|
|
HOME T̀M HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS
|
|
Trích Giáo Lư Bí Truyền H.P.B. quyển
IV TIẾT 9 – CÁC BỘ KINH ÁO NGHĨA THƯ TRONG VĂN HỌC PHÁI NGỘ ĐẠO
|
|
TIẾT 9 – CÁC BỘ KINH ÁO NGHĨA THƯ TRONG VĂN HỌC PHÁI NGỘ ĐẠO
“Âm thanh”,
“Ngôn từ”, “Nguyên âm Ngộ đạo” và “Diệu âm” về Sấm chớp và các Thiên
thần trong kinh Khải huyền–
Bảy Nguyên âm và 49 Huyền năng – Bảy Nguyên âm và Bảy Căn chủng
– Khi Cuộc tuần hoàn thứ Bảy đă hoàn tất th́ không c̣n Thời gian nữa
– Ư nghĩa của Nước và Lửa trong các Bí pháp – “Sinh khí” – Lửa vốn
đồng nhất với Tự ngă – Biết được “Hồng danh” – Chu kỳ Garuda – Các
Đấng Kapilas thật là Xa xưa – Kapila là tên gọi chung của các Đấng
Thiên tôn Kumāras.
tiết 9
Các bộ kinh áo nghĩa thư
trong văn học phái NGỘ ĐẠO
Trong
quyển Các Nhà Ngộ đạo và
Tàn tích của họ, King đã nhắc chúng ta rằng trong ngôn
ngữ Hy Lạp một chữ chỉ có một
nguyên âm và một
tiếng. Điều này đưa
đến nhiều sự giải thích lầm lạc đối với những người chưa
được điểm đạo. Tuy nhiên, khi chỉ căn cứ trên sự kiện được
biết rõ này, người ta có thể thử so sánh và phóng rải
ánh sáng tràn đầy trên nhiều ý nghĩa thần bí. Do đó, các
chữ "Âm" và "Lời" rất thường được sử dụng trong
Áo nghĩa thư và
Purānas, có thể được
so sánh với những "Nguyên âm" của phái Ngộ đạo và "Âm thanh"
của Sấm sét và các Thiên thần trong sự
Thiên khải. Những chữ
giống như thế được tìm thấy trong
Pistis Sophia và trong
những Đoạn văn khác cùng các Thủ bản cũ. Điều này được
chính tác giả thực tế của tác phẩm mà chúng ta vừa đề
cập đến đã nhận xét.
Qua Hippolytus,
một trong những Giáo phụ đầu tiên, chúng ta học được những
gì mà Marcus – một môn đồ của Pythagoras hơn là một tín đồ
Thiên Chúa giáo theo phái Ngộ đạo, và chắc hơn hết là một
nhà Kabalah – đã nhận được trong sự thiên khải thần bí.
Người ta nói Marcus đã được mặc khải rằng:
Bảy vị trời
[[1]].
. . . mỗi vị phát ra một nguyên âm, tất cả hợp chung lại
thành một kinh kính mừng duy nhất, "mà
âm thanh truyền xuống
[từ bảy vị trời này] đến địa cầu, trở thành Đấng Sáng
tạo và cha của mọi vật hiện hữu trên địa cầu".
[[2]]
Được phiên
dịch từ cú pháp Huyền bí, song ngôn ngữ đơn giản hơn, điều
này có nghĩa là: Thượng Đế Thất phân đã phân hóa thành
bảy vị Thượng Đế, hay
các Mãnh lực Sáng tạo (Nguyên âm), Đấng này (Thượng Đế Ngôi
Hai hay "Âm thanh") đã sáng tạo vạn hữu trên Địa cầu.
Chắc chắn ai
đã quen thuộc với văn học của phái Ngộ đạo có thể khó thấy
trong sách Khải huyền
của Thánh John một tác phẩm có cùng trường phái tư tưởng.
Vì chúng ta thấy Thánh John nói:
Bảy tiếng
sấm vang lên . . . [và] tôi sắp viết . . . [nhưng] tôi nghe một
tiếng từ bầu trời nói với tôi, hãy Phong kín những vật mà
bảy tiếng sấm phát ra và đừng viết về chúng.
[[3]]
Phán quyết
giống như thế được nói với Marcus, cùng một phán quyết như
thế được nói với tất cả những bán Điểm đạo đồ và các
Điểm đạo đồ khác. Chính sự tương đồng của những sự diễn
tả đã sử dụng, và của những ý niệm ẩn tàng, bao giờ
cũng một phần nào phản bội những Bí pháp. Chúng ta phải
luôn luôn tìm kiếm nhiều ý nghĩa trong mỗi bí nhiệm có
tính cách ẩn dụ được khám phá, nhất là trong những bí
nhiệm có số bảy và tích số của bảy với bảy hay là bốn
mươi chín. Hiện nay, trong
Pitis Sophia, khi Rabbi Jesus được các môn đệ của người yêu
cầu khám phá "Các Bí pháp về Ánh sáng của Cha người" –
nghĩa là của Thượng ngã chiếu diệu bởi sự Điểm đạo và
Kiến thức Thiêng liêng – Jesus trả lời:
Bạn có thể
tìm kiếm bí pháp này không? Không có bí pháp nào tuyệt
diệu hơn các bí pháp này; chúng mang linh hồn của các bạn
vào Ánh sáng của Ánh sáng, vào cõi của Chân lý và Thiện
hảo, vào nơi không có đực, cái, không có hình dạng, trừ
Ánh sáng vĩnh cửu, chỉ có sự im lặng. Vậy không có gì
tuyệt diệu hơn những bí nhiệm đó, bí nhiệm mà bạn tìm
cách đi vào, chỉ trừ ra
bí nhiệm của bảy Nguyên âm và bốn mươi chín Quyền năng
của chúng trong đó. Và không danh xưng nào tuyệt diệu hơn
tất cả các (Nguyên âm) ấy.
[[4]]
Khi đề cập đến
"Lửa," Thiên bình luận viết:
Bảy Cha và
Bốn mươi chín Con cháy rực trong
Bóng tối, song họ
là sự sống và Ánh
sáng và sự nối tiếp trong đó xuyên qua Thời kỳ Vĩ
đại.
Vậy, hiển nhiên rằng trong mỗi sự giải thích theo Nội môn
của những tín ngưỡng ngoại môn, được trình bày dưới một
hình thức ẩn dụ, có cùng ý niệm ẩn tàng như thế – số
bảy căn bản, sự kết hợp của ba và bốn, số BA thiêng liêng
đứng trước tạo nên số mười hoàn hảo.
Những số này cũng áp dụng để chia thời gian, đối với vũ trụ học, siêu hình học, và vật lý học, cũng như đối với con người và tất cả những sự vật khác trong Thiên nhiên hữu hình. Như thế, Bảy Nguyên âm này với bốn mươi chín Quyền năng của chúng tương đồng với Ba và Bảy Lửa của người Ấn Độ và bốn mươi chín Lửa của họ; tương đồng với các bí pháp về số của Simorgh Ba Tư; tương đồng với những bí pháp của Kabalah Do Thái. Những nhà Kabalah Do Thái này, thu nhỏ các con số ấy lại (cách thức "che giấu" của họ), tạo nên kỳ gian của mỗi sự Đổi mới liên tục (hay cái mà chúng ta gọi theo ngôn ngữ Nội môn là Cuộc tuần hoàn) chỉ là 1.000 năm, hay đối với bảy sự Đổi mới của Địa cầu là 7.000 năm, thay vì là 7.000.000.000 như con số gần đúng hơn, và quy định toàn thể kỳ gian của Vũ trụ chỉ 49.000 năm. [[5]]
Hiện nay,
Giáo lý Bí truyền cung cấp cho chúng ta chiếc chìa khóa tiết
lộ trên căn bản vững chắc của sự tương đồng nhờ đối chiếu
mà Garuda, sinh vật nửa người nửa chim có tính cách ẩn dụ
và quái đản – Vāhana hay hiện thể trên đó Vishnu, với tư
cách Kāla hay "Thời gian" được trình bày như đang cưỡi – là
nguồn gốc của tất cả những ẩn dụ như thế. Ngài là Phượng
hoàng Ấn Độ biểu hiện của thời gian theo chu kỳ và có
tính tuần hoàn, "Nhân sư" (Sinha) được trình bày dẫy đầy
trên cái mà người ta gọi là những hòn ngọc của phái Ngộ
đạo.
[[6]]
Trên bảy tia
của vương miện sư tử và tương ứng với các điểm của chúng,
có bảy nguyên âm của mẫu tự Hy Lạp, AEHIO¡W
để tiêu biểu cho Bảy tầng Trời.
[[7]]
Đó là Sư tử
Thái dương hay biểu tượng của Chu kỳ Thái dương như Garuda
[[8]]
là biểu tượng của Đại Chu kỳ, Đại Thiên kiếp, đồng vĩnh
cửu với Vishnu, dĩ nhiên và cũng là biểu tượng của Mặt
trời và Chu kỳ Thái dương. Điều này được trình bày do
những chi tiết của ẩn dụ. Khi ra đời, Garuda vì sự rực rỡ
của mình, bị hiểu lầm là Agni, Hỏa thần, và do đó, được
gọi là Gaganeshvara, "Chúa tể của cõi Trời". Sự biểu hiện
của người với tư cách Osiris trên những viên ngọc Abraxas
(thuộc phái Ngộ đạo) và bởi nhiều đầu của con quái vật ẩn
dụ với cái đầu và chiếc mỏ của con chim ưng hay diều hâu –
cả hai đều là thái dương điểu – chứng tỏ đặc tính thuộc
về mặt trời và tính chất của Garuda. Con của người là
Jatāyu, chu kỳ 60.000 năm. Như nhận xét hợp lý của G. W. King:
Dù bất cứ
ý nghĩa nguyên thủy nào của nó [của viên ngọc với con sư
tử thái dương và các nguyên âm] có lẽ được du nhập từ Ấn
Độ trong hình thức hiện tại (nguồn sự thật này của biểu
tượng học thuộc phái Ngộ đạo).
[[9]]
Những bí
nhiệm của bảy Nguyên âm phái Ngộ đạo, phát ra bởi những
Tiếng sấm của Thánh John, chỉ có thể nhận ra bởi khoa
Huyền bí học nguyên thủy của Āryāvarta, được mang đến Ấn Độ
bởi những người Bà la môn đầu tiên, họ đã được
điểm đạo trong vùng Trung
Á. Và đây là khoa Huyền bí học mà chúng ta nghiên cứu
và cố gắng giải thích càng nhiều càng tốt trong những
trang sau đây. Giáo lý của chúng ta về bảy Căn chủng và bảy
Cuộc tuần hoàn của sự sống và sự tiến hóa chung quanh Dãy
Địa cầu của chúng ta, có thể được tìm thấy ngay cả trong
sách Khải huyền.
[[10]]
Khi bảy "Tiếng sấm" hay "Âm thanh" hay "Nguyên âm" – một ý
nghĩa trong bảy đối với mỗi nguyên âm như thế liên hệ trực
tiếp đối với chính Địa cầu chúng ta và bảy Căn chủng của
nó trong mỗi Cuộc tuần hoàn – "phát ra âm thanh của chúng",
nhưng ngăn cấm nhà có Nhãn thông "ghi chép và niêm phong
những vật này", điều gì mà vị Thiên thần "đang đứng trên
biển và địa cầu" đã làm?
(Ngài) giơ
tay lên trời và phát nguyện sống vĩnh viễn, . . . không có
thời gian nữa: nhưng trong các ngày của tiếng nói của vị
thiên thần thứ bảy, khi Ngài sẽ bắt đầu thốt ra, bí nhiệm
của Thượng Đế [của Chu kỳ] sẽ được chấm dứt.
[[11]]
Theo thuật ngữ
Thông Thiên Học, điều này có nghĩa là, khi Cuộc tuần hoàn
thứ Bảy hoàn tất, Thời gian sẽ chấm dứt. "Sẽ không có
thời gian" – rất là tự nhiên, vì Chu kỳ Hỗn nguyên sẽ bắt
đầu và sẽ không còn người nào trên Địa cầu để duy trì sự
phân chia thời gian, trong sự tan rã theo chu kỳ và ngừng
nghỉ của cuộc sống hữu thức.
Tiến sĩ
Kenealy và những người khác tin rằng những phép tính về chu
kỳ bảy và bốn mươi chín được những vị giáo sĩ Do Thái đem
vào xứ Chaldea. Điều này có thể đúng hơn. Nhưng những người
Babylon có tất cả các chu kỳ này và chỉ giảng dạy chúng
trong các đại bí pháp điểm đạo của Huyền thuật về thiên
văn của họ, đã nhận được sự minh triết và kiến thức của
họ nơi người Ấn Độ. Do đó, không khó khăn gì để nhận ra
được Giáo lý Bí truyền của chúng ta nơi họ. Trong phép
tính lịch bí mật của người Nhật, họ đã có cùng các hình
ảnh trong các chu kỳ của họ. Đối với người Bà la môn, kinh
Purānas và
Upanishads của họ là
một bằng chứng rất hay về điều ấy. Những người sau này đã
kinh qua trọn vẹn trong văn học phái Ngộ đạo; và một người
Bà la môn chỉ cần đọc
Pistis Sophia
[[12]]
để nhận ra được gia tài của tổ phụ mình, ngay cả trong cú
pháp và các lối so sánh được sử dụng. Chúng ta hãy so
sánh. Trong Pistis Sophia,
các môn đồ nói với Đức Jesus:
Rabbi khám
phá ở chúng ta các bí nhiệm của Ánh sáng [nghĩa là "Lửa
của Kiến thức hay sự Giác ngộ"], . . . vì rằng chúng ta đã
nghe có một phép rửa tội khác bằng
khói và một phép
khác nữa bằng Tinh Thần của Ánh sáng Thiêng liêng [nghĩa là
Tinh thần của Lửa].
[13]
Khi John nói
về Jesus:
Thực ra, ta
rửa tội con bằng nước; . . . nhưng . . . người sẽ rửa tội con
với Đức Thánh linh và với lửa.
[[14]]
Ý nghĩa
thực sự của đoạn này rất sâu xa. Điều ấy có nghĩa là
John, một vị khổ hạnh chưa được điểm đạo không thể truyền
đạt cho môn đồ của mình một thứ minh triết lớn lao hơn các
Bí pháp, gắn liền với cảnh giới Vật chất mà Nước là
tượng trưng. Thuyết Ngộ đạo của người là thuyết thuộc giáo
điều công truyền và nghi thức, của nghĩa đen trong Chính
thống giáo;
[[15]]
trong khi sự minh triết mà Đức Jesus, một Điểm đạo đồ của
những Bí pháp Cao cấp mặc khải cho họ là một loại cao hơn,
vì nó chính là sự Minh triết về "Lửa" của thuyết Ngộ đạo
thực sự hay là sự
Giác ngộ Tinh thần chân thực. Một đàng là Lửa, một đàng
là Khói. Đối với Moses đó là
Lửa trên Núi Sinai và
Minh triết Tinh thần; đối với vô số "người" thấp kém, đối
với người thường, Núi Sinai trong (xuyên
qua) Khói, có nghĩa là lớp vỏ công truyền của chính
thống giáo hay là lối thiên về
nghi thức có
tính cách môn phái.
Khi nhìn về
trước, đọc sự đối thoại giữa các nhà hiền triết Nārada và
Devamata trong Anugītā,
[[16]]
một đoạn thư trong
Mahābhārata, mà sự cổ xưa và sự hệ trọng của nó có
thể học được trong Các
Thánh thư của Đông phương, do Giáo sư Max Müller xuất bản.
[[17]]
Nārada nói về "những hơi thở" hay "những hơi gió của sự
sống" như trong những bản dịch vụng về, người ta gọi chúng
bằng các từ như Prāna, Apāna v.v. . . . mà ý nghĩa Bí truyền
đầy đủ và áp dụng vào các nhiệm vụ cá nhân có thể khó
diễn đạt bằng Anh ngữ. Ông nói về khoa học này như sau:
Kinh Veda dạy
chúng ta rằng lửa
thực sự là tất cả những Đấng thánh linh, và kiến thức
(của lửa) phát sinh từ những người Bà la môn, được kèm theo
bằng sự thông tuệ.
[[18]]
Nhà Bình giải
nói "lửa" tức muốn nói đến Bản ngã. Nhà Huyền bí học
nói, Nārada dùng từ “sự thông tuệ” không có ý nói đến "sự
biện luận" cũng như không nói đến "tranh căi" như Arjuna Mishra
tin tưởng; mà thật ra là "sự thông tuệ" chân chính hay sự
thích ứng của Lửa Minh
triết đối với nghi thức công truyền dành cho phàm nhân.
Đó là nỗi bận tâm chính của những người Bà la môn, họ là
những người đầu tiên nêu gương cho các dân tộc khác, họ nhân
hình hóa và nhục thể hóa các chân lý siêu hình cao cả
nhất. Nārada chứng minh điều này một cách rõ ràng và do
đó, người nói:
Khói
của (lửa) này là một sự vinh quang tuyệt diệu (hiện ra)
dưới hình thể . . . bóng tối [thật vậy!]; tro (của nó), . .
. [là] sự đam mê: và . . . điều thiện gắn liền với nó,
trong nó sự hiến dâng bị ném đi.
[[19]]
Nghĩa là năng
lực ấy của môn đồ nắm lấy chân lý tế vi (ngọn lửa) thoát
theo hướng lên trời, trong khi sự hy sinh khách quan còn lại
như một bằng chứng và
lòng thành kính chỉ đối với người thường. Thật ra, sau
đó Nārada có thể nói gì khác hơn?
Những ai
hiểu sự hy sinh sẽ hiểu Samāna và Vyāna như là sự (hiến
dâng) chính yếu. Prãna
và Apãna là các thành phần của sự hiến dâng, . . . và
giữa chúng là lửa.
Nó là vị trí tuyệt diệu của Udāna như những người Bà la môn
đã hiểu. Khi có ai phân biệt những cặp này hãy nghe tôi nói
về chúng. Ngày và đêm là một cặp, giữa chúng là lửa. . .
. Cái hiện hữu và
cái không hiện hữu là
một cặp, giữa chúng là lửa. . .[[20]]
Và sau mỗi sự
trái ngược về loại này, Nārada nói thêm:
Đó là một vị
trí tuyệt diệu của Udāna, như những người Bà la môn hiểu.
Hiện nay,
nhiều người không hiểu đầy đủ ý nghĩa của sự tuyên bố
rằng Samāna và Vyāna, Prāna và Apāna – mà người ta giải thích
như "những hơi thở của sự sống", nhưng chúng tôi nói chúng
là những nguyên khí với các quan năng và ý nghĩa riêng của
chúng – được hiến
dâng cho Udāna, cái gọi là "luồng hơi của sự sống" chính
yếu (?), vốn được trình bày như là tác động của mọi tiếp
điểm. Và độc giả không biết rằng từ ngữ "Lửa" trong các
ẩn dụ này có hai nghĩa là "Bản ngã" và Kiến thức Thiêng
liêng cao đẳng, sẽ không hiểu gì về điều ấy và sẽ hoàn
toàn bỏ sót điểm chính yếu trong luận cứ của chúng ta như
dịch giả và cũng là chủ bút, nhà Phạn học vĩ đại của
trường đại học Oxford, ông Max Müller, cũng đã bỏ sót ý
nghĩa thực sự trong những lời của Nārada. Về mặt công
truyền, sự liệt kê "luồng hơi của sự sống" này, dĩ
nhiên có ý nghĩa
phỏng chừng, được ức đoán trong cước chú sau:
Ý nghĩa
hình như thế này: Nguồn mạch sống của thế giới này nhờ ở
sự tác động của những hơi thở của sự sống được gắn liền
với bản ngã và đưa đến các biểu hiện của nó với tư cách
là những linh hồn cá biệt [?]. Giữa chúng, Samāna và Vyāna
được kiểm soát và dưới sự kiềm chế của Prāna và Apāna. . .
. Hai cái sau được Udāna chế ngự và kiểm soát, do đó, nó
kiểm soát tất cả. Và sự kiểm soát của vị này, đưa đến
sự kiểm soát của tất cả năm . . . dẫn đến bản ngã tối
thượng.
[[21]]
Điều trên đây
được đưa ra để giải thích bản văn, nó nhắc đến những lời
của người Bà la môn, người này kể lại y đã đạt đến Minh
triết tối thượng của thuyết Yoga như thế nào và đạt được
Toàn tri theo đường lối đó. Y nói rằng "đã nhận thức nhờ
bản ngã ngụ vị trí trong cái ngã"
[[22]]
nơi mà Brāhma ngự tách biệt với vạn hữu; và y giải thích
rằng nguyên lý bất diệt này thì hoàn toàn
vượt ngoài sự nhận thức
của các giác quan – nghĩa là của năm "hơi thở của sự
sống" – y nói thêm rằng:
Giữa tất cả
những cái này (hơi thở của sự sống) đang chuyển động khắp
cơ thể và nuốt chửng nhau, bùng lên ngọn lửa
thất phân Vaishvānara.
[[23]]
"Ngọn Lửa"
này theo lời bình luận của Nīlakantha, thì đồng nhất với
cái “Ta”, Cái Ngã,
vốn là mục tiêu của nhà tu khổ hạnh; Vaishvānara là một từ
thường được dùng thay cho Bản ngã. Kế đó, vị Bà la môn kể
ra những gì mà từ ngữ "thất bội" muốn đề cập đến, và
nói:
Mũi [hay
khứu giác] và lưỡi [vị giác], mắt, da, tai, thuộc đặc tính
thứ năm, trí tuệ, và sự hiểu biết, đó là bảy ngọn lửa
Vaishvānara.
[[24]].
. . Đó là bảy (loại) nhiên liệu đối với tôi. [[25]].
. . Đó là bảy vị tư tế vĩ đại đang hành lễ. [[26]]
Bảy tu sĩ này
được Arjuna Mishra chấp nhận theo ý nghĩa "linh hồn đã được
phân biệt phần nào [thuộc những linh hồn hay nguyên khí] có
liên hệ với một vài quyền lực này"; và sau cùng hình như
dịch giả chấp nhận sự giải thích, và miễn cưỡng thừa
nhận rằng "chúng có thể có nghĩa" như thế, mặc dù chính y
giải thích như sau:
Các năng lực
để nghe, v.v. . . . [tóm lại các giác quan vật chất] được
thống ngự bởi các thiên tính.
[[27]]
Dù ý nghĩa
như thế nào, sự giải thích trên phương diện khoa học hoặc
chính thống, đoạn này trong trang 259 giải thích các lời
phát biểu của Nārada ở trang 276, và chứng tỏ rằng khi tham
chiếu với những phương pháp ngoại môn và nội môn, thì chúng
có sự tương phản. Như thế, Samāna và Vyāna, mặc dù quy phục
Prāna và Apāna và cả bốn đều khuất phục Udāna trong việc thu
đạt Prānāyāma (của nhà Hatha Yoga phần lớn, hay là hình thức
Yoga thấp kém), đã được đề cập đến như sự hiến dâng chính
yếu, vì theo luận cứ đúng đắn [của K. Trimbak Telang], "các
vận hành của chúng đều quan trọng hơn về mặt thực tiễn
đối với sinh lực"; nghĩa là chúng là những thô lậu nhất
và được hiến dâng trong sự hy sinh, để cho chúng có thể
biến mất, có thể nói như thế, trong tính chất tối tăm của
ngọn lửa đó hoặc trong
Khói của nó – chỉ trong hình thức nghi lễ công
truyền. Nhưng Prāna và Apāna, mặc dù được xem như phụ thuộc
(vì ít thô trược hay tinh khiết hơn) có
lửa trong chúng;
Bản ngã và Kiến thức Bí nhiệm có được do cái Ngã này.
Cũng thế đối với thiện và ác, đối với "cái hiện hữu và
không hiện hữu"; tất cả những "cặp" này
[[28]]
đều có Lửa giữa chúng, nghĩa là Kiến thức Bí nhiệm, sự
Minh triết của Bản ngã
Thiêng liêng. Hãy phó mặc cho những ai bằng lòng với
Khói của
Lửa lưu lại trong đó, nghĩa là trong sự tối tăm của các
giả tưởng thần học Ai Cập và việc diễn giải theo nghĩa
đen.
Các điều trên
chỉ được viết cho các môn sinh Tây phương về Huyền bí học
và Thông Thiên Học. Tác giả không chủ trương giải thích các
điều này cho những người Ấn Độ (họ đã có các vị Đạo sư
riêng), cũng không cho các nhà Đông phương học, là những kẻ
nghĩ rằng họ biết nhiều hơn tất cả các Đạo sư và các
Hiền triết trong quá khứ và hiện tại. Các dẫn chứng và
thí dụ hơi dài dòng này đều cần thiết, ít nhất, nó cũng
chỉ cho môn sinh những tác phẩm nào y phải nghiên cứu để
rút lấy lợi lạc và hiểu biết nhờ đối chiếu. Hãy để y
đọc Pistis Sophia dưới
ánh sáng của Bhagavad Gītā,
của Anugītā và những
tác phẩm khác; rồi các tuyên ngôn của Đức Jesus trong Phúc
âm của phái Ngộ đạo sẽ trở nên sáng tỏ và những "che giấu"
nghĩa đen liền biến mất. Hãy đọc đoạn sau đây và so sánh nó
với sự giải thích trong các Thánh kinh Ấn Độ trên:
Và không một
Danh xưng nào tuyệt diệu hơn tất cả các Danh xưng này, một
Danh xưng bao hàm mọi Danh xưng, mọi Ánh sáng và tất cả
[bốn mươi chín] Quyền lực. Nhờ biết Danh xưng này, nếu một
người rời thể xác,
[[29]]
không có khói [nghĩa
là không có ảo giác thần học],[[30]]
không có bóng tối, không có Quyền lực, không có vị Thống
trị nào của Địa cầu [không có
Thần nhân hay Tinh quân
Hành tinh gọi là Thần nào] hoặc của Định mệnh [Karma] . . .
có thể cầm giữ Linh hồn đã biết được Danh xưng này. . . .
Nếu nó thốt ra Danh xưng này trước lửa, . . . bóng tối sẽ
tránh xa. . . . Và nếu nó thốt ra danh xưng này . . . trước
tất cả những Quyền năng của họ, hơn nữa, ngay trước Barbelo,[[31]]
và vị Thần Vô hình và ba vị Thần có quyền lực tam phân,
liền đó, nó sẽ thốt lên danh xưng này trong các nơi ấy,
chúng sẽ bị ném cái này trên cái khác đến nỗi chúng sẵn
sàng tan biến và tiêu ma, và chúng sẽ kêu to lên, Ô Ánh sáng
của mọi ánh sáng trong vô lượng quang, hãy nhớ đến chúng tôi
và thanh luyện chúng tôi! [[32]]
Thật không khó
để thấy những gì là Ánh sáng và Danh xưng này: Ánh sáng
của Điểm đạo và danh xưng của "Bản ngã Rực lửa" không phải
là một danh hiệu, một hành động, mà là một Quyền lực Tinh
thần Vĩnh viễn linh hoạt, cao cả hơn "vị Thần Vô hình" thực
sự, vì Quyền lực này là
Chính Ngài.
Nhưng nếu tác
giả khéo léo và uyên bác của quyển
Những nhà Ngộ đạo và các
Di tích của họ không chú ý đúng mức đến tinh thần ẩn
dụ và khoa thần bí trong những đoạn văn mà y đã dịch và
dẫn chứng trong tác phẩm
Pistis Sophia – các nhà Đông phương học khác còn tệ hơn
thế nữa. Vì không có được nhận thức trực giác của y về
nguồn gốc Ấn Độ của Minh triết phái Ngộ đạo và còn kém
hiểu biết ý nghĩa về "châu báu" của họ, nên hầu hết các
người ấy, bắt đầu từ Wilson và chấm dứt với Weber đầy
giáo điều, họ đã phạm những lỗi lầm kỳ dị hầu hết về
mọi biểu tượng. Ngài M. Monier Williams và nhiều vị khác đã
chứng tỏ một sự hiển nhiên xem thường đối với các "Phật
tử Nội môn" như hiện nay người ta gọi các nhà Thông Thiên
Học; tuy nhiên, không một môn sinh Triết học Huyền linh nào
đã lầm lẫn một chu kỳ với một nhân vật còn sống và
ngược lại, như trường
hợp này đã thường xảy ra đối với các Đông phương học giả
uyên bác của chúng ta. Một hoặc hai bằng cớ này có thể
chứng tỏ một cách linh động những gì mà chúng ta trình
bày. Chúng ta hãy chọn cái được biết rõ nhất.
Trong thiên
anh hùng ca Rāmāyana,
Garuda được gọi là "cậu của 60.000 con trai của Sagara"; và
Amshumant, cháu của Sargara, "cháu trai của 60.000 cậu" họ bị
cái nhìn của Kapila tiêu diệt thành tro – Purushottama, hay
Tinh thần Vô biên lấy mất con ngựa mà Sagara dành để cung
hiến Ashvamedha. Mặt khác, con trai của Garuda
[[33]]
– chính
Garuda là Đại Thiên kiếp hay Đại Chu kỳ – Jatāyu, vua của bộ
lạc giắt lông chim (khi ông sắp bị Rāvana giết chết, ông đem
theo Sītā) thốt lời khi nói về chính mình: "Ô Hoàng đế, ta
đã ra đời từ 60.000 năm"; sau đó,
quay lưng về phía mặt
trời – ông từ trần.
Dĩ nhiên,
Jatāyu là chu kỳ 60.000 năm trong Đại Chu kỳ của Garuda; do
đó, y được trình bày như con trai của người hay cháu trai,
tùy ý, vì toàn thể ý
nghĩa nằm trong sự kiện đặt y giữa những hậu duệ của
Garuda. Rồi lại còn có Diti, mẹ của Maruts mà các hậu duệ
hay dòng dõi thuộc về con cháu của Hiranyāksha, "mà con số
là 77 croses (hay 770 triệu) người" theo kinh
Padma Purāna. Người ta
cho rằng tất cả như câu chuyện này chỉ là những sự
giả tưởng vô nghĩa và
phi lý. Nhưng – chân lý là con gái của thời gian; và thời
gian sẽ chứng minh.
Trong khi chờ
đợi, còn gì dễ hơn một sự thử nghiệm, ít nhất để minh
xác về niên đại học của kinh Purānas chăng? Có nhiều vị
Kapila; nhưng vị Kapila đã tàn sát hậu duệ của vua Sagara –
60.000 người mạnh khỏe – chắc chắn là vị Kapila đã sáng lập
triết lý Số luận, vì điều này đã được nói đến trong các
kinh Purānas; mặc dù
một trong các kinh ấy dứt khoát phủ nhận sự quy trách mà
không giải thích ý nghĩa Bí truyền. Chính kinh
Bhāgavata Purāna
[[34]]
trình bày như sau:
Sự quả
quyết mà những người con trai của vua bị khó chịu vì sự
phẩn nộ của nhà hiền triết là truyền thuyết không đúng sự
thật. Vì làm thế nào mà tính chất của Bóng tối, vốn tạo
ra sự phẩn nộ, lại có ở một nhà Hiền triết mà xác thân
là sự Tốt lành và nó đã thanh lọc thế gian – bụi trần
theo cách nào đó, thuộc về các cõi trời! Làm sao một sự
rối loạn tinh thần có thể làm xao lãng nhà hiền triết
này, kẻ đã đồng nhất với Tinh thần Tối thượng, kẻ đã lèo
lái [trên cõi thế này] chiếc tàu vững chãi của triết lý
Số luận, với sự giúp đỡ của nó, kẻ nào khao khát được
tự do đã vượt qua biển đời khủng khiếp, phải chăng đó là
con đường của sự chết?
[[35]]
Kinh
Purāna có bổn phận
nói như thế. Nó có một giáo điều để phổ biến và một
chính sách để noi theo – chính sách của đại bí nhiệm đối
với các chân lý thiêng
liêng huyền bí mà trong vô số thời đại, chỉ được tiết
lộ vào lúc Điểm đạo. Do đó, không phải trong các kinh
Purānas mà chúng ta
phải tìm kiếm sự giải thích của bí nhiệm gắn liền với
các trạng thái siêu việt khác nhau của thực thể. Thoạt
nhìn, có thể thấy rằng câu chuyện là một ẩn dụ. Cả 60.000
"đứa con" hung bạo, xấu xa, nghịch đạo, là hiện thân của
các đam mê của nhân loại,
mà "chỉ một cái liếc qua của nhà Hiền triết" – Bản ngã
tiêu biểu cho trạng thái cao nhất của sự thuần khiết có
thể đạt được trên Trần gian – đủ biến đổi thành tro bụi.
Nhưng sự ẩn dụ còn có những ý nghĩa khác, ý nghĩa về chu
kỳ và niên đại, một phương pháp ghi dấu các giai đoạn mà
một số nhà Hiền triết hoạt động mạnh, cũng được tìm thấy
trong các kinh Purānas
khác.
Hiện nay, có
thể được biết như truyền thuyết thôi, là chính ở Hardwār hay
Gangādvāra "chiếc cổng hay ngõ vào sông Hằng" ở chân dãy Hy
Mã Lạp Sơn mà Kapila ngồi thiền định trong nhiều năm qua.
Không xa dãy Sewalik, đường mòn của Harwār mà ngày nay được
gọi là "Đường mòn Kapila" và cũng là chỗ mà những nhà tu
khổ hạnh gọi là "Kapilasthān." Chính nơi đó mà sông Hằng,
Gangā tràn ngập khe núi, bắt nguồn và chảy qua các đồng
bằng nóng bức của Ấn Độ. Chính việc nghiên cứu địa chất
đã cho phép quả quyết rằng truyền thuyết đại dương chảy qua
chân dãy Himālayas cách đây nhiều năm, không phải hoàn toàn vô
căn cứ, vì vết tích rõ rệt của sự kiện này hãy còn lưu
lại.
Triết lý Số
luận có thể được mang
đến đây và được vị Kapila đầu tiên giảng dạy và do vị
Kapila sau cùng viết
lại.
Hiện nay,
Sāgara là tên của biển cả và nhất là của vịnh Bengale, tại
cửa sông Hằng vẫn c̣n măi cho đến tận ngày nay ở Ấn Độ.[[36]]
Phải chăng chẳng bao giờ các nhà địa chất tính toán con số
hàng triệu năm để cho biển lùi lại khoảng cách tách biệt
với Harwār mà hiện nay được thấy ở 1.024 feet trên mực độ
của nó? Nếu tính được bài toán này, các nhà Đông phương
học có thể trình bày Kapila đang thịnh vượng từ đầu thế
kỷ thứ nhất cho đến thế kỷ thứ chín sau T.C. có thể đổi
ý, nếu chỉ vì một hay hai lý luận thật vững chãi. Trước
nhất, con số năm thực sự đã trôi qua từ thời Kapila sẽ được
tìm thấy một cách chắc chắn trong kinh
Purānas, dù cho các
nhà phiên dịch không biết khám phá, và sau đó, Kapila của
Chân lý tối thượng (Satya) và Kapila ở Chu kỳ Mạt pháp,
có thể là một và có
cùng Chơn Ngã
mà không cùng
phàm ngã.
[[37]]
Kapila không
những là tên của một nhân vật, của một nhà Hiền Triết có
thật thuở xưa, tác giả của triết thuyết Số Luận, mà còn
là danh xưng chung của các vị Kumāras, các vị Khổ hạnh và
Khiết bạch trên thiên giới; do cùng sự kiện mà kinh
Bhāgavata Purāna gọi vị
Kapila ấy – Ngài vừa được nêu ra ở trước như một phần của
Vishnu – tác giả của triết lý Số luận, độc giả phải được
báo trước có một tấm "màn che" ngăn chận ý nghĩa Bí
nhiệm. Dù Ngài là con trai của Vitatha, như
Harivamsha trình bày,
hay con của một người nào khác, tác giả của Số luận không
thể đồng thời là nhà Hiền triết của Satya Yuga – vào chính
lúc bắt đầu Chu kỳ Khai nguyên, khi Vishnu được trình bày
dưới hình hài Kapila,
"đang được truyền đạt cho mọi tạo vật Minh triết chân thực";
vì điều này liên quan tới giai đoạn nguyên thủy khi "các Con
của Thượng Đế" dạy dỗ cho nhân loại mới được sáng tạo các
nghệ thuật và khoa học, từ lâu đã được vun trồng và giữ
gìn trong các thánh điện bởi các Điểm đạo đồ. Có nhiều
vị Kapila nổi danh trong kinh
Purānas. Trước tiên là
các Hiền triết cổ sơ, kế đó là Kapila một trong ba vị
Kumāras "bí mật", và Kapila con trai của Kashyapa và Kadrū -
con "rắn nhiều đầu"
[[38]]
– không kể
Kapila vị đại Hiền triết thời Mạt pháp. Vị sau này là một
Điểm đạo đồ, một "Minh triết Xà", Nāga, bị cố ý lầm lẫn
với những vị Kapilas của các thời đại trước.
[[6]]
Như C. W. King đã nhìn nhận, uy quyền lớn lao của
những nhà Ngộ đạo thời cổ, những viên ngọc "Ngộ đạo"
này không phải là sản phẩm của những nhà Ngộ đạo,
mà thuộc về những thời kỳ tiền Cơ Đốc và là công
trình của các "thuật sĩ" (sách đã dẫn, trang 241).
[[8]]
Sự thiếu trực giác của những nhà Đông phương học và
những nhà khảo cổ quá khứ và hiện tại, thật là
đáng kể. Như thế, Wilson, dịch giả bộ
Vishnu Purāna
tuyên bố trong lời tựa của ông rằng trong
Garuda Purāna,
ông đã thấy "không có sự ra đời nào của Garuda". Xét
rằng lý do về "Sự sáng tạo" tổng quát được đưa ra
ở đây và Garuda đó đồng vĩnh cửu với Vishnu, Đại
Thiên kiếp, hay là Chu kỳ Sự Sống Vĩ đại, bắt đầu
và chấm dứt với Vishnu
đang biểu hiện,
người ta không thể mong đợi sự ra đời nào của Garuda.
[[10]]
Xem Khải huyền,
xvii, 2
và 10; và
Leviticus xxiii, 15 đến 18; đoạn thứ nhất nói về
"bảy vị Vua", mà
năm đã quá cố; và đoạn thứ hai đề cập đến "bảy
sabbathas" v. v. . . .
[[12]]
Pistis Sophia là
một văn kiện vô cùng quan trọng, một kinh
Phúc âm chính
thức của các nhà Ngộ đạo được gán cho Valentinus một
cách tình cờ, nhưng đúng hơn, có lẽ là một tác
phẩm tiền Cơ Đốc như sự liên hệ tới nguồn gốc của
nó. Một Thủ bản của người Copte về tác phẩm này
được mang từ Abyssinia do Bruce và được Schwartze khám
phá ở Bảo tàng viện Anh quốc một cách hoàn toàn tình
cờ và được ông dịch ra tiếng La Tinh. Bản văn và bản
dịch của Schwartze được Petermann công bố vào năm
1.853. Trong chính bản văn, nguồn gốc của tác giả
quyển này được gán cho vị Sứ đồ Philip mà Đức Jesus
mời tham dự và viết lại sự thiên khải. Đó là tác
phẩm chính thức và phải hợp luật giáo hội như bất
cứ sách Phúc âm nào khác. Điều không may là cho đến
nay, nó vẫn chưa được dịch ra tiếng Anh.
[[15]]
Trong Chu kỳ Điểm đạo thật lâu dài, Nước tượng trưng
cho những bước đầu tiên và thấp thỏi hướng về sự
tinh luyện, trong khi những sự thử thách gắn liền
với Lửa đến sau. Nước có thể tái tạo Thể Vật
chất; chỉ có Lửa là thể của Con người Tâm linh Nội
tại.
[[24]]
Trong then chốt thiên văn và vũ trụ, Vaishvānara là
Agni, con của Mặt trời hay Vishvānara, nhưng theo biểu
tượng ký tâm lý-siêu hình đó là Bản ngã, theo ý
nghĩa thất phân, nghĩa là vừa có tính cách thiêng
liêng lẫn nhân tính.
[[28]]
Hãy so sánh những "cặp đối kháng" này trong kinh
Anugītā, với
những "cặp" thời gian dài vô tận trong hệ thống tỉ
mỉ của Valentinus, một bậc Thầy uyên bác nhất và sâu
sắc nhất của phái Ngộ đạo. Vì các "cặp đối kháng"
thư và hùng, đều xuất phát từ Ākāsha (chưa phát
triển và đã phát triển, đã phân hóa và chưa phân
hóa, hay Bản ngã hay Prajāpati) đó cũng những cặp
của Valentinus của những thời gian vô tận thư và hùng
được trình bày như xuất phát từ Bythos, Thái uyên
vĩnh cửu tiền hiện sinh và trong sự phóng phát lần
thứ hai của chúng từ Ampsiu-Ouraan, hay từ Thái uyên
và Tịch mặc vĩnh cửu, Thượng Đế Ngôi Hai. Trong sự
phóng xuất Bí nhiệm, có bảy "cặp đối lập" chính
yếu; và cũng thế, trong hệ thống Valentinus có mười
bốn, hay hai lần bảy. Epiphanius "chép lại một cặp
hai lần", ông C. W. King nghĩ rằng "và do đó thêm một
cặp thành mười lăm". (Những
nhà Ngộ đạo và các Di tích của họ, trang 263-264].
Ở đây, King rơi vào sự lầm lẫn trái ngược; những
cặp thời gian vô tận không phải là 15 (đó là một sự
"che giấu") mà là 14, như Thời gian vô tận
đầu tiên là
Thời gian mà từ đó các cái khác xuất phát, Thái
uyên và Tịnh mặc là sự phóng phát đầu tiên và duy
nhất từ Bythos. Như sự trình bày của Hippolytus: "Các
Thời gian vô tận của Valentinus được nhìn nhận như
sáu Căn nguyên
của Simon (Magus)" với cái
thứ bảy là
Lửa ở đàng đầu. Đó là: Thể trí, Sự Thông tuệ, Âm
thanh, Danh hiệu, Lý lẽ và Tư tưởng, phụ thuộc vào
Lửa, Thượng ngã, hay đúng hơn là "Bảy Hơi thở" hay
"Bảy Tu sĩ" của
Anugītā.
[[30]]
Tất cả những chữ và câu giữa ngoặc đơn là của tác
giả. Đây là bản dịch trực tiếp từ tiếng La Tinh. Như
sự giải thích của các Linh mục của Giáo hội, bản
dịch của King rất phù hợp với thuyết Ngộ đạo.
[[31]]
Barbelo là một trong ba "vị Thần Vô hình" và như sự
tin tưởng của C.W. King, bao gồm "Mẹ Thiêng liêng của
Đấng Cứu thế", hay đúng hơn Sophia Achamoth (Pistis
Sophia, trang 359).
[[33]]
Trong các kinh
Purānas khác, Jatāyu là con trai của Aruna, anh của
Garuda, cả hai là con của Kashyapa. Nhưng tất cả những
điều này chỉ là ẩn dụ bên ngoài.
[[37]]
Individuality: (Chơn ngã) được dùng trong Thông Thiên
Học và Huyền bí học để chỉ Thượng ngã của con
người (Human Higher Ego). Personality: Phàm ngã hay Cái
Ngã hữu tử của con người tồn tại với xác chết chỉ
một thời gian trong cảm dục giới (Kama Loka).
Hai định nghĩa này
được rút trong Theosophical Glossary –
LND.
HOME T̀M HIỂU NHẬP MÔN sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 NỮ THẦN ISIS