shiva hay Vishnu; nhưng ta hãy công nhận Đấng Nhất Như, Đấng Tổng Thể, Đấng không thể phân chia được tượng trưng qua hồng danh này và qua dạng ngẫu tượng này. Thế thì bàn chân của con Bò mộng ngụ ý gì? Chúng ắt ngụ ý là các trạng thái tâm thức nhờ đó Linh hồn có thể leo cao lên hướng về Đấng Chúa tể, sao cho hết bàn chân này tới bàn chân khác của con Bò mộng, ắt là hết trạng thái này tới trạng thái kia của Linh hồn giúp cho nó càng ngày càng tiến gần hơn tới Tnh thần vũ trụ cho đến khi cuối cùng nó ắt thấy mình hiệp nhất với Tinh thần vũ trụ. Một bàn chân ắt là trạng thái tâm thức mà Linh hồn sống và vận động nơi đó trong những giờ tỉnh thức; bàn chân kế tiếp ngụ ý là trạng thái Svapna mà ta có nói tới ngày hôm qua và nơi Tinh thần nó được coi là bước thứ nhì tiến về phía Đấng thiêng liêng; bàn chân thứ ba ngụ ý là trạng thái Sushupti khi ta tiến một bước thêm nữa hướng về Đấng thiêng liêng; còn bàn chân cuối cùng ắt ngụ ý là trạng thái Turiya mà Linh hồn chuyển từ đó lên để Linh hồn hiệp nhất với Thượng Đế. Điều này khiến cho khi nhìn thấy biểu tượng ấy, tâm trí phát triển sực nhớ tới quan niệm cao siêu nhất của Triết lý tinh thần. Thế là bản thân tôi vì đã quen thuộc với quan điểm cao siêu ấy, thường xuyên ám ảnh tâm trí tôi và trở lại với tâm thức ngoại giới của tôi một cách mãnh liệt và sống động đến nỗi khi rảo bước qua đền thờ Madura tôi thấy có một ảnh tượng là dạng điêu khắc của con Bò mộng linh thiêng th́ tôi không chỉ liên tưởng tới một con Bò mộng được khắc họa trên đá mà là một tiếng nói gợi nhớ lại giáo huấn tôi đã từng được tiếp thu về các trạng thái tâm thức, nhắc tôi nhớ lại con đường đi thẳng đứng lên và tận cùng nơi Thượng Đế. Như vậy bạn có thể xét tới cái gọi là ngẫu tượng mà vẫn tìm ra trong đó ý nghĩa cần chuyển tải; và nếu bạn không có sinh hoạt tâm linh trong nội bộ bản thân mình vốn mang theo ý nghĩa chân thực th́ bạn không có quyền đơn thuần là chế nhạo tục sùng bái ngẫu tượng, coi đó là rỗng tuếch đối với mình chỉ vì chính mình đang rỗng tuếch.

Như vậy ta cũng có thể xét kinh Puranas vốn chứa đầy biểu tượng hệ thuộc loại phức tạp và khó hiểu nhất. Nếu bạn muốn hiểu biểu tượng hệ ấy có thể được giải thích như thế nào th́ bạn hãy quay sang một thắc mắc đơn thuần mà ta thấy bà Blavatsky có bàn đến trong bộ Giáo Lư Bí Truyền và trong phương pháp gỡ rối bi mật của một thần thoại, ta cũng có thể rút ra được chìa khóa giúp ta có thể mở khóa được cho bản thân mình hiểu được nhiều điều bí nhiệm khác. Tôi chỉ xét một trong số rất nhiều ví dụ mà bà rút ra từ những câu chuyện trong kinh Puranas, giải thích những ý nghĩa khác nhau của chúng. Ví dụ bà tuyển chọn và muốn bạn chú ư, và tôi không chịu triển khai tỉ mỉ bởi vì bạn có thể tự mình đọc lấy, đó là những ví dụ về các Maruts tức là những vị Thần gió, con của Rudra, Thần sấm có nghĩa là những cung bậc và phần trước của gió biểu lộ dưới dạng hiện tượng. Trước hết thì nó biểu diễn một sự kiện trong Thiên nhiên. Nó biểu diễn sự thật là đằng sau mọi lực trong Thiên nhiên đều có một trí thông tuệ sao cho mọi hiện tượng thiên nhiên đều có một thực thể liên quan tới nó sao cho theo ý nghĩa rành rành nhất và ý nghĩa hiển nhiên nhất th́ các Maruts này là những thực thể bàn tới một vài dạng biểu lộ trong hiện tượng giới; và nếu bạn hiểu được chúng, hiểu được ngôn ngữ và quyền năng của chúng thì bạn ắt hiểu được những hiện tượng mà chúng kiểm soát. Maruts không phải là đối tượng tôn thờ dành bất cứ linh hồn tiến hóa nào, Maruts là những quyền năng mà Linh hồn tiến hóa dùng ý chí của chính mình để kiểm soát; không một bậc Rishi nào tôn thờ Maruts mà chỉ điều động chúng; nhưng điều đó không làm thay đổi sự kiện chúng là những thực thể có thật; chúng có địa vị thật sự trong Càn khôn, chúng ở trong đám các Thiên thần, chúng là khía cạnh tinh thần của mọi hiện tượng vật lý mà bạn nhìn thấy; và nếu bạn bị thất truyền về sự thật căn bản của Huyền bí học, nếu khi nghiên cứu các hiện tượng vật lý mà bạn chỉ thấy các hiện tượng thôi và không thấy Tinh thần đang kiểm soát thì bạn chỉ bưng tai bịt mắt trước những bài học có thực của Thiên nhiên bởi v́ Vật chất rốt cuộc đã thắng lướt được Tinh thần chẳng những do nó che khuất Tinh thần không cho mắt phàm thấy được mà vì nó còn làm mờ mắt cả Tinh thần ngự nơi con người. Thế thì theo ý nghĩa thấp nhất, Maruts là các thực thể – thực thể liên quan tới thế giới khí quyển, có liên quan trực tiếp tới việc tạo ra gió và phải tuân phục ý chí thanh khiết lão luyện nơi con người.. Thế rồi ta có một ý nghĩa khác, qua đó ta thấy chúng không còn là các thực thể trong Càn khôn mà với tư cách là con của Rudra. Rudra ba hồi là Shiva, ba hồi là bậc đạo sĩ Yoga tối đại (Maha Yogi). Vậy thì liệu điều ấy có thể có ý nghĩa gì đối với các con của đạo sĩ Yoga, con của đạo sĩ khổ hạnh, trinh bạch? Bấy giờ chúng trở thành các nỗi đam mê trong bản chất của y, chúng là biểu tượng của các lực mà y đã khống chế được và theo quan điểm này chúng trở thành kẻ thù của con người trước hết phấn đấu chống lại y; thế rồi y lại tiến cao hơn, vẫn còn duy trì được biểu tượng này của tu sĩ khổ hạnh; những thứ mà con của bản chất thấp hèn của y, là những nỗi đam mê mà y phải chinh phục; chúng trở thành con của bản chất cao siêu khi bản chất thấp hèn đã được ý chí thanh khiết của tu sĩ khổ hạnh chinh phục; mọi quyền năng đều ở nơi ý chí ấy giúp cho y có thể vận dụng được ra thế giới bên ngoài. Thế rồi bạn xét đến câu chuyện trong đó Indra ra sức tiêu diệt chúng, bởi vì đứa trẻ ấy phải sinh ra để rồi tiêu diệt chính Indra, còn Indra theo nghĩa này lại là biểu lộ thấp kém của Thên nhiên – là Thần của bầu trời mang lưỡi tầm sét, là biểu tượng của Càn khôn vật lý biểu lộ. Khi đứa trẻ sinh ra để tiêu diệt Indra (một lần nữa đó là Maruts) th́ Indra vớ lấy lưỡi tầm sét của mình và khi ở trong tử cung y đã làm rung chuyển phôi thai thành ra bảy mảnh, mỗi mảnh lại chia ra làm bảy nữa. Chính mảnh thấp hơn đã kiểm soát sự phát triển của mảnh cao hơn và đã chuyển biến thành dạng thấp hơn các lực lẽ ra phải phát triển ra thành ý chí thanh khiết tiên tiến. Thế là khi từng bước góp nhặt lại mọi biểu tượng khác nhau mà ta thấy rải rác trong suốt kinh Puranas thì ta ắt thấy rằng quan niệm này về Maruts có thể được dịch ra thành những điều gợi ý mang tính giáo huấn nhất, vốn có thể dẫn dắt bạn trong khi chuyển hóa chính mình từ các lực hạ đẳng biến thành các lực thượng đẳng, để rồi chuyển Nghiệp vốn được tạo ra nơi cõi trần thành ra một ham muốn mà nơi cõi Tinh thần là cội nguồn của mọi sự tiến bộ, và là suối nguồn của mọi sự sống chân thực. Tôi đề cập tới trường hợp đặc thù này bởi vì nhiều người trong các bạn có thể có khuynh hướng nghiên cứu vấn đề này – có lẽ tôi không nên nói với nhiều người như thế – nhưng nếu bạn muốn nghiên cứu sâu hơn nữa th́ bạn ắt thấy mình có thể sử dụng bậc đạo sư vĩ đại H. P. Blavatsky vốn đã được biệt phái đến cho chúng ta để chúng ta sử dụng bà nghiên cứu tri thức mà bà có ư hướng truyền đạt lại cho ta nhằm sử sụng nó làm một manh mối để hiểu biết thêm nữa, bạn có thể phục vụ cho thế giới một việc mang giá trị không thể đánh giá nổi. Bạn hãy xét những kinh điển của chính mình với kiến thức thật chính xác mà chính bà cũng không có được, bạn có thể xét tới dạng nguyên thủy bằng tiếng Bắc phạn, là một ngôn ngữ mà chính bà cũng chưa quán triệt, bạn có thể rút ra từ đó ngôn ngữ của chư Thiên, dùng ánh sáng mà bà đặt vào tay mình soi chiếu cho nhiều ý nghĩa nội môn và nhiều manh mối bí mật; bấy giờ bạn có thể trình bày cho thế gian biết những điều đó, vậy là tiếp tục cái công trình mà bà đã được biệt phái đến đây để khởi xướng nhưng còn bỏ dở. Đó là v́ các đấng biệt phái bà tới đã hi vọng rằng nếu đưa ra một sự kích thích thì đó đây trong đám dân Ấn Độ sẽ có được một người hưởng ứng với ánh sáng, tiếp thu từ tay bà để triển khai tiếp tục, rút ra từ những kinh điển cổ truyền này một giáo huấn tâm linh cần thiết để hỗ trợ cho thế gian. Nếu ở đây có người nào hứng khởi với lời gợi ý tự mình nghiên cứu nó thì tôi kể như cuộc đời bà đã gieo được thành quả thật sự nơi đây, vì bà chỉ thật sự gặt hái được phần thưởng nếu đã đưa ra được một lực thôi thúc giúp ta hướng về sinh hoạt tâm linh trên thế giới.

Và thế là tôi có thể dẫn dắt quí bạn qua nhiều biểu tượng khác nữa, thế là tôi có thể nêu ra cho các bạn nhiều điều khác nữa. Tôi xin xét điều có vẻ là một trường hợp đơn giản xiết bao: sợi chỉ của người Bà la môn. Nó tượng trưng cho cái gì? Nó biểu diễn cái gì? Nó tượng trưng cho bản chất tam bội của con người: phần hạ đẳng, phần trung đẳng và phần thượng đẳng; nó tượng trưng cho ba cõi tâm thức mà tôi có nói đến ngày hôm qua; nó tượng cho ba tình huống của Atma mà tôi cũng có nói tới. Hơn nữa nó còn tượng trưng cho thân, khẩu và ý. Khi ta xét những ý nghĩa đó rồi phán đoán xem nó phải ngụ ý là ǵ khi con người đeo sợi chỉ ấy. Thế giới vốn biết ai đeo sợi chỉ và đối với những cặp mắt lão luyện th́ biểu tượng bên ngoài hoặc là được thánh hóa hoặc là bị bại hoại tùy theo việc nó biểu diễn một thực tại hay một lời dối trá. Đó là v́ trước hết xét về thân, khẩu, ý th́ nó là biểu tượng của việc kiểm soát được mỗi thứ ấy, vì thế khi người ta thắt nút qua sợi chỉ thì điều này ngụ ý là người đeo sợi chỉ đã kiểm soát được thân, khẩu, ý. Nó truyền đạt cho cặp mắt của người nhìn thấy ý tưởng về một con người đã tự kiểm soát được mình hoàn toàn, cơ thể y chẳng bao giờ có thể phản bội y. Các giác quan của y chẳng bao giờ có thể chinh phục được y; ngôn ngữ của y chẳng bao giờ có thể làm ô uế hoặc tổn thương cho tai người nghe. Ngôn ngữ mà y đă tự kiểm soát được thì chỉ sử dụng khi có điều gì cần nói mà đáng nói ra chứ không bao giờ được dùng cho một lời không tử tế, bởi v́ người Bà la môn là bạn của mọi tạo vật và ngôn ngữ của y phải luôn luôn trợ giúp chứ chẳng bao giờ gây thương tổn. Và chẳng những nó tượng trưng cho con người đã kiểm soát được thân và khẩu mà nó còn hàm ý là y đã kiểm soát được ý, và ý ấy đă nằm dưới quyền điều khiển của sợi dây tam bội trên đó có những nút thắt sao cho nó có thể đóng vai trò trợ giúp cho điều cao quí nhất nơi bản thân y và được dùng để phục vụ cho những người mà giai cấp Bà la môn thuộc về loại người ấy. Đó là vì người Bà la môn không có quyền tồn tại cho riêng mình; y sống vì dân tộc chứ không phải vì bản thân. Nếu y sống v́ bản thân thì y không phải là người Bà la môn chân chính; y có thể có những dấu hiệu bên ngoài về giai cấp, y có thể có sợi dây tam bội, y có thể dùng pháp danh linh thiêng và thậm chí y có thể tuân theo những qui tắc thuộc dòng tu của mình nhưng đây chỉ là lớp vỏ bên ngoài. Chỉ khi y không sống cho bản thân mà sống v́ thế gian thì giai cấp Bà la môn trên cương vị là kẻ phục vụ tâm linh mới xứng đáng tồn tại trên thế gian. Y bắt nguồn từ miệng của Brahman sao cho y có thể là linh từ được thốt ra từ sự sống thiêng liêng giữa nhân quần. Đó là ý nghĩa của người Bà la môn. Bất cứ khi nào tôi thấy sợi chỉ thì bản thân tôi cũng nghĩ liệu đó có phải là thực tại hay chăng, liệu nó có biểu diễn sự thật hay nó chỉ là tàn dư của một phong tục cổ truyền vốn đã trở thành điều báng bổ tồi tệ nhất? Đó là v́ sự thoái hóa từ giai cấp cao nhất xuống giai cấp thấp nhất chính là sự thoái hóa tồi tệ nhất, đó là sự đầu độc thế gian bởi vì nó đầu độc sinh hoạt tâm linh nơi con người. Những lời lẽ này có thể dường như mạnh mẽ, nhưng chúng là cái tinh thần mà các knh điển cổ truyền dựa vào đó. Chúng chẳng mạnh mẽ gì hơn điều mà Đấng Bàn Cổ đã thốt ra; chúng chẳng mạnh mẽ gì hơn điều ta có thể thấy trong tác phẩm như Mahabharata; chúng chẳng mãnh mẽ gì hơn điều ta có thể đọc thấy trong nhiều kinh Puranas; và nếu ngày nay chúng dường như là một sự châm biếm cay đắng (theo chỗ tôi biết) th́ đó là v́ tôi đang nói tới những lời lẽ về một thế giới cũ trong thế giới hiện đại và sự tương phản giữa lý thuyết và thực hành đã gây sững sờ quá nhiều. Tuy nhiên bởi v́ lý thuyết là đúng cho nên mặc dù vẫn còn là ngoài giai cấp, tôi vẫn công nhận sự thật ấy mà ta đòi hỏi được đứng vào hàng ngũ quí vị. Trong tình cảnh hiện nay thì tôi chẳng có gì ngoài việc công khai thừa nhận cái giai cấp vốn phải biểu lộ được tính thánh thiện của người Bà la môn. Vì thế tôi bảo rằng nếu muốn cho Ấn Độ được tái sinh th́ nó phải xuất phát từ cái giai cấp tượng trưng cho quá khứ, vì vậy trong đó hàm chứa triển vọng hứa hẹn của tương lai bất kể ngày nay ra sao đi chăng nữa. Chính vì thế mà khi người ta yêu cầu tôi phát khởi những cuộc cải cách thì tôi bèn đáp rằng: “Tôi xin phục vụ cho các bạn với những điều gợi ý, với sự giúp đỡ nếu bạn chấp nhận, nhưng việc lãnh đạo công cuộc cải cách tôi xin nhường cho giai cấp tâm linh vốn có quyền lãnh đạo sao cho trong tương lai nó có thể xuất hiện mà không gây hủy diệt, không làm rung rinh chính cái nền móng mà sinh hoạt của tương lai dân tộc được xây dựng trên đó”.

Tôi nói ra những điều ấy th́ có vẻ gây áp lực một cách bất công đối với các bạn bởi vì cá nhân các bạn đâu có đáng bị khiển trách do toàn thể xứ sở này bị suy vong; nhưng cá nhân các bạn là một bộ phận của quốc gia vĩ đại và các bạn cũng bị suy vong theo quốc gia ấy. Nhưng hỡi các huynh đệ Bà la môn, liệu tôi biết nói sao với các bạn, với những người mà tôi sắp ngỏ lời theo kiểu bậc trưởng thượng? Nếu tôi không thể làm như vậy đó là vì tôi có biết nhiều chuyện hơn quí bạn; tôi vốn là người ở ngoài giai cấp lẽ ra phải ngồi dưới chân các bạn để xin làm học trò thì đâu có tư cách gì để lên mặt dạy đời; chính vì các bạn không có đủ tri thức để truyền dạy cho tôi nên học trò mới có quyền đòi hỏi thầy giáo nếu học trò chịu cúi mình tuân phục thầy giáo. Tôi hiểu các bạn vốn thuộc giai cấp tâm linh hãy ủng hộ lý tưởng ấy và công nhận rằng hiện nay nó đã bị suy đồi. Và nếu tôi nói ra những lời lẽ dường như tạo ra sự đối chiếu cay đắng thì đó chỉ vì vận mệnh tinh thần tương lai của dân tộc vốn nằm trong tay các bạn bởi vi mặc dù toàn thể quốc gia đã suy vong và các bạn cũng suy vong theo nó, thế nhưng các bạn vẫn còn có quyền năng ngỏ hầu có thể bắt đầu con đường hướng thượng và mặc dù sự thành công ắt chỉ là công sức khó nhọc của nhiều thế hệ, nhưng chẳng có lý do gì mà bạn lại không bắt đầu ngay từ ngày hôm nay. Tôi thừa biết rằng bạn không thể làm được như vậy trong một sớm một chiều và tôi cũng biết rằng hiện thời thì sợi dây của bạn ắt vẫn còn là trò diễu cợt và bạn càng cao quí thì càng cảm thấy mình bị châm biếm cay đắng khi đeo sợi dây ấy, bởi vì bạn biết nó biểu diễn cái gì và làm thế nào mà nó bị suy đồi. Tôi nói như vậy không phải để khiển trách bởi vì tôi đâu có tư cách gì để khiển trách các bạn? Tôi nói thế để cho đó đây trong số các bạn có thể nảy sinh ra ḷng ham muốn một sinh hoạt cao thượng hơn, v́ tôi dùng lưỡi tầm sét bổ vào tâm hồn các bạn nỗi cay đắng của suy vong để cho một lần nữa khả năng vươn lên có thể trở thành hiện thực trong đám các bạn. Đó là v́ tôi mong sao mỗi người trong các bạn khi cảm nhận sự suy vong và thừa nhận nó, ắt không chịu vứt bỏ sợi dây linh thiêng mà lại bắt đầu làm cho cuộc sống được trong sạch để xứng đáng đeo sợi ấy; và miễn là người ta bắt đầu làm những chuyện nho nhỏ, th́ người ta đã ắt bước một bước đầu tiên trên con đường hướng thượng. Đó là v́ còn nhiều kiếp sống nữa trải ra trước mắt ta, hết kiếp này tới kiếp khác khiến cho một giai cấp hùng mạnh hiện nay không thể thì mai kia cũng có thể sống xứng đáng với truyền thống huy hoàng của mình. Vì vậy tôi xin nói, chúng ta hãy uống cạn chén đắng Nghiệp quả của ḿnh, chúng ta hãy can đảm chịu đựng nó như những người quả cảm chứ không cãi cọ rằng nó quá nặng nề bởi vì chính chúng ta trong quá khứ đã gây ra nó; khi nhận thấy nó quả là cay đắng, ta hãy can đảm uống và uống cạn để cho nỗi cay đắng ấy tẩy rửa được linh hồn ta, sao cho ta có thể có được sức mạnh thay đổi tất cả những gì mà ta mơ ước và có thể quyết tâm tự cải tạo ḿnh để cho sự tẩy rửa tâm linh của dân tộc cũng sẽ bắt đầu. Thế rồi khi ta tái sinh trở lại, khi ta sẽ nhanh chóng tái sinh nếu ta muốn giúp đỡ dân tộc mà ḿnh thuộc về th́ lúc bấy giờ ta thấy mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn một chút và trong cái kiếp sống tốt đẹp hơn ấy ta sẽ hợp tác với nhau khi sợi dây tam bội không còn mang tính diễu cợt đối với kẻ đeo nó vì đă có đúng ý nghĩa; thế là hết kiếp này sang kiếp khác, ta sẽ nâng lên toàn thể dân tộc vốn đã sa đọa vì chính ta rơi rớt và cũng sẽ vươn lên khi ta bốc lên.

Đây là lời cuối cùng mà tôi dành cho các bạn trong sảnh đường này, không phải là lời khiển trách mà là lời chia buồn nói chung cùng với hoài bão chung dành cho quốc gia Ấn Độ. Chúng ta phải chịu trách nhiệm về điều đó. Vậy thì ta hãy bắt đầu công trình cải tạo, ta sẽ làm việc từ đời này sang đời khác cho đến khi nước Ấn Độ sẽ từng bước vươn lên và chúng ta sẽ lại đặt nó vào nơi xứng đáng với nó, nơi mà thật ra nó luôn luôn ở đó tức là dưới gót chân của các Đấng thần linh Cao cả. Mặc dù dân chúng hiện nay còn chưa thấy được như vậy, nhưng đến lúc đó họ sẽ thấy đúng như thế và lúc bấy giờ ánh sáng tỏa ra từ Gót Sen sẽ bao trùm nước Ấn Độ để cho thế giới tôn sùng Ấn Độ và biết rằng nó quả thật là Tinh thần ngự nơi cơ thể Nhân loại.

 

---------------------------



[[1]] Mundaka, ii, I.3

[[2]]  Chương iii, Tiết XVIII, I.

 

 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS