Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS

Trích CON NGƯỜI từ đâu tới, Sinh hoạt ra sao và Rồi đi về đâu

Tác giả Annie Besant và C.W.Leadbeater

Bản dịch: thongthienhoc.com

CHƯƠNG  XXVI

Dinh thự    phong tục

Các đặc trưng của giống dân

 

CHƯƠNG  XXVI

Dinh thự    phong tục

Các đặc trưng của giống dân

 

Xét theo bề ngoài th́ cộng đồng vẫn c̣n giống như phân chủng thứ sáu mà nó bắt nguồn từ đó – điều này có nghĩa nó là Giống dân da trắng mặc dù trong đám thần dân có những người tóc sẫm và mắt có màu sẫm hơn với nước da người Tây Ban Nha hoặc Ư Đại Lợi vóc dáng của Giống dân này đă gia tăng rơ rệt, Không người đàn ông nào cao dưới sáu bộ Anh và ngay cả phụ nữ cũng chỉ thấp hơn một chút. Mọi người đều lực lưỡng và cân đối, người ta thường chú ư tới việc tập thể dục và phát triển cân đối cơ bắp. Thật đáng lưu ư là họ vẫn duy tŕ được vóc dáng thoải mái thanh nhă ngay cả khi đă rất già nua.

Dinh  thự  công

 

Trong phần mở đầu, ta đă nói rằng khi sáng lập ra cộng đồng người ta đă xây dựng một khu phố lớn gồm những dinh thự trung tâm, nhà của những người định cư đầu tiên tụ tập xung quanh khu nhà ấy mặc dù luôn luôn cách quăng rộng lớn bằng những khu vườn mỹ lệ. Vào lúc ấy đă có nhiều thị trấn phụ thuộc nảy sinh ra trong cộng đồng mặc dù từ ngữ thị trấn có lẽ làm cho bạn đọc thế kỷ thứ 20 hiểu lầm, bởi v́ tuyệt nhiên không có điều ǵ giống như loại thị trấn mà y thường quen thuộc. Vùng định cư đúng hơn có thể gọi là một nhóm biệt thự rải rác giữa các công viên và vườn hoa đẹp đẽ; nhưng ít ra mọi khu định cư đều có Đền thờ sao cho mọi cư dân đều luôn luôn dễ dàng tới được một loại Đền thờ nào đó mà y ngẫu nhiên thích hơn. Phần có dân ở của khu đất này kích thước không lớn lắm, đường kính chỉ vào khoảng 40 hoặc 50 dặm sao cho ngay cả dinh thự lớn ở trung tâm xét cho cùng th́ ai muốn tới viếng thăm cũng hoàn toàn dễ dàng. Mỗi Đền thờ thường có ở vùng lân cận một khối dinh thự công, tức là một loại sảnh đường công, một thư viện rộng lớn cũng như một loạt các ṭa nhà làm trường học.

Nhà 

 

Nhà ở đă được xây dựng cho cộng đồng trước khi thành lập nó, tất cả đều xây theo một bản thiết kế chung, mặc dù khi xây dựng người ta cũng chú ư nhiều tới thị hiếu cá nhân song nguyên tắc chung đều như nhau. Hai đặc điểm chính yếu của việc kiến trúc chúng khác nhiều với hầu hết dinh thự trước đó là không có tường và không có góc cạnh. Nhà ở, đền thờ, trường học, xưởng máy, tất cả chẳng qua chỉ là những mái che được những cột trụ chống đỡ - trong hầu hết trường hợp th́ các cột trụ cao vút như cột trụ trong Đền thờ Ai Cập mặc dù nhẹ hơn và mảnh mai hơn. Tuy nhiên khi cần thiết th́ người ta cũng cung cấp việc ngăn cách các khoảng trống giữa  cột trụ: một thứ ǵ đó hơi giống như bức b́nh phong cuốn lên được ở cửa hiệu để mở cửa tự động trong những thế kỷ trước, nhưng chúng có thể trở nên trong suốt tùy ư. Song le những dụng cụ này hiếm khi được sử dụng và toàn thể cuộc sống của dân cư ngày và đêm trên thực tế đều xảy ra ở ngoài trời .

Các mái ṿm với đủ mọi kích thước và kích cỡ là những đặc điểm nổi bật. Một số có dạng mái ṿm ở nhà thờ Thánh Phê rô mặc dù nhỏ hơn; một số thấp và rộng như mái ṿm ở nhà thờ San Giovanni degli Eremiti ở Palermo; một số có dạng h́nh búp sen như mái ṿm ở Thánh đường Hồi giáo. Những mái ṿm này đều có nhiều cửa sổ hoặc bản thân chúng thường được xây dựng bằng một chất liệu trong suốt nào đó với đủ thứ màu sắc. Mọi Đền thờ đều có một mái ṿm lớn trung tâm và mọi căn nhà đều có ít nhất một mái ṿm. Sơ đồ chung của mỗi căn nhà đều có một loại sảnh đường lớn h́nh tṛn hoặc h́nh bầu dục bên dưới mái ṿm, đây là pḥng khách dùng chung. Ba phần tư chu vi của nó th́ hoàn toàn thoáng đảng, nhưng đằng sau phần chu vi thứ tư người ta thường xây đủ thứ pḥng ốc và văn pḥng, chúng thường cao chỉ được 1/2 chiều cao của cột trụ chống, bên trên có những căn pḥng nhỏ khác được dùng làm pḥng ngủ. Mọi căn pḥng này mặc dù ngăn cách với nhau bằng vách ngăn nhưng không có tường che bên ngoài cho nên thiên hạ hầu như vẫn sống ngoài trời. Không ở đâu có góc cạnh v́ mọi căn pḥng đều h́nh tṛn hoặc h́nh bầu dục. Luôn luôn có một bộ phận nào đó trên mái che mà người ta có thể tản bộ trên đó. Mọi căn nhà đều có nhiều hoa và pho tượng, một đặc điểm nổi bật khác là đâu đâu cũng dồi dào nước; ở mọi nơi đều có ṿi nước, thác nước nhân tạo, hồ nước và ao nước nhỏ.

Nhà cửa luôn luôn được chiếu sáng từ trên nóc. Chúng tôi không thấy đèn chiếu sáng hoặc đèn lồng nhưng người ta làm cho mái ṿm tỏa sáng trong một khối ánh sáng màu sắc có thể tùy ư thay đổi và trong căn pḥng nhỏ hơn th́ một phần của trần nhà cũng được bố trí để tỏa sáng theo kiểu ấy. Ban đêm mọi công viên và đường phố đều được thắp sáng hoàn toàn bằng một ánh sáng dịu dàng giống như ánh trăng nhưng soi chiếu tất cả gần giống như ánh sáng ban ngày hơn bất cứ thứ ǵ mà trước kia người ta đă tạo ra được.

Đồ trang trí nội thất

 

Đồ trang trí nội thất chủ yếu rơ rệt là không có. Trong nhà rất ít có ghế ngồi và không có loại ghế ngồi nào trong đền thờ hoặc sảnh đường công. Thiên hạ ngă người trên những gối đệm hơi giống như phương cách Đông phương hoặc đúng hơn có lẽ giống như dân La mă thời xưa v́ họ không ngồi xếp bằng. Tuy nhiên gối đệm thật kỳ diệu, chúng luôn luôn hoặc là được đệm bằng không khí hoặc làm hoàn toàn bằng thực vật có nhồi một loại vật liệu đặc biệt nào đó làm bằng xơ mềm rất giống như xơ dừa. Những gối đệm này có thể giặt giũ được và quả thật được thường xuyên giặt giũ. Khi đi tới Đền thờ, đi thư viện hoặc nơi hội họp công cộng nào, mỗi người thường đem theo gối đệm không khí của riêng ḿnh nhưng ở nhà th́ người ta thấy vứt ngổn ngang nhiều gối đệm mà bất cứ ai cũng có thể sử dụng được. Có những chiếc bàn nhỏ và thấp – hoặc có lẽ đúng hơn nên miêu tả nó là những giá sách mà người ta có thể bày trí ngữa ra nh́n phẳng như chiếc bàn. Sàn nhà làm toàn bằng đá cẩm thạch hoặc đá mài nhẵn như cẩm thạch và thường có màu đỏ thắm. Người ta đặt trên sàn những chiếc giường bơm đầy không khí hoặc nước hoặc làm bàng cùng loại vật liệu thực vật giống như dùng làm gối đệm; đôi khi giường được treo lên như những chiếc vơng nhưng người ta không dùng khăn trải giường. Trong một vài trường hợp khi có những vách che tương đối thường xuyên chẳng hạn như giữa pḥng ngủ và văn pḥng với sảnh đường lớn th́ vách ngăn luôn luôn được tô điểm đẹp đẽ bằng h́nh phong cảnh và di tích lịch sử. Kỳ diệu thay mọi thứ ấy đều có thể hoán đổi cho nhau và có một bộ phận luôn luôn sẵn sàng dàn xếp những sự hoán đổi – một loại thư viện lưu động dành cho đồ trang trí nội thất nhờ đó bất cứ ai cũng có thể hoán đổi các bức tranh hoặc pho tượng trên vách trang trí cho nhà ḿnh bất cứ khi nào y muốn hoán đổi.

Quần  áo

 

Quần áo của thiên hạ thật đơn giản và lịch lăm nhưng đồng thời hoàn toàn thực dụng. Hầu hết đều chẳng khác nào y phục ở Ấn độ, mặc dù đôi khi chúng tôi thấy có khuynh hướng giống như y phục người Hy Lạp thời xưa. Không có chuyện mặc đồng phục và người ta mặc đủ thứ quần áo khác nhau. Nhưng chẳng có điều ǵ là thiếu hài ḥa, tất cả đều theo thị hiếu hoàn toàn. Cả đàn ông lẫn đàn bà đều mặc quần áo có màu sắc vừa sáng sủa vừa thanh nhă v́ dường như quần áo của hai phái không phân biệt nhau được. Không có y phục nào làm bằng len v́ chẳng bao giờ người ta mặc đồ len. Vật liệu được dùng độc quyền là vải lanh hoặc vải bông, nhưng nó được ngâm tẩm bằng một hóa chất nào đó bảo tồn cho sợi đê quần áo được bền lâu dài, mặc dù hằng ngày đều được giặt giũ. Qui tŕnh hóa học tạo ra một bề mặt sáng bóng như vải sa tanh nhưng tuyệt nhiên không làm mất đi tính mềm mại hoặc linh hoạt của vật liệu. Các thành viên của cộng đồng không hề đi giày dép hoặc bất cứ thứ ǵ xỏ chân vào và người ta cũng hiếm khi đội mũ mặc dù có một vài thứ ǵ đó giống như nón của panama và chúng tôi thấy có một hai mũ nhỏ làm bằng vải lanh. Ư tưởng có y phục riêng dành cho một vài văn pḥng đă biến mất, người ta không hề mặc bất cứ loại đồng phục nào ngoại trừ việc vị thiên thần chủ lễ luôn luôn hiện h́nh ra xung quanh ḿnh những áo dài có màu sắc của Đền thờ trong khi hành lễ; như ta đă miêu tả trước kia đám trẻ con mặc quần áo có một màu sắc nào đó khi chúng sắp tham dự vào những lễ hội tôn giáo.

Thực  phẩm

 

Cộng đồng ăn trường chay v́ có một qui tắc nổi bật là cấm sát sinh. Ngay cả thế giới ngoài cộng đồng vào lúc đó đa số cũng ăn chay, bởi v́ người ta bắt đầu nhận thức được rằng ăn thịt là thô trược, dung tục và nhất là không hợp thời. Tương đối có ít người bận tâm chế biến món ăn hoặc ăn ở nhà mặc dù họ hoàn toàn tự do làm như thế nếu họ muốn. Hầu hết đều đi ăn ở nơi mà ta có thể gọi là nhà hàng ăn, mặc dù bởi v́ thực tế nhà hàng hoàn toàn ở ngoài trời cho nên ta giả sử rằng có lẽ nó giống như một trà quán. Chế độ ăn uống vào thời kỳ ấy phần lớn là trái cây. Chúng ta có đủ thứ trái cây và hàng thế kỷ chăm sóc đă dành cho việc lai giống trái cây theo khoa học, cho nên tạo ra những dạng thực phẩm dinh dưỡng hoàn hảo nhất đồng thời tạo cho chúng mùi vị nổi bật nhất.

Nếu ta quan sát một nông trại trái cây th́ ta thấy bộ phận được dành cho mỗi loại trái cây luôn luôn được chia thành những bộ phận nhỏ hơn, mỗi phân bộ này có đặc điểm bởi một hương vị đặc thù. Chẳng hạn như ta có thể có nho hoặc táo tạm gọi là có mùi dâu tây. Mùi đinh hương, mùi va ni v.v… đối với những người nào không quen thuộc th́ những sự pha trộn như thế dường như thật kỳ diệu. Đây là một xứ sở hầu như không có mưa, sao cho mọi việc canh tác đều được xử trí bằng cách tưới nước và khi tưới nước cho nhiều bộ phận khác nhau, người ta đă ḥa lẫn vào trong nước cái gọi là “thực phẩm cho cây cỏ” và khi biến đổi điều đó người ta thành công trong việc tạo nên những hương vị khác nhau. Bằng cách thay đổi thực phẩm người ta có thể tăng cường hoặc làm chậm sự tăng trưởng và có thể điều chỉnh  kích thước của trái cây. Khu đất của cộng đồng chạy lên vùng đồi cho nên người ta có cơ hội trồng trọt hầu hết mọi loại trái cây khả hữu ở những mức đất khác nhau cao hơn mực nước biển.

Thực phẩm mà người ta ăn nhiều nhất là một loại chất liệu hơi giống như nước quả nấu đông (gồm bột bắp và sữa) làm thành nhiều loại màu sắc và màu sắc biểu thị hương vị giống như ở xứ Peru thời xưa đă quen làm như vậy. Có một sự tuyển lựa lớn lao. Có lẽ việc tuyển lựa những hương vị khác nhau về thực phẩm trong một chừng mực nào đó thay thế cho nhiều thói quen hiện nay mà đến lúc đấy đă biến mất, chẳng hạn như hút thuốc, uống rượu hoặc ăn kẹo. Cũng có một chất trông giống như phó mát nhưng lại ngọt. Đó chắc chắn không phải là phó mát v́ người ta không dùng bất cứ sản phẩm động vật nào và đám kiều dân không nuôi súc vật ngoại trừ dùng làm thú vật cưng. Người ta dùng sữa nhưng đó toàn là sữa thực vật được chế biến từ cái đôi khi gọi là cây ḅ cái, hoặc bắt chước giống hệt sữa chế biến từ một loại đậu nào đó. Không thấy có dao và nỉa nhưng người ta vẫn c̣n dùng th́a và hầu hết mọi người đều mang theo th́a của riêng ḿnh. Người bồi bàn có một loại vũ khí giống như cái ŕu nhỏ dùng để bổ trái cây và vỏ hạt quả. Nó được làm bằng một hợp kim có đủ mọi tính chất của vàng nhưng lưỡi dao rất cứng mà xét theo biểu kiến không cần phải mài. Nó có thể đươc làm bằng một trong các loại kim hiếm chẳng hạn như iridium. Trong những trà quán này cũng không có ghế ngồi, mà mỗi người ngă ngớn trong trong một chỗ trũng đá cẩm thạch trên sàn nhà, có một phiến đá cẩm thạch có thể xoay tṛn trước mặt y sao cho y có thể đặt thức ăn lên trên đó, và khi ăn xong th́ y lật nó lên để cho nước chảy ngang qua rửa bàn.   

Nói chung th́ thiên hạ rơ ràng là ăn ít hơn so với thế kỷ 20. Tập quán thông thường là người ta chỉ ăn một bữa chính vào giờ ngọ và ăn bữa ăn nhẹ hoặc trái cây vào buổi sáng và chiều tối. Mọi người chỉ ăn sáng sau khi mặt trời mọc v́ người ta luôn thức dậy vào lúc đó hoặc sớm hơn một chút. Bữa ăn nhẹ buổi chiều tối thường vào khoảng 5 giờ chiều v́ hầu hết mọi người đi ngủ rất sớm. Theo chỗ chúng tôi quan sát thấy th́ chẳng có ai ngồi ăn thỏa thuê vào buổi chiều tối, nhưng đối với mọi vấn đề này th́ người ta hoàn toàn được tự do cá nhân sao cho thiên hạ chiều theo thị hiếu của riêng ḿnh. Chúng tôi không quan sát thấy người ta uống trà hoặc uống cà phê; quả thật dường như người ta ít uống bất cứ thứ ǵ có thể v́ họ đă ăn quá nhiều trái cây.

Ở đâu đâu cũng có sẵn nhiều nước cho dẫu hầu như không có mưa. Người ta có những công tŕnh đồ sộ để chưng cất nước biển, nó được đưa lên chiều cao ṿi vọi rồi từ đó chảy xuống một cách thoải mái nhất. Tuy nhiên điều đáng lưu ư là nước đặc biệt được dùng để uống không hoàn toàn là kết quả của việc chưng cất mà người ta thêm vào đó một tỉ lệ nhỏ các hóa chất nào đó – theo lư thuyết th́ nước chưng cất thuần túy không phải là lành mạnh nhất khi dùng cho mục đích uống. Người quản lư nhà máy chưng cất giải thích rằng họ dùng nước suối thiên nhiên trong phạm vi sẵn có nhưng họ không thể có được gần đủ nước uống v́ vậy phải bổ sung thêm nước cất; nhưng thế th́ người ta cần phải thêm hóa chất vào để cho nó được tươi mát, sủi bọt và thật sự có tính giải khát.

Thư  viện

 

Việc bày trí về văn học thật kỳ diệu nhưng hoàn hảo. Mỗi nhà đều được cung cấp miễn phí để được trang bị thường xuyên một loại bách khoa từ điển có bản chất bao quát nhất, chứa đựng một bảng tóm tắt hầu như tất cả những điều đă biết, được tŕnh bày ngắn gọn hết mức, thế nhưng vẫn có rất nhiều chi tiết để bao quát mọi thông tin mà một người b́nh thường muốn biết về bất cứ đề tài nào. Tuy nhiên nếu v́ lư do nào đó y muốn biết nhiều hơn nữa th́ y chỉ việc đi tới thư viện gần nhất trong khu vực ấy vốn liên kết với mỗi Đền thờ. Ở đó y t́m thấy một quyển Bách khoa từ điển đầy đủ hơn nhiều, trong đó bài viết về bất cứ đề tài cho sẵn nào đều bao hàm phần tóm tắt kỹ lưỡng mỗi quyển sách đă từng được viết về đề tài ấy – đây là một công tŕnh đồ sộ nhất. Nếu y muốn biết nhiều hơn nữa hoặc nếu y muốn tham khảo nguyên tác được in bằng những ngôn ngữ cổ hoặc loại chữ La mă thời xưa nay không dùng nữa th́ y phải đi đến thư viện trung tâm của cộng đồng có qui mô tương xứng với viện Bảo tàng nước Anh. Đính kèm vào nguyên bản này luôn luôn có phần dịch ra tiếng Anh đương thời được in bằng thứ chữ viết tắt theo tốc kư. 

Như vậy người ta có thể nghiên cứu đầy đủ nhất bất cứ đề tài nào mà y chú ư v́ mọi công cụ nghiên cứu và sách vở đều được cung cấp miễn phí bằng cách này. Lúc nào cũng có những quyển sách mới viết về mọi đề tài mà ta quan niệm được. Tiểu thuyết vào thời ấy hầu như hoàn toàn dựa vào chuyện luân hồi, các nhân vật chính chuyển từ kiếp này sang kiếp khác nêu gương cho sự vận hành của nghiệp báo; những tiểu thuyết gia thời đấy không viết với mục đích được nổi danh hoặc kiếm tiền mà luôn luôn v́ ích lợi của cộng đồng. Một số người viết những bài báo ngắn và người ta luôn luôn xem xét chúng ở sảnh đường riêng của Đền thờ thuộc khu ấy. Bất cứ ai cũng có thể đi đến đó đọc tài liệu và bất cứ ai quan tâm chỉ việc xin một bản sao th́ nó sẽ được cấp cho y. Nếu người ta viết sách th́ nó cũng được tŕnh bày theo kiểu này từng chương một; trọn cả cuộc đời mang tính cộng đồng theo kiểu đó, thiên hạ chia xẻ với người lân cận những ǵ ḿnh đang thực hiện trong khi đang làm việc.

Báo  chí

 

Nhật báo đă biến mất hoặc có lẽ đúng hơn, ta nên nói nó c̣n sống sót dưới một dạng đă cải tiến rất nhiều. Để hiểu được điều này, điều kiện tiên quyết mà ta cần biết là mỗi nhà đều có một cái máy thuộc loại tổ hợp của máy điện thoại và máy ghi âm. Máy này được nối kết với văn pḥng trung ương ở thủ đô của cộng đồng và được bố trí sao cho chẳng những người ta có thể nhờ nó mà nói được giống như nói qua điện thoại, mà bất cứ điều ǵ được viết hoặc vẽ ra trên một kính bản được điều chế đặc biệt rồi đút vào cái hộp ở cổ máy lớn tại văn pḥng trung tâm, ắt sẽ được tự động nhân bản (photocopy) thành ra các bản sao rồi được chuyển về cái hộp ở trong máy của mỗi nhà. Điều diễn ra vào buổi sáng dành cho tin tức được xử lư theo kiểu này. Ta có thể nói rằng mỗi người đều có tờ báo của ḿnh được in ra ở chính nhà ḿnh. Khi có bất kỳ tin tức nào quan trọng xảy ra vào bất cứ lúc nào th́ nó ngay tức khắc được chuyển bằng phương tiện này tới mọi nhà trong cộng đồng, nhưng một bản tổng kết đặc biệt những tin tức ấy được gửi đi mỗi sáng sớm và thường được gọi là Bữa Điểm Tâm Trao Đổi Tin Tức của Cộng Đồng. Đó là một chuyện tương đối nhỏ hơi giống như một bảng mục lục và chỉ mục v́ nó tŕnh bày tóm tắt nhất tin tức nhưng mỗi đề mục đều được đánh số, các bộ môn khác nhau được in ra với màu sắc khác nhau. Nếu bất cứ ai muốn có thông tin đầy đủ về bất cứ đề tài nào th́ y chỉ việc gọi điện thoại cho văn pḥng trung tâm hỏi chi tiết về số này số nọ, th́ tất cả những thông tin sẵn có sẽ được ngay tức khắc gửi theo đường dây tới trước mặt y. Nhưng báo chí khác rất nhiều so với báo thời xưa hầu như không có tin chính trị v́ ngay cả thế giới ngoài cộng đồng cũng đă thay đổi rất nhiều. Có rất nhiều thông tin về đề tài khoa học, cũng như về các lư thuyết mới. Vẫn c̣n có thông tin về chuyện riêng tư của hoàng gia nhưng chỉ ngắn thôi. Có một bộ môn thông tin cộng đồng nhưng ngay cả bộ môn ấy chủ yếu cũng liên quan tới tài liệu khoa học, các phát minh và khám phá mặc dù nó cũng ghi chép việc hôn nhân và khai sinh.

Người ta cũng dùng công cụ ấy để bổ sung thêm vào các bách khoa tự điển tại gia bất cứ khi nào cần. Những bản sao bổ sung được gửi đi hằng ngày bất cứ khi nào có thêm điều ǵ cần nói sao cho báo chí được gửi đi thành từng mảng suốt ngày thỉnh thoảng lại có những bản sao nhỏ được thêm thắt vào cho đủ thứ bộ môn trong bách khoa từ điển. 

Các cuộc hội họp chung

 

Liên quan tới mỗi Đền thờ đều có một hệ thống nhất định các ṭa nhà giáo dục sao cho nói chung th́ công việc dạy dỗ ở mỗi khu được thực hiện dưới sự bảo trợ của Đền thờ. Đền thờ lớn trung tâm có liên quan tới những chỗ hội họp khoáng đảng ở ngoài trời nơi mà khi cần thiết th́ người ta có thể tụ tập hầu như toàn thể cộng đồng. Thường th́ khi Đức Bàn Cổ muốn phổ biến một nghị quyết hoặc thông tin dành cho toàn dân th́ chính ngài ngỏ lời ở Đền thờ lớn trung tâm và đồng thời một loại hầu như là hệ thống ghi âm được cải tiến hoàn toàn sẽ mô phỏng lại lời ngài nói ở mọi Đền thờ khác. Dường như mỗi Đền thờ ở một khu đều có một loại máy ghi âm đại diện ở Đền thờ chính trung tâm, nó ghi lại ở đầu bên kia của đường dây mọi điều xảy ra trong Đền thờ trung tâm sao cho mọi chi tiết đặc biệt đều được mô phỏng lại ngay tức khắc bằng cách này.

Các bộ môn khoa học 

 

Ta đă đề cập tới thư viện lớn ở trung tâm liên quan tới Đền thờ trung tâm. Ngoài thư viện này ra (đó là một bộ phận trong một khối lớn các dinh thự). C̣n có một viện bảo tàng hoàn chỉnh được trang bị đầy đủ cũng như điều có thể gọi là Trường Đại Học. Ở đây người ta nghiên cứu nhiều ngành nhưng các phương pháp nghiên cứu mà người ta theo đuổi khác với phương pháp thời xưa. Chẳng hạn như việc nghiên cứu thú vật và cây cỏ chỉ hoàn toàn được thực hiện bằng thần nhăn chứ không bao giờ có bất cứ loại hủy diệt nào; chỉ có điều là những giáo sư và sinh viên muốn nghiên cứu thuật ấy đều phải phát triền đầy đủ nhăn quan để làm việc theo cách đó. Có một bộ môn mà ta có thể gọi là khoa địa lư địa cầu, nó đă vạch ra bản đồ của toàn thể trái đất bằng một số lớn mô h́nh qui mô rộng hơn, dùng những kư hiệu và ghi chép bằng màu sắc dể chỉ ra chẳng những bản chất của đất trên bề mặt mà c̣n là những ǵ người ta sẽ t́m thấy xét về khoáng vật và vật liệu hóa thạch xuống măi tới một độ sâu đáng kể. 

Cũng có một bộ môn tinh xảo về dân tộc học trong đó có những pho tượng có kích thước như người thật của đủ mọi giống dân đă từng tồn tại trên trái đất cùng với mô h́nh của các giống dân tồn tại trên các hành tinh khác thuộc dăy hành tinh này. Thậm chí c̣n có một bộ môn liên quan tới các dăy hành tinh khác trong Thái dương hệ. Đối với mỗi pho tượng lại có một bảng miêu tả rốt ráo dùng các sơ đồ biểu diễn các thể cao của pho tượng khác nhau ra sao. Toàn thể được xếp thành bảng biểu theo quan điểm của Đức Bàn Cổ cho thấy rằng loài người đă phát triển thành ra đủ thứ giống dân và phân chủng. Người ta cũng tŕnh bày nhiều điều về tương lai cũng như tŕnh bày các mô h́nh được giải thích tỉ mỉ. Ngoài ra c̣n có bộ môn giải phẫu cơ thể bàn về toàn thể cơ cấu giải phẫu tỉ mỉ cơ thể con người và con thú trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Không có chính xác bất kỳ bộ môn y học nào v́ không c̣n bệnh tật nữa, bệnh tật đă bị loại trừ. Tuy nhiên vẫn c̣n khoa phẫu thuật trong những trường hợp bị tai nạn mặc dù ngay cả khoa đó cũng đă được cải tiến rất nhiều. Người ta chỉ cần ít giáo sư về phẫu thuật v́ dĩ nhiên là tai nạn cũng hiếm có. Không hề có điều ǵ tương ứng với những bệnh viện lớn thời xưa mà chỉ có một vài pḥng khoáng đảng và sáng sủa trong đó người ta đặt tạm nạn nhân bị tai nạn khi cần thiết.

Liên quan tới trung tâm học vấn cũng có một viện bảo tàng tinh xảo gồm đủ loại nghệ thuật và nghệ nhân vốn đă tồn tại trên thế giới từ lúc khai thiên tịch địa. Cũng có mô h́nh của đủ thứ máy móc, hầu hết đều mới lạ đối với chúng tôi bởi v́ chúng đă được phát minh ra trong khoảng từ thế kỷ 20 tới thế kỷ 28. Cũng có nhiều máy móc thời châu Atlantis đă bị quên lăng từ lâu rồi sao cho có một sự sắp xếp hoàn toàn đối với bất kỳ loại nghiên cứu nào theo những đường lối ấy.

Người ta vẫn c̣n viết lịch sử và đang trong quá tŕnh tạo ra nó được hơn 100 năm rồi; nhưng người ta viết sử bằng cách đọc tiên thiên kư ảnh. Nó được minh họa bằng một phương pháp mới tinh so với chúng ta, phương pháp phóng hiện một phong cảnh từ tiên thiên kư ảnh khi người ta thấy nó là quan trọng. Ngoài ra chúng ta có một loạt những mô h́nh minh họa cho lịch sử thế giới vào đủ mọi thời kỳ. Ở thư viện trung tâm có một vài pḥng nhỏ hơi giống như pḥng gọi điện thoại công cộng, trong đó học viên có thể lấy một bảng ghi chép bất kỳ diễn biến nổi bật nào trong lích sử, đút nó vào một cái máy và bằng cách khởi động máy, họ sẽ có được toàn thể cảnh tượng được mô phỏng lại theo kiểu thính thị tŕnh bày chính xác dáng vẻ của người diễn tuồng, lời lẽ của họ đúng theo từng cung bậc mà họ đă nói ra. 

Cũng có một bộ môn thiên văn học với máy móc thú vị nhất biểu thị vị trí chính xác của bất cứ thứ ǵ thấy được trên bầu trời vào bất kỳ lúc nào. Có một khối lượng thông tin lớn về mọi thế giới này. Có hai bộ môn, một bộ môn trực tiếp quan sát bằng đủ mọi phương tiện, c̣n bộ môn kia lập thành bảng biểu thông tin thu được qua chứng cớ. Hầu hết thông tin này đều được các Thiên thần cung cấp liên quan tới đủ thứ hành tinh và ngôi sao; nhưng thông tin ấy luôn luôn được tách bạch hoàn toàn với những kết quả do trực tiếp quan sát. Hóa học đă được đưa lên tới một đỉnh cao và chiều sâu kỳ diệu. Bây giờ người ta đă hiểu rơ hết mọi sự hóa hợp khả hữu và khoa học đă mở rộng liên quan tới tinh hoa ngũ hành khiến cho toàn thể vấn đề tinh linh thiên nhiên và Thiên thần trở thành một bộ môn nhất định của khoa học, được nghiên cứu bằng những mô h́nh minh họa. Cũng có một bộ môn bùa chú sao cho bất cứ người thông linh nào cũng có thể dùng khoa trắc tâm học để luồn qua đằng sau chỉ là các mô h́nh thôi và thấy được sự vật theo thực chất của chúng.

Nghệ  thuật

 

Dường như việc diễn thuyết tuyệt nhiên không c̣n vị trí nổi bật nữa. Đôi khi người đang nghiên cứu một đề tài cũng có thể nói chuyện với một vài người bạn về đề tài ấy, nhưng ngoài chuyện ấy ra th́ nếu y có bất cứ điều ǵ muốn nói th́ y đệ tŕnh nó lên viên chức để được xếp vào thông tin hằng ngày. Nếu bất cứ ai làm thơ hoặc viết tiểu luận th́ y có thể truyền đạt điều ấy cho chính gia đ́nh ḿnh và có lẽ đưa nó lên sảnh đường của khu vực. Thiên hạ vẫn c̣n vẽ tranh nhưng chỉ coi là chuyện giải trí thôi. Giờ đây chẳng ai dành hết thời giờ làm việc ấy. Tuy nhiên, nghệ thuật đă thấm nhuần sinh hoạt tới mức lớn lao hơn bao giờ hết v́ mọi thứ ngay cả đồ vật đơn giản nhất để dùng hằng ngày đều được làm theo kiểu nghệ thuật; thiên hạ đều dùng một thứ ǵ đó của chính ḿnh để làm việc và luôn luôn phấn đấu có những thí nghiệm mới.

Không có điều ǵ tương ứng với một nhà hát và việc đưa ư tưởng tới cho cư dân chú ư th́ trong trí y định nghĩa nó là một nơi mà thiên hạ đều đi tới để ca ngâm đúng vai những người khác hơn chính ḿnh và đóng vai các vĩ nhân. Người ta coi đó là cổ hũ và ấu trĩ.. Các vũ hội lớn có đồng ca và những cuộc diễu hành cũng có thể được coi là mang tính kịch nghệ nhưng đối với họ th́ dường như là việc thực hành tôn giáo.

Trong sinh hoạt mới th́ các tṛ chơi và điền kinh nổi bật lên, Có những sân vận động và người ta chú trọng nhiều tới việc phát triển thể chất của cả đàn bà lẫn đàn ông. Môn thể thao rất giống với môn quần ợọt là một trong những môn được thiên hạ ưa chuộng nhất. Trẻ con cũng chơi đùa giống như thời xưa và được tự do rất nhiều.

Quyền năng ư chí

 

Cộng đồng hầu như đều công nhận sức mạnh của ư chí cho nên nhiều điều được thực hiện bằng tác động trực tiếp của ư chí. Người ta thừa biết các tinh linh thiên nhiên chúng đóng một vai tṛ nổi bật trong sinh hoạt hằng ngay của thiên hạ. Hầu hết mọi người đều có thể nh́n thấy chúng. Hầu như mọi đứa trẻ đều có thể nh́n thấy chúng và sử dụng chúng theo đủ mọi cách, nhưng khi chúng trưởng thành th́ chúng thường mất đi một số quyền năng này. Việc dùng một số phương pháp như thế cũng như thần giao cách cảm là một loại tṛ chơi đối với trẻ con và người lớn công nhận con nít cao siêu hơn ḿnh về phương diện này cho nên nếu họ muốn chuyển một thông điệp tới cho một người bạn nào đó ở cách xa th́ họ thường gọi một đứa trẻ ở gần nhất nhờ nó chuyển dùm hơn là cố gắng tự ḿnh làm điều đó. Đứa trẻ có thể dùng thần giao cách cảm chuyển thông điếp tới cho một đứa trẻ khác ở đầu dây bên kia, thế rồi đứa trẻ khác ngay tức khắc chuyển thông điệp cho người được dự tính nhận thông điệp, đây là một phương pháp truyền thông thông dụng và hoàn toàn đáng tin cậy. Người lớn thường mất quyền năng này vào lúc kết hôn nhưng một vài người vẫn c̣n giữ được mặc dù họ phải cần tới nỗ lực lớn lao hơn nhiều so với con nít.

T́nh h́nh  kinh tế

 

Muốn hiểu được t́nh h́nh kinh tế trong khu kiều dân này th́ ta phải có một chút cố gắng, nhưng cũng không dễ hiểu đâu. Cộng đồng vốn tự túc tự cấp làm ra bất cứ thứ ǵ ḿnh cần. Những thứ duy nhất được nhập khẩu từ thế giới ngoài cộng đồng là những đồ quí hiếm chẳng hạn như những bản thảo cổ, sách vở và tác phẩm nghệ thuật. Các chức sắc trong cộng đồng luôn luôn trả tiền mua những thứ ấy v́ họ có một số lượng nào đó tiền bạc của thế giới ngoài cộng đồng nhờ thu được của du khách hoặc khách đến tham quan. Họ cũng học được bí quyết dùng khoa luyên kim đan để chế tạo ra vàng bạc và đủ thứ ngọc quí; những thứ này thường được dùng để chi trả cho một ít hàng hóa được nhập khẩu từ thế giới ngoài cộng đồng. Nếu một thành viên trong cộng đồng có ư muốn riêng tư cần một thứ ǵ đó chỉ có thể mua được từ thế giới ngoài cộng đồng th́ y báo cho chức sắc gần nhất của ḿnh ư muốn ấy; thế là người ta bèn qui định cho y một loại công tác nào đó thêm vào công việc hằng ngày mà y thường làm sao cho bằng cách ấy y có thể kiếm được giá trị tính bằng tiền (của thế giới ngoài cộng đồng) bất cứ thứ ǵ mà y cần.

Mọi người đều đảm nhiệm một công việc nào đó v́ ích lợi của cộng đồng, nhưng người ta thường để mặc cho mỗi người tự ư chọn lựa điều ḿnh cần làm. Không có loại công việc nào được coi là cao cả hơn công việc khác và cũng chẳng có ư niệm về giai cấp thuộc bất cứ loại nào. Trẻ con đến một tuổi nào đó sẽ chọn lựa điều ḿnh cần làm và y luôn luôn được tự do thay đổi từ loại công việc này sang công việc khác nhờ chú ư đúng mức. Việc giáo dục được miễn phí nhưng học miễn phí ở đại học trung ương chỉ dành cho kẻ nào đă tỏ ra đặc biệt tinh thông về ngành học mà ḿnh muốn theo đuổi. Quần áo và thực phẩm được cung cấp miễn phí cho mọi người – hoặc nói cho đúng hơn th́ mỗi người được định kỳ phân phối một phiếu chấm công để đổi lấy một bữa ăn ở bất cứ nhà hàng, sân vườn lớn nào xa mà họ thấy ở khắp nơi trong khu kiều dân. Hoặc nếu muốn th́ y có thể đi tới một cửa tiệm lớn nào đó để lấy những lương thực và thực phẩm nguyên liệu rồi mang về nhà chế biến thành món ăn mà ḿnh ưa thích. Việc an bài này dường như phức tạp đối với người ở ngoài cộng đồng nhưng nó hoạt động hoàn toàn đơn giản trong đám những người hiểu rơ được nó.

Mọi người đều làm việc cho cộng đồng, trong số đó có việc sản xuất ra thực phẩm và quần áo, đến lượt chúng lại được phân phối ṿng ṿng. Chẳng hạn như ta xét trường hợp một nhà máy sản xuất y phục. Đó là nhà máy của chính quyền, tính b́nh quân th́ nó sản xuất ra nhiều vải vóc đến nỗi người ta có thể tùy ư tăng hoặc giảm sản lượng. Công việc này chủ yếu được giao cho các cô gái, họ tự nguyện gia nhập nhà máy; thật ra người ta phải cạnh tranh nhau để xin vào nhà máy v́ chỉ cần một số công nhân thôi. Nếu thứ ǵ không ai cần th́ người ta sẽ không chế tạo ra nó. Nếu người ta cần vải vóc th́ đă có nhà máy sản xuất ra nó, nhưng nếu người ta không cần th́ nhà máy phải chờ thời. Người giám sát phụ trách cửa hàng vải vóc quần áo của chính quyền tính toán xem vào một lúc nào đó th́ ḿnh cần bao nhiêu vải vóc quần áo và dự trữ đủ mức ấy, do đó nó cần được đổi mới hoàn toàn và đặt hàng theo đó; nếu y không cần thứ nào nữa th́ y bảo ḿnh đă có đủ rồi. Nhà máy chẳng bao giờ đóng cửa mặc dù giờ làm việc thay đổi rất nhiều.

Trong xưởng làm vải vóc quần áo, công nhân hầu hết là phụ nữ trẻ măng, họ chẳng động chân tay bao nhiêu mà chỉ giám sát một vài máy móc để xem chúng có trục trặc ǵ chăng, Mỗi công nhân quản lư một loại khung cửi mà y đút vào đó một số mẫu mă. Ta hăy tưởng tượng một điều ǵ đó giống như một mặt đồng hồ lớn trên đó có một số đinh mũ di động. Khi một cô gái khởi động máy th́ cô sắp xếp những đinh mũ này theo ư của riêng ḿnh và khi máy móc vận hành th́ chuyển động của nó tạo ra một mẫu thiết kế nào đó. Cô có thể sắp xếp máy để sản xuất ra 50 bộ quần áo vải vóc, mỗi bộ thuộc một mẫu khác nhau, rồi cứ bỏ mặc cho máy chạy. Mỗi cô gái sắp xếp máy của ḿnh khác người kia, đó chính là nghệ thuật của họ; mỗi bộ quần áo vải vóc đều khác bộ quần áo vải vóc kia trừ phi cô để cho máy móc chạy theo danh sách trở lại mỗi khi nó đă hoàn tất 50 bộ. Trong thời gian ấy sau khi đă khởi động máy móc các cô gái chỉ cần thỉnh thoảng mới liếc mắt nh́n chúng và máy móc hoàn hảo đến nỗi hầu như chẳng bao giờ trục trặc. Nó được bố trí cho vận hành êm ru sao cho trong khi chờ đợi một cô gái đọc sách cho các cô gái khác nghe.

Một năng lượng mới

 

Có một điểm duy nhất tạo ra sự khác nhau ghê gớm đó là cách thức cung cấp năng lượng. Không c̣n có lửa ở đâu nữa, v́ vậy không có nhiệt, không có nhọ nồi, không có khói và hầu như không có bụi. Vào lúc ấy, toàn thể thế giới đă tiến vượt mức dùng hơi nước hoặc bất kỳ dạng năng lượng nào khác cần dùng tới nhiệt để sản sinh ra nó. Dường như đă có một thời kỳ trung gian khi người ta khám phá ra một phương pháp nào đó để chuyển điện năng đi khoảng cách rất xa mà không bị hao hụt; đồng thời mọi năng lượng nước sẵn có trên trái đất đều được tụ tập lại và tập hợp theo qui mô; các thác nước ở Trung Phi và đủ loại nơi chốn lộ thiên khác đều được người ta khiến cho đóng góp phần hùn của ḿnh và tất cả được tụ tập lại ở những trạm lớn trung tâm rồi được phân phối đi cho quốc tế. Năng lượng sử dụng được theo cách này thật vô cùng lớn nhưng giờ đây người ta đă hoàn toàn siêu việt được nó, mọi thứ bày trí cầu kỳ ấy đều trở nên vô dụng nhờ khám phá ra phương pháp tốt nhất nhằm sử dụng cái mà ông Keely quá cố gọi là lực năng động tức là lực ẩn giấu trong mọi nguyên tử vật chất trên cơi trần.

Ta nên nhớ rằng măi từ năm 1907, ngài Oliver Lodge đă nhận xét rằng “toàn thể sản lượng của một nhà máy điện công suất một triệu kw sản xuất ra trong 30 triệu năm tồn tại thường xuyên trong từng m3 (khối) của không gian nhưng hiện nay ta không sử dụng được” (Tạp chí Vật lư, tháng 4 năm 1907 trang 493). Vào thời kỳ mà hiện nay chúng ta đang mô tả th́ năng lượng này đă được sử dụng rồi và do đó năng lượng vô hạn được cung cấp miễn phí cho mọi người trên khắp thế giới. Nó được cung cấp bằng các loại ổ cắm (giống như van điều tiết gas hoặc nước) trong mọi nhà và mọi phân xưởng của cộng đồng này cũng như ở bất cứ nơi nào khác cần dùng, và người ta có thể sử dụng nó cho mọi mục đích khả hữu cần tới năng lượng. Giờ đây mọi loại công việc trên khắp thế giới đều được thực hiện theo cách này. Việc đun nóng và thắp sáng chỉ là biểu hiện của năng lượng ấy. Chẳng hạn như bất cứ khi nào người ta cần tới nhiệt th́ không ai trong một xứ sở văn minh lại màng tới việc trải qua qui tŕnh cồng kềnh và lảng phí là thắp lửa lên. Y chỉ cần khởi động lực ấy và dùng một dụng cụ nhỏ xíu có thể bỏ gọn trong túi để chuyển hóa năng lượng ấy thành ra nhiệt ở mức độ chính xác cần thiết. Người ta có thể ngay tức khắc tạo ra nhiệt độ tới nhiều ngàn độ ở bất cứ nơi đâu cần tới ngay cả ở một vùng chỉ nhỏ như đầu kim gút.

Nhờ năng lượng này mà mọi máy móc đều vận hành trong các nhà máy do chúng tôi khảo sát; kết quả là mọi công nhân đến lúc tan ca thậm chí tay chân cũng không hề lấm lem. Có một kết quả khác là nhà máy không c̣n là nơi khủng khiếp dơ dáy xấu xí như những thời đại trước kia mà chúng ta đă khổ sở mới làm quen được. Nó được trang hoàng đẹp đẻ, -  mọi cột trụ đều được khắc chạm và có những ṿng hoa tinh xảo trang trí, có những pho tượng đứng ngay đơ, trắng toát, màu hồng và màu tím – màu tím làm bằng đá porphyry được đánh bóng rất đẹp. Giống như mọi dinh thự khác, nhà máy không có vách tường mà có cột trụ chống đỡ. Các cô gái cài hoa trên đầu và quả thật, hoa trang điểm dồi dào cho nhà máy ở đủ mọi hướng. Xét về kiến trúc th́ nhà máy cũng đẹp như một nhà ở riêng.

T́nh h́nh làm việc

 

Một khách tham quan ghé thăm một nhà máy niềm nở hỏi vài câu với cô đốc công là một cô gái trẻ, tóc đen với một ṿng hoa rực rỡ có những đóa hoa đỏ thắm; cô này trả lời:

“Ồ, người ta bảo chúng tôi phải làm bao nhiêu thứ. Người cai quản cửa hàng quần áo vải vóc của cộng đồng xét thấy rằng lúc đó ḿnh cần có bao nhiêu quần áo vải vóc. Đôi khi người ta cần ít, đôi khi cần nhiều nhưng bao giờ cũng cần một chút và chúng tôi làm việc theo số lượng ấy. Tôi bảo các cô công nhân ngày mai đến làm việc theo đơn đặt hàng, làm một tiếng đồng hồ, hai tiếng hoặc bốn tiếng tùy theo số lượng công việc cần phải làm. Thường thường th́ giờ làm việc trung b́nh trong một ngày là ba tiếng đồng hồ, nhưng công nhân phải làm việc một ngày tới năm tiếng đồng hồ khi sắp tới dịp đại lễ. Ô, không phải làm nhiều như vậy bởi v́ lễ hội cần nhiều quần áo mới mà v́ bản thân các cô công nhân muốn hoàn toàn nghỉ việc trong ṿng một tuần lễ để tham dự lễ hội. Ông thấy đấy chúng tôi luôn luôn biết trước người ta trông đợi chúng tôi sản xuất ra bao nhiêu sản phẩm trong ṿng một tuần lễ hoặc một tháng và chúng tôi tính toán xem ḿnh có thể làm số lượng công việc ấy chẳng hạn như mỗi ngày hai tiếng rưởi đồng hồ. Nhưng nếu các cô công nhân muốn nghỉ lễ một tuần th́ chúng tôi có thể dồn hai tuần làm việc lại thành một tuần bằng cách tuần đó làm việc mỗi ngày năm tiếng đồng hồ; thế rồi chúng tôi đóng cửa nhà máy trong tuần lễ tiếp theo thế mà vẫn giao đủ quần áo vải vóc theo như qui định vào lúc đă ấn định sẵn. Cố nhiên chúng tôi hiếm khi nào làm việc tới năm tiếng đồng hồ, thường thường th́ chúng tôi rải công việc của tuần nghỉ lễ sang cho ba tuần trước đó, sao cho mỗi ngày chỉ làm thêm một tiếng đồng hồ cũng đủ cung cấp mọi sản phẩm cần thiết. Một cô thợ cá nhân b́nh thường muốn nghĩ lễ riêng và cô luôn luôn dàn xếp được bằng cách nhờ người nào đó đến làm thay cho ḿnh hoặc những cô công nhân khác sẽ vui ḷng làm việc thêm mỗi người vài phút để bù vào số công việc mà lẽ ra cô nghỉ lễ phải làm. Họ đều là bạn tốt và rất hạnh phúc làm chuyện ấy. Khi họ nghỉ phép th́ họ thường đi thăm thư viện trung tâm hoặc nhà thờ chính mà muốn được thoải mái th́ họ cần nghỉ trong một ngày”.

Một khách tham quan từ thế giới ngoài cộng đồng thắc mắc liệu có ai làm việc không có điều ǵ cưỡng chế và thắc mắc tại sao người ta phải làm việc, nhưng cư dân ở đó đáp lại bằng sự ít thiện cảm hoặc ít thông cảm với khách tham quan:

Một người trong đám đó trả lời: “ông ngụ ư muốn nói ǵ? Chúng tôi ở đây để làm việc mà. Nếu có việc để làm th́ chúng tôi làm việc v́ ích lợi của Ngài. Nếu không có việc ǵ để làm th́ thật là một thảm họa, nhưng Ngài biết rơ hơn.”

Khách tham quan buộc miệng kêu lên: “Đây thật là một thế giới khác”.

Người kiều dân bối rối hỏi lại: “Nhưng làm thế nào mà có thể có thế giới khác? Con người tồn tại v́ cái ǵ mới được chứ?”

Khách tham quan tuyệt vọng bỏ lửng câu hỏi rồi lại hỏi tiếp: “Nhưng ai bảo quí vị làm việc, làm lúc nào và làm ở đâu?”

Người kiều dân trả lời: “Mọi đứa trẻ đều đạt được một tŕnh độ nào đó. Thầy cô giáo và những người khác đă quan sát nó kỹ lưỡng để xem sức mạnh của nó sẽ được triển khai dễ dàng nhất theo hướng nào. Thế rồi nó hoàn toàn tự do chọn lựa theo hướng đó, nhưng được sự cố vấn của những người khác trợ giúp. Ông bảo làm việc phải bắt đầu vào lúc này hoặc lúc kia nhưng đó là vấn đề thỏa thuận giữa các công nhân và tùy ư dàn xếp trong một ngày”.  

Việc theo dơi lời dối thoại ấy hơi gặp khó khăn một chút v́ mặc dù ngôn ngữ vẫn như thế nhưng người ta đă du nhập thêm nhiều từ ngữ mới và ngữ pháp cũng biến đổi nhiều. Chẳng hạn như có một đại danh từ giống chung có thể nghĩa là “ông ấy” hoặc “cô ấy”. Có lẽ việc phát minh ra đại danh từ ấy đă trở nên cần thiết v́ sự kiện người ta nhớ được kiếp trước và thường phải nói tới các kiếp luân hồi theo cả hai giới tính.  

Ở mọi loại nhà máy mà chúng tôi tham quan th́ phương pháp làm việc đều giống nhau y hệt. Đâu đâu người ta cũng làm việc bằng cách giám sát máy móc vận hành, đôi khi rờ vào những nút điều chỉnh hoặc khởi động máy trở lại. Tựu trung th́ giờ làm việc tương đối ngắn gọn là thông lệ ngoại trừ những việc thay ca kíp ở các nhà hàng sân vườn th́ hơi khác một chút. Trong trường hợp này th́ đội ngũ nhân viên không thể vắng mặt hết cùng một lúc bởi v́ lúc nào cũng phải có sẵn thực phẩm sao cho luôn luôn có một vài nhân viên trực và không ai vắng mặt trọn cả một ngày mà không dàn xếp trước. Ở những chỗ nào cần có sự túc trực thường xuyên chẳng hạn như nhà hàng và một vài cửa hàng sửa chữa máy cũng như một số bộ môn khác, người ta có một hệ thống thay ca rất tinh xảo. Đội ngũ nhân viên luôn luôn vượt quá mức cần thiết sao cho chỉ một tỉ lệ nhỏ trực vào một lúc nào đó. Chẳng hạn như việc nấu nướng hoặc bố trí thực phẩm ở mỗi nhà hàng được thực hiện bởi một nhân viên nam hoặc nữ cho mỗi bữa ăn – một nhân viên cho bữa ăn chính vào giờ ngọ, một nhân viên cho bữa điểm tâm buổi sáng, một nhân viên cho bữa ăn nhẹ vào chiều tối. Mỗi người trực đại khái vào khoảng ba tiếng đồng hồ.

Việc nấu bếp đă được cách mạng hóa. Bà bếp trưởng ngồi ở một loại bàn giấy văn pḥng có một loạt những nút vặn trong tầm tay. Người ta gọi điện báo cho bà biết cần những món ăn ǵ; bà ấn nút này để xịt mùi vị cần thiết vào món nước quả nấu đông gồm bột bắp và sữa chẳng hạn, rồi nó được đổ vào một loại ống và được chuyển xuống cho người (bồi bàn) phục vụ chờ ở sân vườn bên dưới. Trong một số trường hợp th́ cần phải hâm nóng lên, nhưng bà cũng làm việc ấy mà không cần nhúc nhích rời khỏi chỗ ḿnh chỉ bằng cách ấn nút. Một số cô gái nhỏ lượn lờ xung quanh bà để giúp việc bà: các cô bé gái từ 8 tới 14 tuổi. Chúng hiển nhiên đang học việc (tập sự), người ta thấy chúng trút thực phẩm ra từ những cái b́nh nhỏ cũng như trộn lẫn thực phẩm trong những cái bát nhỏ. Nhưng ngay cả trong đám các bé gái này nếu có cô bé nào muốn nghỉ một ngày hoặc một tuần th́ cô nhờ một cô bé khác thế chỗ của ḿnh và yêu cầu cũng luôn luôn được chấp thuận; mặc dù dĩ nhiên người làm thay rất có thể không rành việc; song le những người bạn đồng sự luôn luôn sốt sắn giúp đỡ người làm thay, cho nên không hề có khó khăn ǵ nảy sinh. Trong mọi vấn đề này bao giờ cũng có một số lớn sự tương tác và hoán đổi; nhưng có lẽ đặc điểm nổi bật nhất là ai ai cũng phô bày thiện chí một cách sốt sắn – mọi người đều nôn nóng muốn giúp những người khác và chẳng ai nghĩ rằng ḿnh bị đối xử bất công hoặc bị “trù dập”.

Như ta đă nói trước kia, thật thú vị khi thấy rằng không một loại công việc nào được coi là thấp hèn hơn công việc khác. Nhưng quả thật không c̣n bất kỳ công việc hèn hạ hoặc dơ dáy nào. Người ta không c̣n khai thác quặng mỏ nữa bởi v́ theo thông lệ tất cả những quặng cần thiết đều được tạo ra bằng khoa luyện kim đan đỡ mất công hơn nhiều. Người ta biết rơ về từng li từng tí của hóa học đến nỗi hầu như bất cứ thứ ǵ cũng có thể chế tạo ra được theo cách ấy. Nhưng có một số đồ vật khó chế tạo và do đó không thực hiện được để sử dụng cho công việc hằng ngày. Có nhiều hợp kim mà thế giới xưa kia chưa hề biết đến.

Mọi công việc nghề nông giờ đây đều do máy móc thực hiện và chẳng ai cần phải đào lỗ hoặc cày bừa bằng tay nữa. Thậm chí người ta cũng không đào lỗ trong vườn riêng của ḿnh mà thay vào đó dùng một cái máy nhỏ kỳ diệu trông giống như một cái thùng đặt trên những cái chân, nó đào lỗ tới bất cứ độ sâu nào cần thiết và cách khoảng cần thiết tùy theo cách thức mà người ta khởi động nó và nó tự động dời chỗ dọc theo luống ấy và chỉ cần được giám sát rồi quay ngược lại khi nó đă đi hết luống. Không có việc lao động tay chân theo nghĩa cũ của từ ngữ này v́ ngay cả máy móc bây giờ cũng được máy móc khác chế tạo ra và mặc dù máy móc vẫn c̣n cần phải cho dầu mở, song ngay cả việc ấy dường như cũng được thực hiện một cách sạch sẽ. Quả thật không cần công việc lao động thấp hèn hoặc dơ dáy nào. Thậm chí cũng không có rác thải v́ mọi thứ đều được chuyển hóa bằng hóa học và rốt cuộc biến thành một chất bột xám không mùi hơi hơi giống như tro mà người ta dùng để bón phân ngoài vườn. Mỗi nhà đều có máy chế biến rác riêng của ḿnh.

 Trong cái hệ thống sinh hoạt ấy không hề có tôi tớ, bởi v́ thực ra tôi tớ chẳng có việc ǵ làm, nhưng luôn luôn có nhiều người sẵn sàng đến giúp đỡ khi cần thiết. Trong đời một người phụ nữ bao giờ cũng có lúc tạm thời mất khả năng làm việc nội trợ; nhưng trong trường hợp đó th́ bao giờ cũng có một người nào khác đến giúp đỡ; đôi khi là một người bạn láng diềng và đôi khi là một loại người giúp đỡ phụ nữ, họ đều làm việc v́ vui vẻ muốn giúp đỡ chứ không phải v́ muốn được trả lương. Khi cần tới bất cứ sự trợ giúp nào th́ người cần được giúp đỡ chỉ phải nộp đơn qua phương tiện truyền thông đă được công nhận, thế là sẽ có một người khác ngay tức khắc t́nh nguyện đến giúp đỡ.   

Tài  sản  riêng    

 

Hầu như không có ư niệm tài sản riêng; chẳng hạn như toàn thể khu đất kiều ngụ thuộc về cộng đồng. Một người sống trong căn nhà nào đó, vườn tược là của y sao cho y có thể tùy ư sắp xếp hoặc thay đổi bất cứ kiểu nào nhưng y không hề cấm ai bước vào vườn và y cũng chẳng lấn sang vườn người bên cạnh. Nguyên tắc trong cộng đồng là không sở hữu đồ vật mà chỉ hưởng thụ. Khi một người chết đi, v́ y thường tự nguyện chết cho nên y đă bỏ công dàn xếp hết mọi việc của ḿnh. Nếu vợ y c̣n sống th́ vợ y giữ những ngôi nhà cho đến lúc ḿnh chết hoặc tái giá. Bởi v́ ngoại trừ những trường hợp hiếm hoi nhất, mọi người đều sống cho tới lúc tuổi già, cho nên hầu như không thể có bất cứ đứa trẻ con nào bị mồ côi bỏ mặc bơ vơ, nhưng nếu có chuyện ấy xảy ra th́ bao giờ cũng có nhiều người thiện nguyện sốt sắn nhận chúng làm con nuôi. Khi cả bố lẫn mẹ đều đă chết và con cái đều đă kết hôn hết th́ căn nhà trở lại cộng đồng và được giao cho một cặp nam nữ trẻ tuổi kế tiếp ở lân cận vừa mới kết hôn với nhau. Thường thường th́ khi kết hôn cặp vợ chồng trẻ sẽ có một căn nhà mới, nhưng có trường hợp bố mẹ yêu cầu một trong các con trai hoặc con gái ḿnh ở lại với ḿnh để trông nhà. Trong trường hợp người ta xây nhà mở rộng cho một đứa cháu kết hôn để cho nó có thể vẫn c̣n tiếp xúc khắn khít với người già nhưng trường hợp này chỉ là ngoại lệ.

Không có qui định hạn chế nào ngăn cản người ta thu gom động sản và giao nộp nó cho bố mẹ tương lai trước khi bản thân qua đời. Như ta đă nói trước kia vật hộ mệnh (lá bùa) luôn luôn được thực hiện như vậy và thường thường có kèm theo một vài quyển sách, đôi khi có lẽ là một bức tranh hoặc tác phẩm nghệ thuật mà ḿnh ưa thích. Như chúng tôi có nói trước kia, nếu muốn th́ người ta có thể kiếm tiền và có thể mua được các đồ vật theo cách b́nh thường nhưng y không cần phải làm như vậy bởi v́ việc ăn uống, quần áo và chỗ ở đều được bao cấp và không có lợi ích đặc biệt nào trong việc sở hữu riêng tư các đồ vật khác.

Một thành thị giống như công viên

 

Mặc dù trong cộng đồng này, biết bao nhiêu người tụ tập lại thành ra một thành thị trung tâm và những trung khu phụ thuộc khác nhưng điều đó không gây ra sự chen chúc. Bây giờ không có thứ ǵ tuyệt nhiên tồn tại giống như điều ta thường ngụ ư là khu trung tâm của một thành thị trong các thế kỷ trước. Trung tâm của thành thị lớn trung tâm là nhà thờ chính với khối phụ thuộc là viện bảo tàng, trường đại học và thư viện. Những thứ này có lẽ hơi giống như các dinh thự ṭa nhà Quốc hội và Thư viện Quốc hội ở Washington mặc dù có qui mô c̣n lớn hơn nữa. Cũng như trong trường hợp ấy, xung quanh nó có một công viên lớn. Trọn cả thành thị và ngay cả toàn thể cộng đồng đều tồn tại trong một công viên; công viên rải rác vô số ṿi nước, pho tượng và hoa. Một trong những đặc điểm nổi bật là đâu đâu cũng có dồi dào nước đáng chú ư. Khắp nơi người ta đều thấy có ṿi nước lộng lẫy phun nước ra như các ṿi nước ở Cung điện Pha lê (Crystil Palace) thời xưa. Trong nhiều trường hợp, người ta thích thú khi nhận ra những bản sao chính xác các thắng cảnh quen thuộc thời xưa, chẳng hạn như một ṿi nước bắt chước giống hệt như Fontana di Trevi ở Roma. Đường xá tuyệt nhiên không phải là đường phố theo nghĩa cũ của từ ngữ này mà giống như vào lối đi riêng xuyên qua công viên, nhà cửa bao giờ cũng ở khuất nẽo phía sau lưng đường đi. Người ta không được phép xây nhà cách quăng nhau ít hơn một khoảng cách tối thiểu nào đó.

Thực tế không có bụi và không có phu quét đường. Đường sá liền thành một dăy chứ không chia thành khối (v́ bây giờ không có ngựa phi trên đó). Mặt đường là đá được đánh bóng rất đẹp, bề mặt giống như đá cẩm thạch, thế nhưng có vỏ lấm tấm hạt hơi giống đá hoa cương. Đường sá rộng răi, hai bên vệ đường có những đá lót vệ đường, hoặc nói cho rơ hơn th́ đường hơi ch́m xuống dưới mức cỏ mọc ở mỗi bên c̣n đá lát vệ đường nhô lên trên mức cỏ mọc. Như vậy toàn cảnh giống như một loại kênh dẫn nông làm bằng đá cẩm thạch nhẵn bóng, sáng nào cũng có nước chảy tràn trề sao cho nhờ vậy đường sá được sạch (nh́n bóng y như lau) không cần có đạo quân quét dọn thông thường. Đá lát đường có đủ mọi màu sắc. Hầu hết những đường phố lớn có màu hồng lợt dễ thương nhưng một số đường phố được lát bằng đá màu xanh lục lợt.     

Như vậy thật ra chẳng có ǵ ngoại trừ cỏ và đá nhẵn bóng để cho thiên hạ bước trên đó; điều này giải thích sự kiện người ta có thể luôn luôn đi chân trần (đất) chẳng những không lấy làm bất tiện mà c̣n thoải mái hết mức. Ngay cả sau khi đi bộ một cuốc rất lâu th́ chân cũng chẳng lấm lem làm mấy; thế nhưng ở trước cửa mỗi nhà hoặc cuối nhà máy đều có một chỗ trũng trong đá lát – một loại cái máng nông luôn luôn có nước mát chảy ngang qua. Trước khi bước vào nhà, người ta bước vào cái máng ấy, thế là chân họ ngay tức khắc được rửa sạch và lại mát mẻ nữa. Mọi Đền thờ xung quanh đều có một ḍng nước cạn chảy ngang qua sao cho mỗi người trước khi vào Đền thờ đều phải bước vào ḍng nước ấy. Dường như mỗi bậc thềm dẫn lên Đền thờ đều là một loại máng nước cạn sao cho không ai mang vào Đền thờ ngay cả chỉ một hạt bụi.

Việc di chuyển

 

Mọi cách bổ trợ giống như công viên này và khoảng không giữa các căn nhà khiến cho thủ đô của cộng đồng chủ yếu là một “thành thị cách quăng huy hoàng”. Tuy nhiên điều này không gây ra sự bất tiện nhỏ nhất nào trong thực tiễn v́ mọi căn nhà đều có nhiều cái xe nhỏ chạy được với dáng vẻ rất thanh nhă. Chúng tuyệt nhiên không giống như bất kỳ loại xe hơi nào mà trông khá giống những cái ghế để ngồi tắm được làm bằng loại kim khí mảnh như tơ nhện có lẽ bằng nhôm với những bánh xe bằng một chất vô cùng đàn hồi mặc dù xét theo biểu kiến th́ không phải bôm hơi nén. Chúng chạy hoàn toàn suôn sẻ và có thể đạt tốc độ cao nhưng nhẹ đến nỗi cái xe cở lớn nhất cũng có thể dễ dàng dùng một ngón tay để đẩy. Chúng chạy bằng năng lượng vũ trụ; một người muốn khởi sự đi du hành th́ tích năng lượng từ cái ổ cắm năng lượng vào một cái hộp dẹp và nông gắn gọn ở phía dưới ghế ngồi trên xe. Điều này cung cấp cho y đủ năng lượng để chạy khắp cộng đồng mà không cần nạp năng lượng trở lại và nếu y muốn nhiều hơn thế th́ y chỉ việc gọi điện sang nhà gần nhất và xin phép được gắn b́nh ắc quy của ḿnh vào hộp cắm năng lượng trong một lúc. Những cái xe nhỏ này được dùng vĩnh viễn, chúng quả thật là những phương tiện di chuyển thông thường và mặt đường đẹp đẽ nhẵn bóng hơi lơm xuống một chút dường như hoàn toàn dành cho xe đó chạy, bởi v́ hầu hết khách bộ hành đi dọc theo những lối đi nhỏ lẫn vào trong đám cỏ. Có ít phương tiện vận tải nặng: không có xe cồng kềnh và to xác. Bất cứ một lượng hàng hóa hoặc vật liệu to lớn nào đều được chuyên chở bằng một số những xe nhỏ và ngay cả những cái dầm lớn cũng như những cái xà cái đều được tựa trên một số xe lăn nhỏ để phân bổ tải trọng dàn trải ra. Người ta quan sát thấy máy bay rất thông dụng ở thế giới ngoài cộng đ̣ng nhưng nó lại không hợp thời ở trong cộng đồng bởi v́ các thành viên cộng đồng cảm thấy rằng ḿnh có thể di chuyển tự do trong thể vía, v́ vậy coi thường những phương tiện di chuyển trên không. Ngay ở nhà trường, thiên hạ đă được dạy cách sử dụng tâm thức trong cơi trung giới và có một lớp học chính qui dạy cách xuất vía.

Vệ sinh và dẫn nước tưới

 

Không có chuyện rắc rối nào liên quan tới phép vệ sinh. Phương pháp chuyển hóa theo hóa học đă được ta đề cập cách đây một lúc bao gồm việc khử mùi hôi và khí thải ra tuyệt nhiên không độc hại. Chúng dường như chủ yếu là carbon, nitơ và một số clor, nhưng không có khí carbonic. Khí thải được dẫn qua nước chứa một dung dịch nào đó v́ nó có vị axit nồng nặc. Mọi khí thải đều hoàn toàn vô hại và chất bột màu xám cũng thế, chỉ có một ít chất bột màu xám thôi. Ngay cả ở thế giới ngoài cộng đồng th́ luật pháp giờ đây qui định chống mọi loại mùi hôi. Không có cái mà ta gọi là khu phố đặc biệt để kinh doanh trong thị trấn mặc dù một vài nhà máy được xây dựng tương đối gần kề nhau để tiện trao đổi sản phẩm. Tuy nhiên có ít sự khác biệt giữa nhà máy và tư gia đến nỗi thật khó phân biệt được chúng với nhau và v́ nhà máy không gây ra tiếng ồn hoặc mùi hôi cho nên nhà bên cạnh cũng tuyệt nhiên không phản đối.

Khí hậu rất có lợi cho mọi người. Thật ra không có mùa đông và mùa tương ứng với mùa đông th́ trọn cả đất này vẫn c̣n phủ đầy hoa cũng giống như những mùa khác. Người ta dẫn nước tưới ngay cả khi không trồng trọt, trong một số trường hợp hệ thống tưới nước được mở rộng bao trùm những cánh đồi, những khu rừng và trọn cả cộng đồng, ngay cả khi không trực tiếp canh tác. Người ta đă chuyên môn trồng cây hoa kim anh vốn đă rất thông dụng ở California ngay cả cách đây nhiều thế kỷ; người ta đă phát triển nhiều loại hoa kim anh màu đỏ tía cũng như màu cam sáng sủa, người ta trồng chúng ở nhiều nơi và để cho chúng mọc hoang. Hiển nhiên là thoạt đầu người ta phải nhập khẩu đủ thứ hạt giống từ khắp nơi trên thế giới. Đôi khi thiên hạ trồng trong vườn những cây mà mùa đông cần có thêm nhiệt, nhưng người ta không để chúng vào trong nhà kính mà bao quanh cây trồng bằng những ḍng phun nhỏ năng lượng dưới dạng nhiệt. Những cây ấy chưa cần được xây dựng ở bất cứ nơi đâu gần đường biên giới của cộng đồng và phía bên kia biên giới cách xa một quăng cũng không có bất cứ thị trấn hoặc làng mạc nào. Toàn thể khu đất này là một trang trại khổng lồ trước khi được người ta mua sắm và vây quanh nó chủ yếu là những trang trại khác nhỏ hơn. Luật lệ của thế giới ngoài cộng đồng không làm xáo trộn hoặc ảnh hưởng tới cộng đồng và chính quyền trên lục địa tuyệt nhiên không can thiệp vào cộng đồng bởi v́ hằng năm nó nhận được một số cống vật danh nghĩa của cộng đồng. Dân cư cộng đồng biết rất rơ về thế giới bên ngoài, ngay cả học sinh cũng biết nơi chốn và tên gọi của mọi đô thị lớn chính yếu trên thế giới.


 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS