Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 HOME  sách   TIỂU SỬ    BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN    BÀI VỞ   THƠ   gifts   TẾT 2006  BOOKS  MAGAZINES

 

BẠCH  LIÊN
TỦ SÁCH TÂM LINH THANH NIÊN 
QUYỂN  5

CON NGƯỜI LÀ AI?
TỪ ĐÂU ĐẾN?
XUỐNG CƠI TRẦN LÀM CHI?

 

 

GỞI BẠN

 

-I-

Làng Tiên chờ đợi bạn tâm giao.

Vượt bể trần ai đến động đào.

Có thú vị rồi thêm thú vị.

Cho thanh cao mới được thanh cao.

Lộ vàng bước tới noi người trước.

Kiều ngọc qua rồi dắt kẻ sau.

Hoa cỏ non bồng xuân nhuận sắc,

Trăng soi cảnh tịnh rạng làu làu.

 

-II-

 

Sẵn bạn đào nguyên chỉ dẫn đường,

Lo chi cuộc thế mấy tang thương.

Mở ḷng bác ái yêu muôn vật,

Đem đạo từ bi bủa bốn phương.

Biển khổ mênh mông c̣n có đáy,

Thuyền sen bát nhă vẫn không lườn.

Giúp đời chớ quản lời phi thị,

Trên có Cao Dày Đấng chủ trương.

 

BẠCH  LIÊN

 

VÀI LỜI NÓI ĐẦU

 

Tôi soạn mấy quyển nhỏ nầy cho quí bạn thanh niên c̣n đang son trẻ, chưa nhiễm mùi tục lụy.

Quí bạn nên «Tự biết ḿnh trước.» Đó là vấn đề đầu tiên cực kỳ quan trọng. Nó là ch́a khóa mở cánh cửa hạnh phúc thiêng liêng, v́ khi con người tự biết ḿnh th́ t́m được con đường sáng phải đi theo, không c̣n lạc lỏng giữa chốn sa mạc mênh mông đầy những cạm bẫy là cơi trần c̣n đang hỗn loạn.

Quí bạn hăy xét nghĩ điều nầy: Ai ai cũng biết con người sanh ra đây, lớn lên lo lập thân danh, gầy dựng gia đ́nh, rồi tới một ngày kia, phủi rồi sự thế, nắm hai tay trắng mà xuống mồ.

Nếu mục đích sự sống có bao nhiêu đó, nó rất vô vị, mà thử hỏi: Sau khi bỏ xác rồi con người ra sao? C̣n hay mất? Nếu c̣n th́ ở đâu? Sao ta không thấy? Nếu mất, như khoa học đă tuyên bố, tại sao có những trẻ sanh ra mới 4, 5 tuổi đă biết thuật lại những chuyện kiếp trước của chúng nó? Người ta điều tra những điều chúng nó tiết lộ th́ thấy đúng với sự thật. Như vậy ta có thể kết luận: Mặc dù chúng ta không thấy linh hồn ra sao, nhưng những chuyện luân hồi, thay hồn đổi xác, thần đồng cũng đủ để chứng minh: Thật con người không phải là xác thân nầy. Sau khi từ trần, con người vẫn sống, hiểu biết, hoạt động như lúc c̣n sanh tiền, một thời gian sau, con người sẽ đầu thai lại cơi trần nữa.

Thế th́ con người sanh ra ở cơi trần v́ mục đích ǵ?

Mục đích đó, trong thái dương hệ nầy gọi là học hỏi cơ tiến hóa để ngày sau thành một vị siêu phàm, rồi lần lần tiến lên những bậc cao cả hơn nữa.

Phương pháp huyền diệu biến đổi người phàm phu tục tử ra những vị Thánh Tiên, từ ngàn xưa cả chục triệu năm trước, các vị Đạo Sư đă đem dạy một cách kín đáo cho các môn đồ hội đủ những điều kiện do luật Trời qui định, trong những đạo viện, tu viện, thánh điện ở hai châu Lémurie, Atlantide và về sau truyền qua ở Ai Cập, Ấn Độ, Trung Hoa, Ba Tư, Hi Lạp và nhiều nơi khác.

Nhưng từ năm 1875 Thiên Đ́nh mới bắt đầu cho phép đem vài chương đầu của khoa triết học bí truyền, cũng gọi là khoa Minh Triết Thiêng Liêng, ra phổ biến trong quần chúng, v́ hai lư do chánh sau đây:

1. Đánh đổ chủ nghĩa vô thần do khoa học vật chất bành trướng trong thế kỷ thứ 19.

2. Một kỷ nguyên mới gọi là kỷ nguyên huyền bí học sẽ mở màn vào năm 1975. Trong thời gian nầy nhân loại sẽ quay về đường đạo đức nhiều hơn trước và quí chuộng tinh thần hơn là việc say mê vật chất đến cực độ như hiện giờ (viết năm 1974).

Những lời tŕnh bày về bản tánh thiêng liêng của con người trong những quyển sách nhỏ nầy vốn lặp lại một cách bất toàn những điều mà các cao đồ của Chơn Sư đă chỉ dạy.

Các đấng Chơn Sư đắc đạo thành chánh quả đă lâu lắm rồi, các Ngài đă vượt qua khỏi con đường của chúng ta đang đi hiện giờ. Chỉ có các Ngài mới có đủ tư cách để huấn luyện con người trên đường tinh thần. Các Ngài đă tự độ ḿnh, các Ngài mới độ kẻ khác được.

Cầu xin những quyển nhỏ nầy giúp ích được quí bạn phần nào trên đường hành hương và t́m chân lư.

 

BẠCH   LIÊN

 

THẬT CON NGƯỜI LÀ AI ?

 

Nếu nêu ra câu hỏi: Con người là ai? Thiên hạ sẽ ngạc nhiên mà chỉ vào ḿnh và nói: Con người là tôi đây. Tôi ăn uống, ngủ nghê, vui chơi, làm việc, chớ c̣n ai vô đó. Thật sự, quí bạn không phải là xác thân nầy. Nó là một khí cụ để cho quí bạn dùng trong một thời gian. Nó ăn uống, ngủ nghê, làm việc.

C̣n quí bạn là linh hồn ở trong xác thân, quí bạn không cần dùng thực phẩm để nuôi ḿnh. Linh hồn không ăn uống, ngủ nghê. Nhưng trước khi biết linh hồn ra sao? Quí bạn nên thí nghiệm điều nầy trước.

 

TIẾNG NÓI Ở TRONG L̉NG

 

Quí bạn hăy ngồi yên lặng, đừng suy nghĩ cái chi cả, nội trong 3 phút thôi.

Thời gian nầy chưa trôi qua th́ quí bạn đă nghe có tiếng nói nhắc nhở quí bạn: chuyện nầy, kia; việc qua rồi, sẽ tới; toàn là những điều mà quí bạn không muốn nghe chút nào. Vậy tiếng nói đó của ai? Chắc chắn không phải là của quí bạn, v́ quí bạn không có tưởng tới điều nào.

 

KHÔNG PHẢI TIẾNG NÓI CỦA LƯƠNG TÂM

 

Tiếng nói nầy không phải là tiếng nói của lương tâm, v́ quí bạn có làm lỗi chi đâu. Đề cập đến lương tâm th́ càng thêm rắc rối. Lương tâm là ǵ? Có phải là một người không? Nếu là một người, tại sao người đó ở trong ḷng quí bạn được? Người đó phải cao thượng hơn quí bạn, mới biết được việc quí bạn làm quấy quá, không đúng với luân thường đạo lư, nên mới quở trách quí bạn.

Đó là những điều cần đến sự giải thích.

 

TIẾNG NÓI CỦA THỂ TRÍ

 

Vậy tiếng nói đó của ai?

Tiếng nói đó, trong đạo đức gọi là tiếng nói của thể trí.

Thể trí là ǵ?

Thể trí là một thể cũng như xác thân nầy. Trời sanh nó để cho chúng ta dùng để: suy nghĩ, học hỏi, biện luận, xem xét, ghi nhớ, tưởng tượng.

Tại sao thể trí lại nói?

Về điều nầy ta phải biết một nét đầu tiên của tánh nết thể trí.

 

NÉT ĐẦU TIÊN CỦA TÁNH NẾT THỂ TRÍ

 

Thể trí không chịu định vào một chỗ cho lâu, nó tưởng cái nầy rồi bắt qua cái kia liền, không khác nào đứa bé mới cầm vật nầy rồi buông ra chụp lấy món khác.

Khi quí bạn ngồi yên, không tưởng cái chi cả, quí bạn bắt buộc thể trí ở một chỗ. Nó bực bội lắm, không khác nào một con thú bị nhốt trong chuồng, nhảy nhót lung tung.

Thể trí t́m lối thoát ra bằng cách giục quí bạn nhớ tới chuyện khác, như vậy nó mới thong thả chạy từ chỗ nầy qua chỗ kia [1].

 

THỂ VÍA

 

Có khi thể vía hiệp với thể trí để nói. Tại sao vậy? Thể vía là cái ǵ?

Thể vía là một thể khác, mà con người dùng để biểu hiện ư muốn và t́nh cảm.

Thể vía có những ham muốn riêng biệt, thường là quấy phá. Muốn được thỏa thích, nó liên kết với thể trí đ̣i hỏi con người phải thực hành những điều nó muốn. Nhưng khi con người chưa mở trí phân biện, không biết được điều nào thật là ḿnh muốn, c̣n điều nào là của thể vía hay trí ḿnh muốn, nghĩa là con người đồng hóa với ba thể của ḿnh, ḿnh tưởng ba thể là ḿnh. Ḿnh là ba thể, nên mới nói: «Tôi ăn uống, vui chơi.»

 

NHỮNG THỂ CỦA CON NGƯỜI DÙNG HẰNG NGÀY

 

Tới đây quí bạn đă thấy con người có ba thể là:

1. Xác thân (Corps physique).

2. Vía (Corps astral).

3. Trí (gọi là hạ trí mới đúng. Corps mental inférieur).

Nhưng c̣n một thể nữa gọi là thể phách (Double éthérique).

 

PHẬN SỰ CỦA MỖI THỂ

 

Xin tóm tắt như sau đây:

1. Xác thân để hoạt động tại cơi trần.

2. Thể phách để rút sanh lực Prana vô ḿnh để nuôi các tế bào.

3. Thể vía để biểu hiện ư muốn và t́nh cảm.

4. Hạ trí để suy nghĩ, học hỏi, biện luận, xem xét, ghi nhớ, tưởng tượng.

 

BỐN THỂ HƯ HOẠI

 

Bốn thể nầy con người thường dùng hằng ngày, giờ phút nào cũng nhờ tới chúng nó, v́ chúng nó tồn tại chỉ trong một kiếp thôi, nên người ta gọi chúng nó là những thể hư hoại.

Ngày sau, khi con người từ trần, bốn thể nầy sẽ lần lượt tan ră ra những nguyên tử đă cấu tạo chúng nó.

Kiếp sau khi tái sanh, con người có bốn thể: thân, phách, vía, hạ trí mới. Chúng nó, do theo luật nhân quả, đồng bản tánh với bốn thể kiếp trước.

Tuy nhiên, chúng nó sẽ bị cách nuôi dưỡng, dạy dỗ, tánh t́nh của cha mẹ và hoàn cảnh mà biến đổi lần lần.

 

BA THỂ TRƯỜNG TỒN BẤT DIỆT

 

Ngoài bốn thể thấp nầy, c̣n ba thể cao trường tồn bất diệt, chúng nó theo con người từ đời nầy qua đời kia, không tan ră và hư hoại.

Ấy là:

1. Thượng trí (Corps mental supérieur), thượng trí cũng gọi là nhân thể (Corps causal), ấy là thể chứa đựng những nguyên nhân, sau sẽ thành ra những hiệu quả. Những nguyên nhân nầy ghi trong thượng trí bằng những làn rung động.

2. Kim thân hay là thể  Bồ đề (Corps Bouddhique).

3. Tiên thể hay là thể Atman (Corps Atmique).

 

PHẬN SỰ CỦA BA THỂ NẦY

 

1. Thượng trí sanh ra những tư tưởng trừu tượng, vô h́nh.

2. Kim thân hay là thể  Bồ đề là thể Trực giác.

3. Tiên thể, thể Atma là thể thiêng liêng, cũng gọi là thể ư chí, đại đồng. Tới bậc Chơn Tiên mới biết được Tiên thể.

Hiện giờ chỉ có đệ tử Chơn Sư từ bậc Tu đà Huờn sắp lên mới thường dùng Thượng trí, c̣n người thường chưa bước vào cửa đạo th́ phần đông chưa sử dụng được một phần ngàn của Hạ trí. Tất cả đều bị t́nh cảm, tức là bị thể vía chi phối.

 

ĐỪNG LẦM CON NGƯỜI VỚI NHỮNG THỂ CỦA NÓ

 

Những thể của con người là những lớp áo của con người mặc khi hiện ra ở mỗi cơi. Cơi nào, lớp áo nấy.

Chúng nó làm bằng vật chất, mặc dù những vật chất nầy ở trạng thái khác nhau, từ mật độ cho tới màu sắc và rung động.

«Dưới Chơn Thầy» đă dạy:

«Đừng lầm lộn các thể là chính con, thể xác cũng như thể vía và trí không phải là chính con. Trong ba thể nầy, cái nào cũng tự xưng là con để mong đạt được điều nó muốn. Phải biết rơ chúng nó và biết con là chủ của chúng.»

 

MỘT BẰNG CỚ  KHÁC CHỨNG MINH

CON NGƯỜI KHÔNG PHẢI LÀ XÁC THÂN

 

C̣n một bằng cớ nữa để chứng minh con người không phải là xác thân, ấy là hồn ma.

Nếu xác thân nầy thật là con người, sau khi dứt ba tấc hơi, con người sẽ tan ra tro bụi, không c̣n ǵ hết.

Nhưng sự thật thế nào?

Trong «Tủ Sách Tâm Linh Thanh Niên», tôi có kể vài chuyện Hồn Ma như: Hồn Ma Cô Katie King và nhà Bác Học William Crookes, Lá Thơ của Người Chết, Hồn Ma của 30 Thủy Thủ Nhật phá phách ở Mă Lai năm 1958, Hồn Ma hiện ở trường Quốc Học Huế cũng năm 1958, v.v…

Ở Âu Mỹ, người ta lập những câu lạc bộ để cầu hồn ma. Có nhiều hồn ma hiện về, người ta chụp h́nh được. Các báo thần linh học đều có đăng những bài tường thuật.

Nếu có thật hồn ma th́ xác thân nầy không phải là con người. Từ xưa đến nay đều có những chuyện ma để chứng chắc rằng: Sau khi từ trần, con người vẫn sống, hiểu biết, hoạt động.

 

CHƠN THẦN, CHƠN NHƠN, PHÀM NHƠN

BA NGÔI CỦA CON NGƯỜI

 

Vậy th́ con người là ai?

Thật con người là Linh hồn, Chơn nhơn, vốn do Chơn Thần sanh ra. C̣n Chơn Thần là Con của Đức Thượng Đế, người ta cũng gọi Chơn Thần là một điểm linh quang của Ngài.

 

CHƠN THẦN CÓ PHẬN SỰ G̀?

 

Chơn Thần phải học hỏi và kinh nghiệm những luật sanh hóa một thái dương hệ để ngày sau, khi trở nên toàn năng, toàn thiện như Cha ḿnh là Đức Thượng Đế, sẽ tạo lập một tiểu vũ trụ khác giống như thái dương hệ nầy.

Hiện giờ Chơn Thần giống như một cây nhỏ, ngày sau khi phát triển đúng mức sẽ thành một cây cao lớn, và trổ bông sanh trái.

 

TẠI SAO CHƠN THẦN SANH RA CHƠN NHƠN?

 

Chơn Thần ở tại cơi Đại Niết Bàn [2] hoạt động một cách thong thả, Chơn Thần vẫn thanh bai, không thể xuống mấy cơi dưới. Càng xuống thấp, các chất khí càng rung động chậm chạp, rất nặng nề, và không được tinh vi.

V́ vậy Chơn Thần mới sanh ra Chơn nhơn hay là Linh hồn thế cho ḿnh để học hỏi ba cơi:

1)   Cơi Niết bàn.

2)   Cơi Bồ đề.

3)   và Cơi Thượng thiên.

 

SỰ SANH RA PHÀM NHƠN

 

Chơn nhơn lại sanh ra phàm nhơn để hoạt động và kinh nghiệm từ:

1)   Cơi Hạ thiên.

2)   Cơi Trung giới.

3)   Cơi Hồng trần.

Tinh hoa những sự học hỏi và kinh nghiệm của phàm nhơn trong mỗi kiếp đều dâng cho Chơn nhơn để đồng hóa. Chơn nhơn ở tại cơi Thượng thiên [3].

Phàm nhơn vô ở trong xác thân nầy. Tất cả chúng ta đều là phàm nhơn, chưa phải là Chơn nhơn.

Nói tóm lại. Chơn Thần là tiểu Thượng Đế.

Chơn nhơn là một phân thân của Chơn Thần.

Phàm nhơn là một phân thân của Chơn nhơn.

Như vậy th́ ba vẫn một, một vẫn ba.

Chơn Thần, Chơn nhơn, Phàm nhơn là ba ngôi của con người.

Ngày sau khi bước vào cửa đạo, tức là được điểm đạo lần thứ nhứt làm một vị Tu đà Huờn, Phàm nhơn nhập một với Chơn nhơn.

Khi được điểm đạo lần thứ năm làm một vị Siêu Phàm, Phật giáo gọi là Aseka [4], Ấn giáo gọi là Jivanmukta [5] hay Asita, Chơn nhơn nhập một với Chơn Thần rồi tiến lên măi.

Như vậy, tuy là ba ngôi khác nhau, song vẫn liên quan mật thiết với nhau.

 

CON NGƯỜI SANH RA Ở CƠI TRẦN LÀM CHI?

 

Vậy ta có thể nói rằng: Con người sanh ra ở cơi trần để học hỏi cơ tiến hóa từ kiếp nầy qua kiếp kia cho tới khi trọn sáng, trọn lành, đến lúc đó không c̣n điều chi phải khảo cứu và kinh nghiệm tại dăy địa cầu nầy.

Tới chừng đó con người sẽ thành một vị siêu phàm được giải thoát, không c̣n trở xuống luân hồi tại thế gian.

Nhưng sự tiến hóa không phải chấm dứt ở đây. Tiên Thánh tu hành thêm, càng ngày càng tiến lên cao từng bậc, rồi tới một ngày kia, không biết bao nhiêu tỷ năm mà nói, mỗi vị Tiên Thánh đều thành một vị Thái Dương Thượng Đế và sẽ sanh hóa một thái dương hệ khác.

Đây mới thật là mục đích của cuộc đời, chớ không phải con người sanh ra để ăn uống, sung sướng xác thân, hăm hại nhau, chém giết nhau để giành giựt những của cải phù vân, rồi chung qui cũng nắm hai tay trắng mà xuống mồ. Có khi chúng ta thấy rằng: Con người chưa nhắm mắt, sự giàu sang đă qua tay người khác hay nó đă lọt theo kẽ tay mà đi mất.

Sự thật chán chường như thế, không ai chối căi được, v́ đă thấy những gương đó trước mắt hằng ngày.

 

TẠI SAO CON NGƯỜI GÂY RA TỘI LỖI?

 

Con người là một điểm linh quang của Đức Thượng Đế, lẽ cố nhiên phải hiền từ, sáng suốt, tại sao lại xuống trần làm nhiều điều bất nhân thất đức?

Vậy ta hăy t́m xem cội rễ tội lỗi đó ở đâu?

 

TAM ĐỘC HAY LÀ TAM CHƯỚNG: THAM, SÂN, SI

 

Phật giáo cho rằng Tam Độc hay là Tam Chướng làm hại đời sống của chúng sanh, hủy hoại căn lành của con người.

Tam Độc vốn dịch ba chữ Phạn: Raga, Dosa và Moha [6].

Raga: Pháp dịch là Désir: Sự ham muốn. Tàu dịch là tham.

Dosa: Pháp dịch là colère, haine: Giận hờn, oán ghét. Tàu dịch là sân, nên thêm chữ hận nữa: sân hận.

Moha: Pháp dịch là Erreur, Illusion: sự lầm lạc, ảo tưởng, ảo mộng. Tàu dịch là si: mê muội, không thấy nẻo chánh, theo đường tà.

 

CỘI RỄ CỦA TAM ĐỘC

 

Mun cha bịnh, phải biết cội rễ của bịnh, trị tận gốc, bịnh sẽ lành và không c̣n tái phát nữa. Nếu chữa ở ngọn, đau đâu chữa đó, bịnh có thể giảm hoặc hết, nhưng chẳng bao lâu sẽ tái phát, con người cũng sẽ đau trở lại như trước. Vậy muốn trừ tuyệt tam độc: tham, sân, si, phải biết cội rễ của chúng.

 

TÁNH XẤU CỦA BA THỂ: THÂN, VÍA, TRÍ

 

Cội rễ của tham, sân, si là tánh xấu của ba thể: thân, vía, trí.

Ta hăy xem xét những tánh xấu của ba thể nầy.

 

TÁNH XU CỦA XÁC THÂN

 

Xác thân ham ăn uống, biếng nhác, thích vui chơi, ngủ nghê, lánh nặng, t́m nhẹ, không chịu ra sức để giúp đỡ ai.

 

TÁNH XẤU CỦA THỂ VÍA

 

Thể vía ưa những sự rung động dữ dội, nên nó giục con người nói những lời hung dữ, nặng nề, chửi mắng, trù rủa, láo xược, nói hành, nói vu, đm mê sắc dục, nóng nảy, giận hờn, tham lam, ham hố, mong đoạt của thiên hạ; nói tóm lại là tất cả những tật xu của con người.

 

TÁNH XẤU CỦA THỂ TRÍ

 

Ngoài việc lau chau, không chịu định vào một chỗ cho lâu, thể trí c̣n có tánh kiêu căng, t phụ, nhạo báng, khinh khi, coi thưng thiên hạ, nhất là chia r. Nó nói: «Ngưi ta khác vi ḿnh» và bày mưu sâu, kế độc hăm hại kẻ khác, có nhng thành kiến, không chịu phục thin, cng đu, cng c.

Pht giáo gọi thể vía là ư, nên nói tâm viên, ư mă.

Tâm đây là thể trí. Thể trí ging như con khỉ nhảy nhót trên nhành, buông nhánh nầy, bắt nhánh nọ, liền liền không ngớt.

C̣n thể vía (ư) là con ngựa chứng, muốn chạy ngả nào th́ chạy.

Phải có hàm thiếc và dây cương km chế nó, nó mi đi theo đưng ḿnh mun.

Hiểu được tánh xấu của ba thể, ta biết tham, sân, si vốn ở trong ba thể mà ra, chớ không có chi lạ.

Chính là chúng nó gây ra muôn vàn tội lỗi gọi là quả xấu, ác, làm cho con người mắc kẹt măi vào bánh xe luân hồi; vay rồi trả, trả rồi vay, từ kiếp nầy qua kiếp kia, chưa biết tới bao giờ mới trở nên sáng suốt. Chúng giống như kiếng màu của con người mang vô để xem cảnh vật. Bức tranh sẽ biến đổi màu sắc, không c̣n giống như màu sắc thiên nhiên.

 

BA TH LÀM CHCON NGƯI

 

Trời sanh con người có ba thể để con người sử dụng, tùy theo trường hợp ở cơi trần, trung giới hay thượng giới.

Nhưng cả ngàn kiếp rồi, con người đồng hóa với chúng. Chúng muốn, con người tưởng là ḿnh muốn. Tánh nết của chúng làm ra tánh nết của con người. Chúng sai khiến con người, tức là làm chủ con người.

Chúng ta thường thấy một người kia nói: «Tại tánh tôi như vậy.» Bao nhiêu đây cũng đủ để chứng minh: Con người chiều theo tánh nết của ḿnh và bị điều khiển.

Có người biết việc làm đó quấy, cũng cứ làm, rồi nói: «Thật là nó mạnh hơn tôi.» Vậy nó là ai? C̣n tôi là ai? Tại sao nó mạnh hơn tôi?

Ở đây, nó là ư muốn, mà ư muốn thuộc về thể vía, nghĩa là thể vía bắt buộc con người làm theo ư muốn của nó, con người không cưỡng lại được. Không những thể vía, mà xác thân, thể trí cũng làm chủ con người nữa, tùy theo trường hợp.

V́ vậy con người bị cản trở và tiến rất chậm, nên khó làm một vị thiện nhân. Quí bạn hăy suy nghĩ xem có đúng như vậy hay không?

 

LÀM CH BA TH LÀ MT VIC CC KỲ KHÓ KHĂN

 

Người học đạo đều biết: Phải làm chủ ba thể, ai cũng nói như vậy, nhưng tới lúc hành động, con người thường bị ba thể sai khiến lại cũng như trước kia, không có sự thay đổi nào cả, tức là ba thể làm chủ con người.

Đừng ham thuyết đạo nhiều, phải hành đạo. Hành đạo trước, có kinh nghiệm rồi, sau thuyết đạo người ta sẽ nghe theo và sẽ đắc nhân tâm.

Nói cho đúng các vị Giáo Chủ, các vị Đạo Sư dạy rất nhiều mà người học đạo hiểu biết cũng chẳng phải ít. Nhưng chỉ thiếu một điều là đem ra thực hành những điều đă học hỏi, v́ vậy thường vấp ngă trước những sự thử thách đưa tới.

«Người được gọi đến th́ nhiều, mà người được lựa chọn th́ ít.»

Người tu hành không lo tự chủ, tức là làm chủ ba thể: thân, vía, trí, không lo đắp nền tảng của đạo là đức hạnh tối cao, chỉ lo luyện những phép thần thông, chỉ đá hóa vàng, kêu mưa hú gió, xuất vía, xuất hồn th́ tới một ngày kia sẽ không tiến được, v́ không đủ sức vượt qua các chướng ngại sẽ gặp giữa đường.

Một lẽ khác, v́ thấy ḿnh tài phép hơn người, nên trổ tánh kiêu căng tự phụ làm những chuyện bội Thiên nghịch Địa, sẽ gây ra những quả xấu có hại cho kiếp nầy và kiếp sau.

Vậy chúng ta khá thận trọng từ chút.

Gương những vị Tiên Triệt Giáo trong truyện Phong Thần, nhất là Triệu Công Minh cũng đủ để chứng minh.

Xuất vía, xuất hồn là chuyện nhỏ mọn không đáng quan tâm đến để ra công tập luyện. Xin nhớ: Kiếp nầy là kết quả kiếp trước, kiếp sau là kết quả kiếp nầy. Kiếp sau ta đầu thai lại cơi trần, đem theo ḿnh tánh tốt, xấu, tinh hoa của sự học hỏi, hiểu biết và quả lành, ác mà thôi.

Đừng quên: Sau khi đầu thai lại, ta sẽ là một hài nhi nằm trên giường, chớ không phải lớn khôn như bây giờ.

Vậy th́ điều quan trọng là t́m hiểu những quyền năng nào biến đổi người dữ ra hiền; người tham lam tàn bạo ra lương thiện, chân chánh; người phàm phu tục tử thành những vị Thánh Tiên.

Quyền năng đó gọi là sự luyện kim tinh thần, tức là sự trau giồi hạnh kiểm cho đúng mức như Đức Phật đă dạy. Con người phải chặt đứt mười chướng ngại gọi là Samyojana mới được vào hạng siêu phàm nhập thánh.

Mười chướng ngại là mười tật xấu, chớ không có chi lạ. Tôi xin kể ra đây cho quí bạn nào chưa thấy.

1. Phàm nhơn là mộng ảo.

2. Sự hoài nghi hay không chắc ư.

3. Sự tin dị đoan.

4. Dục t́nh do giác quan sanh ra.

5. Giận dữ, oán ghét.

6. Muốn sống trong cơi có h́nh dạng.

7. Muốn sống trong cơi vô h́nh.

8. Kiêu căng.

9. Thể trí c̣n xao động.

10. Vô minh.

Mới nghe qua rất dễ, nhưng khi đem ra thực hành mà không biết phương pháp th́ cả trăm, cả ngàn kiếp cũng chưa thành công, đừng nói một, hai kiếp. Tuy nhiên phải bền chí đi tới, sẽ đạt được mục đích đă nhắm. Cứ lo tu đức trau ḿnh, sẽ có những Vị cao minh tới chỉ dẫn.

 

TINH LUYN BA TH

 

Muốn tiến mau th́ phải tinh luyện ba thể. Phải bắt buộc chúng vâng theo lời sai khiến của ḿnh, không c̣n xu hướng theo những điều hèn hạ, thô tục.

Cả triệu năm rồi, ta để cho chúng được tự do phóng túng, thay bậc đổi ngôi, bây giờ muốn cho chúng tuân theo mạng lịnh của ta, không phải là một việc dễ dàng. Tuy nhiên, nếu biết phương pháp và bền chí, sẽ thành công.

 

1) - TINH LUYỆN XÁC THÂN

 

1. Tinh luyn xác thân. Mun tinh luyn xác thân th́ phải dùng ngũ cc, rau trái.

2. Có tiết độ trong mọi việc, ba ăn, gic ngủ, vic làm, s giao hp.

3. Không hút thuc, ăn tru, ung rưu.

4. Hết sức sạch sẽ từ trong thân ḿnh cho tới y phục, móng tay, móng chân cắt cụt, đừng để đóng đất đen thui.

5. Tp th dục hng ngày, dùng nhng tư thế tùy theo tui tác và sc khỏe; tp quá sc sẽ có hại cho thân th hơn là có li.

 

SÁU TƯ TH YOGA

 

Sáu tư thế nầy nên tập liên tiếp từ 1 tới 6.

Mỗi ngày tập hai ln: sớm mai và chiều. Mi kỳ tp từ 2, 3 ln tới 6, 7 ln, tùy theo sức khỏe và tuổi tác, nhưng đừng tập cho tới mệt.

T mt tháng sp lên bt đu thy hiu quả tt. Phải tp t năm ny qua năm nọ, thân th sẽ tráng kin.

 

TẠI SAO KHÔNG DÙNG THỊT CÁ ?

 

Thịt cá bổ dưỡng, song chứa nhng chất độc gọi là purines. Nó đem đưng cho nhng bịnh hiểm nghèo như ung thư, đau rut, đau gan, kiết lỵ, dịch t, dịch hạch, v.v…

Hơn nữa, thịt chứa từ điển và tánh t́nh của con thú.

Ăn vô ḿnh, thịt thú vật làm ra thịt ḿnh, từ điển thú vật pha lẫn với từ điển ḿnh[7].

Như vậy từ điển và tánh t́nh con người không được trong sạch.

Theo nguyên tắc: Không đói, không ăn; không khát, không uống. Không nên chiều theo sự thèm khát của cái miệng. Phải giữ đúng phép vệ sinh, v́ luật vệ sinh là luật thiên nhiên. Làm trái luật vệ sinh, sẽ mắc bịnh.

Xét về hàm răng và bộ tiêu hóa của con người th́ thấy con người thuộc về loại ăn trái cây, chớ không phải là loại thú ăn thịt như cọp, beo.

Đừng nói: «Vật dưỡng nhân», mỗi loài đều có sự tiến hóa riêng. Không nên sát hại sanh mạng của loài cầm thú vô cớ, trừ ra trường hợp tự vệ.

Trong Sáng Thế Kư (Génève) 1, 29, Đức Chúa Trời phán với người nam và người nữ của Ngài mới sanh như sau:

«Đây nầy! Ta cho hai ngươi những cỏ có hột giống và những trái cây có hột giống để làm thực phẩm của hai ngươi.»

Rơ ràng Đức Chúa Trời bảo con người ăn rau trái, chớ không dạy con người ăn thịt thú vật.

Ấy tại ông bà cha mẹ ta ăn mặn, lúc sanh chúng ta ra th́ cho chúng ta ăn thịt, cá từ nhỏ tới lớn; xác thân ta đă quen mùi thịt cá cả chục năm rồi, nên không dễ mà trừ được thói quen nầy.

Tuy nhiên, nếu ta cương quyết bỏ thịt cá lần lần th́ trường chay được trong thời gian sau. Chỉ sợ ư chí không cứng cỏi, nên thất bại mà thôi. Nhưng ai ăn mặn được cứ ăn, c̣n ai ăn chay được cứ ăn.

Người ăn chay không nên tưởng rằng ḿnh trong sạch hơn người ăn mặn; mà người ăn mặn cũng đừng nhạo báng người ăn chay là ép xác, không biết thưởng thức món ngon vật lạ.

Chúng ta hăy mở rộng ḷng khoan dung và trọng quyền tự do của mỗi người.

 

NHNG TƯ TH YOGA

 

Tôi xin hiến cho quí bạn 6 tư thế Yoga xin xem quyển 3 ''Tôi học dưới chân Thầy'' phần ''Toát yếu về sự luyện tậm ba thể'' ở phần cuối của Thiên IV. Với tuổi nào cũng tập được. Phương pháp nầy đem sức khỏe lại mau lẹ, không có hại chi cả. Đă kinh nghiệm từ xưa đến nay.

Tôi xin lưu ư quí bạn về Hatha Yoga.

Tập vài tư thế đầu tiên của Hatha Yoga không có hại. Tuy nhiên nên biết: Càng đi sâu, Hatha Yoga càng nguy hiểm vô cùng, nhất là luyện tập hơi thở.

Hơi thở của con người liên quan với hơi thở của Thượng Đế và vũ trụ. Tập sái cách th́ đứt mạch máu trong óc, phổi, thổ huyết rồi chết hay thành phế nhân. Nên xem gương Brahma trong quyển «Ấn Độ Huyền Bí» (L’Inde secrète) dịch ra đề «Đông Phương Huyền Bí», v́ tập một ḿnh, suưt bỏ mạng.

Hơn nữa, trong Hatha Yoga có vài tư thế tập lâu th́ hư hạch mũi (Corps pituitaire) và hạch óc (Glande pinéale).

Hạch mũi để luyện thần nhăn, hư rồi con người mở mắt trao tráo mà không thấy đường.

C̣n hư hạch óc th́ không chuyển di tư tưởng được và c̣n những tai hại khác nữa.

Muốn luyện tập Yoga, bất cứ thứ nào, cũng phải học với những vị đạo sư có thần nhăn. Khi học tṛ làm sái cách, Thầy nh́n vào biết liền và chỉ cách sửa chữa, không có hại cho xác thân.

C̣n học với thầy phàm th́ không có sự bảo đảm nào cả.

Ở đời bất cứ việc ǵ, biết rồi mới sợ, không biết, không sợ ǵ hết. Có khi nhạo báng những lời khuyên nhủ là khác nữa, đúng như lời tục nói: «Ḅ con không sợ cọp.»

Con người c̣n háo thắng lắm.

 

 

 

UNG RƯU VÀ HÚT THUC

 

Rượu làm hại các tế bào trong óc, những dây thần kinh, gan, phổi, tỳ vị và thể phách.

C̣n hút thuốc th́ hơi độc bao phủ thể vía, nên không thể thu thập được ảnh hưởng tốt một cách dễ dàng, nhất là sau khi bỏ xác.

Ma túy lại càng nguy hại hơn nữa. Những người ghiền ma túy đă đau khổ lúc c̣n sống đây, mà khi bỏ cơi trần rồi lên trung giới th́ giống như những người bại xụi, không đi đứng được. Tới chừng nào hơi độc tan hết mới cử động như thường. Thật là tội nghiệp.

 

S TINH KHIT CỦA THỂ PHÁCH

 

Sự tinh khiết của thể phách tùy thuộc sự tinh khiết của thực phẩm và khí trời trong sạch.

 

2) – TINH LUYN THỂ VÍA

 

Muốn tinh luyện thể vía th́ phải lập hạnh tức là tập những tánh tốt như:

1) – Từ bi, bác ái.              7) – Khôn khéo.

2) – Bố thí.                       8) – Thăng bằng.

3) – Thành thật.                9) – Tự tín.

4) – Thanh khiết.               10) – Can đảm.

5) – Kiên nhẫn.                  11) – Hy sinh.

6) – Khoan dung.               12) – Phụng sự.

Mỗi tháng tập một đức tánh. Khởi sự tháng nào cũng được. Hết 12 tháng th́ hết 12 đức tánh. Qua năm thứ nh́, thứ ba, và luôn suốt đời cũng tập như vậy. Được như thế, kiếp sau khi tái sanh, ta có sẵn trong ḷng mầm mống của 12 đức tánh nầy. Chúng sẽ nảy nở ra, rồi chúng ta sẽ phát trin chúng nó lần lần do theo luật nhân quả.

Nên nhớ: Trong tháng tập tánh b thí mà có dịp phải tập tánh kiên nhn, khoan dung th́ phải thực hành hai đc tánh ny lin. Đ