Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS

CHƯƠNG   XIII

Hai nền văn minh Atlantis

Dân Turanie, Cổ Chaldea năm 19.000 trước Công nguyên.


Hai nền văn minh Atlantis

Dân Turanie, Cổ Chaldea năm 19.000 trước Công nguyên.

 

Một nền văn minh cổ khác làm chúng tôi chú ư theo cách của riêng nó hàu như cũng chẳng kém ǵ nền văn minh Peru, đó là nền văn minh phat khởi ở vùng châu Á mà sau này ta gọi là Babylon hay Chaldea. Có một điều kỳ diệu mà 2 Đế quốc lớn này thời xưa lại giống nhau, đó là một trong thời kỳ suy đồi nhiều thập kỷ sau này so với thời oanh liệt lúc mà ta nghiên cứu chúng thuân lợi nhất, mỗi một Đế quốc đều bị chinh phục bởi đám dân thấp hơn ḿnh nhiều về qui mô văn minh; tuy nhiên họ lại ra sức chọn theo càng nhiều càng tốt những phong tục, về mặt dân sự và tôn giáo của giống dân cổ hủ mà họ đă khống chế được. Cúng giống như xứ Peru mà Pizarro khám phá ra được về hầu hết mọi phương diện đều chỉ là một bản sao nhợt nhạt của Peru cổ xưa hơn mà chúng tôi đă cố gắng miêu tả; cũng vậy xứ Babylon mà người nghiên cứu khảo cổ học biết tới th́ xét về nhiều phương diện là một loại phản ánh suy đồi của một Đế quốc xưa hơn và lớn hơn.

Xét về nhiều mặt nhưng có lẽ không phải là mọi mặt. Có thể là khi đạt tột đỉnh vinh quang, vương quốc sau này có thể vượt qua tiền bối của ḿnh về sức mạnh quân sự, về qui mô lănh thổ hoặc về nền thương mại; nhưng xét về việc sống đơn giản, việc nhiệt thành sùng tín đối với những giáo điều của tôn giáo đáng chú ư mà họ theo đuổi và thực sự biết được những sự kiện trong thiên nhiên th́ giống dân thời xưa hầu như chắc chắn là ưu việt hơn. 

Có lẽ ít có sự tương phản nào lớn lao hơn giữa hai xứ sở mà chúng tôi đang xét là Peru và Babylon. Ở Peru, hệ thống chính quyền rất đáng chú ư là đặc điểm nổi bật, c̣n tôn giáo tạo thành một bộ phận tương đối nhỏ của sinh hoạt trong nhân dân – thật vậy chức năng trong chính quyền của các tu sĩ là giáo dục, y tế, nhân viên trong hệ thống vĩ đại cấp dưỡng cho người già, đă lồ lộ ra ngay trước mắt của kẻ biết suy nghĩ lấn áp hẳn công việc đôi khi mới có một lần của họ là ca ngợi hoặc rao giảng liên quan tới với việc phụng tự trong đền thờ. Mặt khác, ở Chaldea hệ thống chính quyền tuyệt nhiên không ngoại lệ, tác nhân chính trong đời sống ở đó chủ yếu là tôn giáo, v́ không có công tŕnh thuộc bất cứ loại nào được khởi sự mà không đặc biệt đề cập tới nó. Thật vậy tôn giáo của nhân dân thấm nhuần và khống chế sinh hoạt của họ tới mức độ chỉ giai cấp Bà la môn ở Ấn độ mới sánh kịp.

Ta nên nhớ rằng trong đám người Peru th́ tục thờ cúng tôn giáo chẳng qua chỉ là một h́nh thức tôn thờ Mặt trời cực kỳ hay ho hoặc nói cho đúng hơn là tôn thờ Tinh thần Mặt trời; các giáo điều của nó chẳng có bao nhiêu và rơ ràng, c̣n đặc trưng chủ yếu của nó là tinh thần hoan hỉ thấm nhuần tất cả. Ở Chaldea, đức tin vốn nghiêm túc hơn và thần bí hơn, nghi lễ phức tạp hơn nhiều. Ở đó người ta chẳng những tôn thờ Mặt trời mà c̣n tôn thờ Đội binh Thiên giới; tôn giáo ở đây quả thật là một hệ thống thờ cúng hết sức cầu kỳ đối với các Tinh quân vĩ đại, bao gồm trong đó có một qui tắc thực hành về đời sống hàng ngày là một hệ thống Chiêm tinh học bao quát và được triển khai kỹ lưỡng.

Hiện nay ta hăy tạm thời tŕ hoản việc mô tả những đền thờ nguy nga của họ cùng với nghi thức lộng lẫy mà trước hết chỉ xem xét mối quan hệ của tôn giáo kỳ lạ này với sinh hoạt của nhân dân. Muốn hiểu được tác dụng của nó, ta phải cố gắng t́m hiểu quan điểm của họ về Chiêm tinh học; và tôi nghĩ rằng chúng ta ắt thấy nó xét chung là một quan điểm rơ rệt mang tính lương tri – quan điểm có thể được những bậc thầy về nghệ thuật ấy thời nay chọn theo một cách rất có lợi.

Dĩ nhiên bất cứ vị tu sĩ hoặc thầy giáo nào đều chưa bao giờ chủ trương ư tưởng cho rằng bản thân các hành tinh vật lư có ảnh hưởng ǵ tới những sự việc của con người; thậm chí theo chỗ chúng tôi biết th́ ngay cả những người dốt nát nhất trong đám thường dân vào thời kỳ ban sơ mà hiện nay chúng tôi nói tới cũng không nghĩ như vậy. Lư thuyết dành cho các tu sĩ là một thuyết toán học hết sức cầu kỳ, có lẽ được truyền thừa lại cho họ qua một truyền thống liên tục từ các bậc thầy thời sơ khai vốn có kiến thức trực tiếp ngay tức khắc về những sự kiện vĩ đại trong thiên nhiên. Ư tưởng chung về hệ thống của họ cũng không khó hiểu lắm, nhưng dường như trong không gian ba chiều của ta không thể xây dựng được một h́nh vẽ toán học nào thỏa măn được những yêu cầu trong giả thuyết của họ về mọi chi tiết – ít ra theo kiến thức mà chúng tôi có được hiện nay. 

Thế là toàn thể Thái dương hệ với mọi thứ phức tạp trong đó đều chỉ được coi là một Thực thể vĩ dại, c̣n các bộ phận của nó là những biểu hiện riêng phần của Ngài. Mỗi thành phần cấu tạo vật lư của nó – mặt trời cùng với vành nhật hoa rực rỡ, mọi hành tinh cùng với các vệ tinh, đại dương, bầu khí quyển và đủ thứ chất ether vây quanh chúng – mọi thứ này xét chung hợp thành thể xác của Ngài tức là biểu hiện của Ngài trên cơi trần. Cũng giống như vậy, tập thể các cơi trung giới (chẳng những là cơi trung giới thuộc về các hành tinh vật lư, mà c̣n là các bầu hành tinh thuần túy bằng chất trung giới của tất cả hành tinh trong thái dương hệ; (chẳng hạn như các hành tinh B và F trong các dăy hành tinh trái đất) tạo thành thể vía của Ngài; c̣n tập thể các thế giới trên cơi trí tuệ tạo thành thể trí của Ngài, tức hiện thể mà Ngài dùng để biểu lộ trên cơi đặc thù ấy.

Cho đến đây th́ ư tưởng thật là rơ ràng và tương ứng khắng khít với điều mà chính chúng tôi đă được giảng dạy về Đức Thượng Đế vĩ đại của Thái dương hệ chúng ta .[[1]]

Bây giờ ta hăy giả sử rằng trong cơ thể của Ngài ở nhiều mức khác nhau có các lớp hoặc loại h́nh vật chất khác nhau được phân phối đều trên khắp Thái dương hệ. Các loại h́nh này tuyệt nhiên không tương ứng với việc ta phân chia một cơi ra thành các cảnh – việc phân chia này được thực hiện theo mức độ trọng trược của vật chất sao cho trên cơi trần chẳng hạn ta có các trạng thái vật chất ở thể đặc, thể lỏng, thể hơi và dạng dĩ thái. Trái lại việc phân chia nêu trên cấu thành một loạt những sự phân chia chéo khác hẳn, mỗi phần phân chia chéo bao gồm vật chất thuộc đủ mọi trạng thái vật chất khác nhau sao cho nếu ta biểu thị đủ thứ loại h́nh này bằng những con số th́ ta ắt có vật chất thể đặc, thể lỏng và thể hơi thuộc loại vật chất thể đặc, thể lỏng, thể hơi thuộc loại hai, cứ thế mà tiếp diễn.

Trường hợp này xảy ra ở mọi mức, nhưng để cho rơ ràng hiện nay ta hăy hạn chế tư tưởng của ḿnh vào chỉ một mức thôi. Có lẽ ta dễ dàng lĩnh hội được ư tưởng nhất khi xét về cơi trung giới. Người ta thường giải thích rằng trong thể vía của một người đều có vật chất thuộc về mỗi một trong các cảnh trung giới và tỉ lệ giữa các loại thô và loại tinh cho thấy thể vía có thể đáp ứng được bao nhiêu với những ham muốn thô trược hoặc thanh bai và như vậy trong một chừng mực nào đó mức độ mà người này tiến hóa được ắt biểu thị như thế. Tương tự như vậy trong mỗi thể vía th́ vật chất cũng có những loại phân chia chéo, và trong trường hợp này tỉ lệ giữa những loại phân chia chéo ấy biểu thị bẩm tính của con người liệu y dễ bị kích động hay thanh thản, hâm hở hay điềm đạm kiên nhẫn hay sốt ruột v.v… 

Thế mà thuyết của Chaldea cho rằng mỗi một loại h́nh vật chất trong thể vía của Thái dương Thượng Đế - đặc biệt là khối lượng tinh hoa ngũ hành hoạt động thông qua loại h́nh ấy đều có những ái lực riêng biệt đối với một hiện thể riêng biệt – hầu như là một thực thể riêng biệt – trong một chừng mực nào đó có thể rung động theo ảnh hưởng mà có lẽ những loại h́nh khác không đáp ứng. Các loại h́nh này khác nhau bởi v́ vật chất cấu tạo nên chúng nguyên thủy phát xuất qua các trung tâm lực khác nhau của Thái dương Thượng Đế và vật chất thuộc mỗi loại h́nh này vẫn c̣n đồng cảm khắng khít với trung tâm lực có dính dáng tới nó sao cho sự biến đổi nhỏ nhất thuộc bất cứ loại nào trong t́nh huống của trung tâm lực ấy sẽ được phản ứng ngay tức khắc dưới một dạng nào đó qua mọi vật chất thuộc loại h́nh tương ứng.

V́ mọi người đều có nơi bản thân vật chất thuộc đủ mọi loại h́nh cho nên rơ rệt là bất cứ sự biến thái nào hoặc tác động nào của bất kỳ trung tâm lực nào cũng đều ảnh hưởng tới mọi sinh linh trong Thái dương hệ ở một mức độ nào đó; và tầm mức mà bất cứ người đặc thù nào chịu ảnh hưởng vốn tỉ lệ với h́nh vật chất mà y chịu ảnh hưởng vốn có sẵn trong thể vía của y. Điều này có nghĩa là chúng ta có nhiều loại h́nh người cũng như nhiều loại h́nh vật chất và bởi v́ chúng được cấu tạo để hợp thành thể vía của con người cho nên một số chịu ảnh hưởng thuộc loại này nhiều hơn, c̣n một số chịu ảnh hưởng loại khác nhiều hơn.

Khi xem xét từ một cơi cao cấp đúng mức th́ ta thấy toàn thể Thái dương hệ bao gồm các trung tâm lực lớn này, xung quanh mỗi trung tâm lực là một phạm vi ảnh hưởng bao la, biểu thị giới hạn mà thần lực tuôn đổ qua trung tâm lực đặc biệt tác động trong giới hạn ấy. Mỗi một trung tâm lực này có một loại thay đổi trật tự định kỳ hoặc chuyển động của riêng ḿnh, có lẽ trên một cơi nào đó vô cùng cao th́ nó tương ứng với nhịp đập đều đặn của quả tim vật thể của con người. Nhưng bởi v́ một số sự thay đổi định kỳ này nhanh hơn hẳn những sự thay đổi khác, cho nên nó tạo ra một loạt những tác dụng kỳ diệu và phức tạp; ta đă quan sát thấy rằng chuyển động của các hành tinh vật lư tương quan với nhau ắt cung ứng được manh mối cho sự bố trí các phạm vi ảnh hưởng này vào bất cứ một thời điểm cho sẵn nào. Ở Chaldea người ta chủ trương rằng khi bầu tinh vân cháy đỏ nguyên thủy dần dần ngưng tụ lại để cho Thái dương hệ h́nh thành ra từ đó th́ vị trí của các hành tinh vật lư được xác lập do sự tạo thành các xoáy lực ở một vài giao điểm của các phạm vi ảnh hưởng này đối với nhau cũng như đối với một cơi cho sẵn.

Các ảnh hưởng này thuộc về những phạm vi ấy khác hẳn nhau về tính chất và đó là cách thức khiến cho sự khác nhau này biểu lộ tác động xuyên qua tinh linh ngũ hành nơi con người cũng như xung quanh con người. Ta nên nhớ rằng ảnh hưởng này được giả định là tác động trên mọi cơi chứ không phải chỉ trên cơi trung giới, mặc dù vừa mới đây thôi để cho được đơn giản. Chúng ta đă hạn chế việc chú ư vào cơi ấy. Ảnh hưởng có thể và ắt hẳn phải có những đường lối tác động khác quan trọng hơn mà hiện nay chúng ta không rơ; nhưng ít ra th́ điều này cũng buộc người quan sát phải lưu ư là mỗi phạm vi ảnh hưởng gây tác động đặc biệt lên đủ thứ tinh hoa ngũ hành.

Chẳng hạn như một ảnh hưởng kích thích mạnh mẽ hoạt động và sức sống của các loại tinh hoa ngũ hành vốn đặc biệt thuộc về trung tâm lực mà nó thoát thai từ đó trong khi xét theo biểu kiến lại kiểm soát và khống chế các loại tinh linh ngũ hành khác, ảnh hưởng của một phạm vi khác vốn mạnh mẽ đối với một loại tinh hoa ngũ hành khác thuộc về trung tâm lực ấy, trong khi xét theo biểu kiến lại tuyệt nhiên không ảnh hưởng tới các tinh hoa ngũ hành nêu ở ví dụ trước. Có đủ loại tổ hợp và hoán vị thuộc các ảnh hưởng này, trong một số trường hợp tác động của ảnh hưởng được tăng cường rất nhiều, c̣n trong những trường hợp khác hầu như lại bị hóa giải cho sự có mặt của một ảnh hưởng khác.

Ở đây tất nhiên ta sẽ thắc mắc chẳng biết các tu sĩ Chaldea có tin vào thuyết số mệnh hay chăng: sau khi đă khám phá ra và tính toán được tác dụng chính xác của những ảnh hưởng này đối với đủ thứ loại người th́ chẳng biết họ có tin hay chăng việc những kết quả này là không thể tránh khỏi và ư chí của con người cũng bất lực không chống lại được. Đối với thắc mắc vừa nêu th́ lời giải đáp của họ luôn luôn là nhấn mạnh: ảnh hưởng này tuyệt nhiên chắc hẳn là không có khả năng khống chế được ư chí của con người; trong một số trường hợp chúng có thể làm cho dễ dàng hơn hoặc gây khó khăn hơn đối với ư chí đang tác động theo một đường lối nào đó. V́ thể vía và thể trí của con người hầu hết đều bao gồm loại vật chất linh hoạt được cấp sinh lực mà hiện nay ta gọi là tinh hoa ngũ hành, cho nên bất kỳ sự kích động bất thường nào của bất cứ lớp tinh hoa ngũ hành nào hoặc là một sự gia tăng đột ngột hoạt động của nó chắc chẳng phải ảnh hưởng trong một chừng mực nào đó tới xúc động và trí tuệ của y hoặc là cả hai; và cũng hiển nhiên là những ảnh hưởng này phải tác động lên những người khác nhau không giống như nhau bởi v́ tinh hoa ngũ hành cấu tạo nên các hạ thể của họ theo những tỉ lệ không giống nhau.  

Nhưng ta có thể đoán chắc rằng trong bất kỳ trường hợp nào th́ con người cũng không thể bị chúng lôi cuốn vào bất cứ đường lối hoạt động nào nếu ư chí của y không phê chuẩn, mặc dù rơ ràng y có thể bị chúng ngăn cản hoặc được chúng trợ giúp trong bất cứ nỗ lực nào mà y có cơ hội thành đạt. Các tu sĩ dạy rằng những người thật sự dũng mănh hầu như chẳng quan tâm bao nhiêu tới ảnh hưởng xảy ra cho ḿnh đối với cung mệnh, nhưng đối với người thường th́ tốt hơn nên biết lúc nào th́ lực này hay lực nọ có thể được ứng dụng thuận lợi nhất.

Họ giải thích cặn kẽ rằng giống như bất kỳ lực nào khác trong thiên nhiên (mà hiện nay ta có thể nói tới, chẳng hạn như điện hoặc bất cứ lực thiên nhiên nào khác), tự thân những ảnh hưởng ấy chẳng tốt mà cũng chẳng xấu, chúng có thể trợ giúp hoặc gây hại tùy theo cách sử dụng của con người đối với chúng. Cũng giống như chúng ta có thể nói rơ khi bầu không khí được tích đầy điện th́ một vài cuộc thí ngiệm dễ thành công hơn, c̣n cũng trong t́nh huống ấy một vài thí nghiệm khác có lẽ sẽ thất bại; cũng vậy các tu sĩ bảo rằng một nỗ lực cần phải vận dụng tới các lực thuộc bản chất trí tuệ hoặc xúc động của ta ắt ít nhiều dễ dàng thành tựu được mục tiêu tùy theo ảnh hưởng đang khống chế vào lúc nỗ lực ấy.

V́ vậy ta nên hiểu rằng các yếu tố này có thể được một con người với quyết tâm sắt đá hoặc một người nghiên cứu Huyền bí học thực sự dẹp qua một bên coi là không đáng kể; tuy nhiên bởi v́ đại đa số loài người vẫn c̣n chấp nhận thân phận bèo dạt mây trôi theo những sức mạnh của ham muốn chứ chưa chịu phát triển bất cứ điều ǵ đáng gọi là ư chí của riêng ḿnh, cho nên cũng đúng thôi khi sự yếu đuối của họ khiến cho các các ảnh hưởng này đóng một vai tṛ quan trọng đến nỗi tự thân họ không tự quyết được.

Sự kiện một ảnh hưởng đặc biệt vào vốn đang tác động không bao giờ khiến cho một biến cố tất nhiên phải xảy ra, nhưng nó khiến cho biến cố ấy có nhiều khả năng xảy ra. Chẳng hạn như nhờ vào cái mà Chiêm tinh học hiện đại gọi là ảnh hưởng của Hỏa tinh th́ một số rung động trong tinh hoa ngũ hành của thể vía bèn được xác lập với khuynh hướng điều động sự đam mê. Như vậy ta có thể an toàn tiên đoán rằng một người bản chất có khuynh hướng đam mê và dâm dục, đến khi ảnh hưởng ấy khống chế rơ rệt tác động của y th́ rất có thể y sẽ phạm phải một tội ác nào đó liên quan tới sự đam mê hoặc dâm dục; tuyệt nhiên không phải là y bắt buộc phải gây ra tội ác ấy, nhưng có điều là một t́nh huống đă xuất hiện khiến cho y khó ḷng duy tŕ được sự thăng bằng của ḿnh. Đó là v́ tác động này ảnh hưởng tới y theo cả hai mặt nội công ngoại kích.Chẳng những tinh hoa ngũ hành bên trong thể vía của y bị kích động hoạt động mạnh mẽ hơn mà loại vật chất tương ứng ở nơi cơi trung giới bên ngoài cũng gia tăng hoạt động nhanh hơn để rồi phản tác động lên y.

Người ta thường nêu ra một ví dụ là có một loại ảnh hưởng nào đó đôi khi gây ra t́nh huống sự việc trong đó mọi dạng kích động thần kinh đều được tăng cường ghê gớm, hậu quả nói chung là gây ra một ư thức nhốn nháo lan tràn. Trong t́nh huống ấy, những cuộc căi cọ bùng nỗ dễ dàng hơn lúc b́nh thường, ngay cả với những cái cớ lặt vặt nhất và đại đa số mọi người luôn luôn hầu như mất b́nh tĩnh không c̣n tự chủ nổi nữa ngay cả đối với một sự khiêu khích kém b́nh thường.

Đôi khi nghe đâu có xảy ra những ảnh hưởng như thế tác động lên mối bất măn âm ỉ với sự ganh tị ngấm ngầm, có thể được thổi bùng cháy lên thành một cơn điên dại của quần chúng rồi từ đó lan tràn ra như dịch bệnh. Hiển nhiên là lời cảnh báo đưa ra cách đấy hàng ngàn năm cho đến nay vẫn c̣n được nghiệm đúng; chính theo kiểu đó mà dân Paris năm 1870 đă bị kích động tràn ra đường phố ḥ hét “Bá linh!” và cũng chính v́ thế mà biết bao nhiêu lần những tiếng gào thét ma quỉ “Din ! din !” đă dễ dàng kích động được sự cuồng tín điên dại của đám đông người Hồi giáo kém văn minh.

V́ vậy khoa Chiêm tinh học của các tu sĩ Chaldea chủ yếu tập trung vào sự tính toán vị trí và tác động của các phạm vi ảnh hưởng sao cho chức năng chính của nó chủ yếu là tạo thành một qui tắc sinh hoạt chứ không phải để tiên đoán tương lai hoặc ít ra nếu có tiên đoán th́ chỉ nói khuynh hướng chứ không nhắc tới những diễn biến đặc biệt; trong khi đó khoa Chiêm tinh học thời nay dường như chủ yếu đi theo đường lối tiên tri các diễn biến đặc biệt.

Tuy nhiên người Chaldea chắc chắn là đúng khi khẳng định rằng quyền năng của ư chí con người thay đổi số phận của ḿnh được thể hiện qua nghiệp của y. Nghiệp có thể đưa y vào một môi trường xung quanh nào đó hoặc khiến y chịu một ảnh hưởng nào đó, nhưng nó không bao giờ có thể buộc y phạm phải một tội ác nào đó, mặc dù nó có thể thử thách y đến nỗi y cần phải quyết tâm sắt đá mới tránh được tội ác ấy. V́ vậy chúng tôi thấy dường như có khi khoa Chiêm tinh học có thể cảnh báo được con người v́ những t́nh huống mà vào một lúc nào đó y nên t́m cách an trú nơi ấy, nhưng bất cứ lời tiên tri nào về hành động của y trong t́nh huống ấy th́ xét về mặt lư thuyết chỉ mang tính xác suất thôi cho dù chúng tôi thừa biết rằng xác suất ấy hầu như là chắc chắn trong trường hợp kẻ phàm phu lang thang trên đường phố.

Những tính toán của các tu sĩ thời xưa này giúp cho họ mỗi năm có thể lập ra được một loại niên lịch chính thức nào đó khiến cho nói chung chi phối được trọn cả sinh hoạt của dân chúng. Họ quyết định lúc nào là thời điểm tối ưu để mọi việc nhà nông có thể được tiến hành an toàn nhất, họ tuyên bố lúc nào thích hợp để dàn xếp phải chọn giống cho thú vật và cây cối. Họ là thầy thuốc cũng như thầy giáo đối với nhân dân và họ biết chính xác đủ thứ loại thuốc men của họ có thể được uống hữu hiệu nhất trong những bối cảnh ảnh hưởng nào.

Họ chia tín đồ ra thành từng lớp, gán cho mỗi tín đồ cái mà nay ta gọi là tinh quân của y để rồi trong niên lịch có đầy những lời cảnh báo đối với những lớp người khác nhau chẳng hạn như: “Vào ngày thứ bảy th́ những người nào thờ Hỏa tinh nên đặc biệt cảnh giác coi chừng sẽ cáu kỉnh vô cớ”; hoặc là: “Từ ngày thứ 12 tới 15 có nguy cơ bất b́nh thường liều lĩnh về vấn đề liên quan tới t́nh ái, nhất là những kẻ thờ Kim tinh” v.v… Chúng tôi không thể nghi ngờ việc những lời cảnh báo này có ích lợi rất nhiều cho đại khối quần chúng, mặc dù đối với một số người trong chúng ta thời nay th́ sự pḥng ngừa đối với những trường hợp bất ngờ lặt vặt như thế quả là một hệ thống cầu kỳ lạ lùng.

Do việc phân chia người ta đặc biệt như thế ra thành các loại h́nh tùy theo hành tinh được chỉ định là chiếm vị trí trung tâm ảnh hưởng mà họ dễ chịu ảnh hưởng nhất, đă nảy sinh ra một sự bố trí cũng kỳ lạ không kém đối với cả việc phụng tự ở các đền thờ công cộng lẫn  sự sùng tín riêng tư của các tín đồ - một vài giờ trong ngày dùng để cầu nguyện, được điều chỉnh theo chuyển động biểu kiến của mặt trời, th́ ai ai cũng phải tuân theo; lúc mặt trời mọc, giữa trưa và mặt trời lặn th́ các tu sĩ ở đền thờ hát những bài thánh ca hoặc thánh thi, c̣n những người sùng đạo nhiều hơn trong đám quần chúng th́ có mặt đều đặn trong những buổi phụng tự ngắn; trong khi đó những kẻ nào không tiện tham dự vào các nghi lễ ấy có thể tùy ư tuân theo điều đó vào mỗi một trong những giờ này bằng cách chỉ niệm một vài câu mộ đạo ngắn ngủi gồm lời cầu nguyện và tán tụng.

Nhưng ngoài những diều tuân thủ này ra vốn dường như chung cho mọi người, mỗi người lại có những câu cầu nguyện đặc biệt riêng tư để dâng lên Đấng thiêng liêng đặc thù mà ḿnh đă gắn bó từ lúc ra đời; và thời gian thích hợp cho chúng thường xuyên biến thiên theo chuyển động của hành tinh. Lúc nó băng ngang qua đường kinh tuyến dường như được coi là lúc thích hợp nhất, kế đó là lúc một vài phút ngay sau khi nó mọc trên đường chân trời hoặc trước khi nó lặn dưới đường chân trời. Tuy nhiên người ta có thể cầu khấn tới nó và bất cứ lúc nào ở trên đường chân trời; và ngay cả khi ở dưới đường chân trời th́ vị Tinh quân của hành tinh cũng không hoàn toàn ngoài tầm với, mặc dù trong trường hợp này người ta chỉ ngỏ lời với Ngài trong trường hợp hết sức khẩn cấp nào đó và trọn cả nghi thức được sử dụng là khác hẳn.

Những lịch riêng biệt mà các tu sĩ soạn ra để cho những người tôn thờ mỗi một trong các Tinh quân hành tinh này có nhiều chi tiết đặc biệt về giờ thích hợp để cầu nguyện và những câu thơ thích hợp để được ngâm tụng vào mỗi giờ. Điều ta có thể miêu tả là một loại kinh cầu nguyện định kỳ đều được phát hành dành cho mỗi hành tinh và tất cả những ai gắn liền với hành tinh ấy đều cẩn thận tự trang bị những bản sao của kinh ấy. Thật ra những lịch này là một điều ǵ đó c̣n hơn cả mức chỉ nhắc nhở tới giờ cầu nguyện. Chúng được soạn ra trong những t́nh huống tinh tú đặc biệt (mỗi t́nh huống chịu ảnh hưởng của Đấng Tinh quân riêng) và người ta giả sử, chúng có đủ mọi tính chất bùa ngải sao cho người nhiệt thành với bất kỳ hành tinh đặc biệt nào luôn luôn mang theo ḿnh quyển lịch mới nhất. 

Do đó suy ra rằng người mộ đạo thời cổ Chaldea không có giờ cầu nguyện hoặc giờ cúng đều đặn lúc nào cũng vào giờ ấy, hết ngày này sang ngày khác giống như trường hợp hiện nay; nhưng thay v́ vậy, thời giờ tham thiền và phụng tự tôn giáo của y lại linh động, ba hồi xảy ra vào buổi sáng, ba hồi vào buổi trưa, ba hồi vào chiều tối hoặc ngay cả vào lúc nửa đêm. Nhưng khi đến giờ th́ y không được bỏ sót, cho dù giờ giấc này có thể bất tiện cho công việc kinh doanh, vui chơi hoặc sự ngơi nghỉ của y th́ y cũng phải coi đó là một sự khiếm khuyết nghiêm trọng về bổn phận nếu y lờ đi không lợi dụng cơ hội ấy. Theo như chúng tôi biết th́ không có tư tưởng nào trong tâm trí y mà Tinh linh hành tinh lại không cảm thấy bực bội nếu y lơ là giờ cầu nguyện hoặc quả thật Tinh linh hành tinh cỏ thể cảm thấy giận dữ; nói cho đúng hơn th́ vào lúc ấy Tinh quân đang tuôn đổ ra một sự ban phước và chẳng những là điên rồ mà c̣n là bội bạc nếu ta bỏ lở cơ hội được hiến ra một cách tử tế như thế.

Tuy nhiên những điều này chỉ là những sự sùng bái riêng tư của nhân dân; họ c̣n có những nghi lễ công khai lớn lao và tưng bừng nữa. Mỗi một hành tinh đều gán cho ḿnh ít nhất hai lễ hội lớn trong năm, c̣n Mặt trời và Mặt trăng có nhiều lễ hội hơn hẳn. Mỗi Tinh quân hành tinh đều có các đền thờ ở khắp nơi trong xứ sở và có những dịp b́nh thường th́ các tín đồ chỉ cần thường xuyên tới thăm nơi gần nhất; nhưng vào những lễ hội lớn mà chúng ta đang đề cập tới th́ các đám đông khổng lồ tụ tập ở vùng b́nh nguyên sông lớn lân cận thủ đô nơi có một nhóm đền thờ lộng lẫy hoàn toàn độc nhất vô nhị.

Bản thân những dinh thự này cũng đáng chú ư được coi là những ví dụ điển h́nh của một phong cảnh kiến trúc tiền sử; nhưng điều thú vị nhất lại ở nơi sự kiện, sự bố trí chúng rơ rệt được dự tính để biểu diễn sự bài trí của Thái dương hệ; và khi người ta hiểu rơ nguyên tắc bày trí này th́ nó chắc chắn cho thấy những người thiết kế hiểu biết đáng kể về đề tài này, cho đến nay đền thờ lớn nhất và rực rỡ nhất trong tất cả là đền thờ Mặt trời khổng lồ mà bây giờ ta cần miêu tả khá chi tiết hơn. Những đền thờ khác được dựng nên ở những khoảng cách càng ngày càng xa dần chỗ ấy, thoạt nh́n dường như được xây dựng chỉ theo sự thuận tiện chứ không theo trật tự kế hoạch nào.

Tuy nhiên việc xét kỹ cho ta thấy rằng có một kế hoạch và là một kế hoạch đáng chú ư – chẳng những khoảng cách tăng dần của những đền thờ nhỏ này so với đền thờ chính có một tỉ lệ nhất định và một ư nghĩ nhất định mà ngay cả kích thước tương đối của một vài bộ phận quan trọng trong  đền thờ đều không phải là ngẫu nhiên v́ chúng lần lượt tiêu biểu cho kích thước của các hành tinh và khoảng cách từ chúng tới mặt trời. Thế mà đối với bất cứ ai biết chút ít điều ǵ về thiên văn học cũng đều thấy rơ rằng việc toan tính xây dựng một mô h́nh Thái dương hệ theo thang bậc đó trong các đền thờ ắt bị tiền định là thất bại – nghĩa là nếu các đền thờ phải được dùng để cho việc thờ cúng b́nh thường. Sự khác nhau về kích thước giữa Mặt trời và các thành viên nhỏ hơn trong gia đ́nh thật là bao la và khoảng cách giữa chúng cũng thật là vĩ đại cho đến nỗi nếu các dinh thự không được làm theo kiểu chỉ là nhà búp bê th́ ta thấy không một xứ sở nào đủ diện tích để bao gồm toàn Thái dương hệ.

Vậy th́ làm thế nào mà các vị Thánh triết Chaldea vốn thiết kế nhóm đền thờ kỳ diệu này lại phấn đấu để khắc phục những khó khắn ấy? Chính xác cũng như những nhà minh họa trong các sách hiện nay về Thiên văn học – bằng cách dùng hai thang đo khác hẳn nhau nhưng giữ cho tỉ lệ tương đối ăn khớp với nét phác họa của mỗi bên. Trong ṭa nhà kỳ diệu này không có điều ǵ với những tài khéo thời xưa chứng tỏ cho ta biết rằng người thiết kế biết được kích thước tuyệt đối và khoảng cách của các hành tinh, mặc dù dĩ nhiên y có thể làm như vậy; điều này là chắc chắn v́ y hoàn toàn quen thuộc với những kích thước và khoảng cách tương đối của chúng. Y hoặc là được dạy, hoặc là tự ḿnh khám phá ra Định luật Bode, làm thế nào mà kiến thức của y về những dinh thự ấy càng ngày càng được bổ sung th́ chúng ta chỉ biết phỏng đoán, ngoại trừ việc y chắc chắn phải có một thông tin nào đó về biên độ của các hành tinh, mặc dù tính toán của y về những điều này khác với điều nay được chấp nhận ở một số phương diện nào đó.

Những bàn thờ dành cho các hành tinh nội giới tạo thành một loại cụm dinh thự không đều vốn dường như rất gần bên dưới những bức vách của Đền thờ Mặt trời vĩ đại trong khi đền thờ của các thành viên khổng lồ nơi ngoại vi thuộc gia đ́nh Thái dương hệ lại rải rác cách quăng càng ngày càng lớn ở vùng b́nh nguyên cho đến khi đại biểu của Hải vương tinh xa tít mù hầu như khuất dạng ở xa xa. Những dinh thự này khác nhau về mặt thiết kế và ta hầu như chắc chắn rằng mọi sự biến thiên đều có ư nghĩa đặc biệt cho dầu trong nhiều trường hợp chúng tôi không thể phân biệt được. Tuy nhiên có một đặc điểm mà tất cả đều chia xẻ; mỗi đền thờ đều có một mái ṿm trung ương h́nh bán cầu mà hiển nhiên được dự định để có một quan hệ đặc biệt với tinh cầu mà nó tiêu biểu.

Mọi bán cầu này đều được sơn phết rực rỡ, mỗi bán cầu có màu sắc mà truyền thống Chaldea gắn liền với hành tinh đặc biệt của nó. Chúng tôi không rơ lắm với nguyên tắc chọn lựa màu sắc này, nhưng sau này chúng tôi sẽ trở lại vấn đề ấy khi chúng tôi khảo sát việc phụng tự trong những lễ hội lớn. Các mái ṿm này tuyệt nhiên không có cùng tỉ lệ với kích thước của các đền thờ riêng biệt, nhưng khi so sánh với nhau th́ chúng tỏ ra tương ứng mật thiệt với kích thước của những hành tinh mà chúng tiêu biểu. Đối với Thủy tinh, Kim tinh, Mặt trăng và Hỏa tinh th́ số đo của người Chaldea về kích thước tương đối của chúng tương ứng chính xác với số đo của ta; nhưng Mộc tinh, Thổ tinh, Thiên vương tinh và Hải vương tinh mặc dù vô cùng lớn hơn nhóm bên trong song dứt khoát nhỏ hơn kích thước mặc định nếu chúng được kiến tạo theo cùng một thang đo mà chúng ta đă tính toán theo đó.

Điều này có thể là do người ta dùng một tiêu chuẩn khác đối với các bầu hành tinh khổng lồ, nhưng chúng tôi thấy rất có thể là tỉ lệ của người Chaldea lại chính xác, c̣n tỉ lệ trong khoa thiên văn học hiện đại đă đánh giá quá lớn kích thước của các hành tinh ngoài ŕa măi đến nay th́ người ta mới xác lập được sự việc bề mặt mà người ta thấy trong trường hợp Thổ tinh hoặc Mộc tinh vốn là bề mặt của một lớp vỏ mây sâu và dày đặc chứ tuyệt nhiên không phải là cơ thể của hành tinh; nếu quả thật như vậy th́ phép biểu diễn của người Chaldea về những bầu hành tinh này cũng chính xác như những thứ khác trong hệ thống ấy. Một điều khác nữa ủng hộ cho điều gợi ư như thế nếu ta chấp nhận nó, đó là việc các thiên văn gia thường gán cho các hành tinh ngoài ŕa tỉ trọng vô cùng thấp. Điều này ắt khiến cho chúng gần như ăn khớp với tỉ trọng của những thế giới khác trong tầm hiểu biết của chúng ta.

Có một số chi tiết kỳ lạ phối hợp lại cho ta thấy rằng người thiết kế ra những bàn thờ đẹp đẽ này ắt phải hiểu biết rốt ráo về Thái dương hệ. Người ta đă biểu diễn thích đáng Hỏa vương tinh là hành tinh gần Mặt trời hơn Thủy tinh; c̣n vị trí trong hệ thống mà trái đất lẽ ra phải chiếm th́ lại có đền thờ Mặt trăng; một đền thờ lớn mặc dù bán cầu che mái ṿm cho nó dường như nhỏ, không đúng theo tỉ lệ nhưng được kiến tạo chính xác với cùng bậc thang đó như những thứ kia. Kế cận đền thờ Mặt trăng này lại nổi lên một mái ṿm đơn độc làm bằng đá hoa cương màu đen do những cột trụ chống đỡ, kích thước của nó rơ rệt là được dự tính để tiêu biểu cho trái đất, nhưng không có điện thờ nào thuộc loại gắn liền với nó.

Trong khoảng trống (được tính toán hoàn toàn chính xác) ở giữa Hỏa tinh và Mộc tinh không thấy có đền thờ nào; nhưng số cột, mỗi cột tận cùng bằng một mái ṿm nho nhỏ có dạng bán cầu thông thường; chúng tôi giả định rằng những mái ṿm này được dự tính để biểu diễn các tiểu hành tinh. Mọi hành tinh có vệ tinh đều được biểu thị kỹ lưỡng bằng những mái ṿm phụ có kích thước đúng mức bố trí xung quanh mái ṿm sơ cấp và các vành đai của Thổ tinh cũng được biểu thị rơ rệt.

Vào ngày lễ hội chính yếu của bất kỳ hành tinh nào th́ mọi kẻ tôn thờ Tinh quân tương ứng (hiện nay ta bảo là những người ấy sinh ra dưới hành tinh đó) mang ở trên bộ quần áo mặc thường ngày của ḿnh một áo khoác hoặc một đạo bào có màu sắc được coi là linh thiêng đối với hành tinh ấy. Những màu này đều cực kỳ chói sáng và vải mặc là một loại sa tanh bóng láng sao cho tác dụng của nó thường nổi bật nhất là nhiều màu sắc đều có một sắc thái khác ẩn bên dưới giống như cái mà ta gọi là lụa có sắc thái lốm đốm. Mặc dù danh sách của những màu sắc này ắt là thú vị như ta đă nhận xét trước kia, song lư do khiến họ chọn như vậy đâu phải lúc nào cũng rơ ràng.  

Y phục mà những kẻ thờ Mặt trời khoác lấy là những loại vải lụa tế nhị rất đẹp. Tất cả đều dệt bằng chỉ màu hoàng kim sao cho nó có vẻ quả thật là một tấm vải bằng vàng. Nhưng ta biết hiện nay vải bằng vàng có kết cấu thô dày không uốn cong được, c̣n vải này linh hoạt đến nỗi nó có thể gấp lại như muslin.

Sác thái của Hỏa vương tinh là màu lửa, nổi bật, sặc sỡ và cá biệt, có thể tiêu biểu cho việc Hỏa vương tinh rất gần Mặt trời và ở đó ta phải có t́nh huống vật lư bốc lửa.

Thủy tinh được tiêu biểu bằng một sắc cam óng ánh đệm thêm màu vàng chanh – sắc thái này thường được thấy trong hào quang của các tín đồ cũng như y phục của họ; mặc dù trong một số trường hợp màu sắc nổi bật trong hào quang dường như có thể giải thích được những sự chọn lựa này, song có những trường hợp khác ta khó ḷng áp dụng được như vậy.

Những người thờ Kim tinh xuất hiện với bộ đồ màu xanh da trời thuần khiết dễ thương được thêu bằng chỉ ẩn bên dưới màu xanh lá cây lợt, điều này khiến cho toàn bộ có vẻ óng ánh ngũ sắc khi người mặc quần áo ấy di chuyển. 

Y phục của Mặt trời dĩ nhiên là vải trắng, nhưng được dệt thêm những sợi chỉ màu bạc cho nên thực tế ta có thể gọi đó là vải bằng bạc cũng như vải Mặt trời là vải bằng vàng.Tuy nhiên khi có mặt vải loại ánh sáng th́ bộ y phục Mặt trăng này phô ra những sắc thái đẹp đẽ màu tím lợt vốn làm tăng cường tác dụng của nó thêm nhiều.

Hỏa tinh khiến cho tín đồ phải mặc quần áo thích đáng màu đỏ thẩm rực rỡ lộng lẫy nhưng ẩn bên dưới là sắc thái đỏ như son và sắc thái này hầu như thay thế cho nó khi ta nh́n theo một vài góc độ nào đó. Màu này hoàn toàn không thể nhầm lẫn được và khác hẳn màu của Hỏa vương tinh hoặc Thủy tinh. Nó có thể gợi ta nhớ tới dáng vẻ của hào quang hoặc sắc thái đỏ hung hung của bầu hành tinh vật lư.

Mộc tinh khoác lấy cho các con của ḿnh một loại vải kỳ diệu óng ánh màu xanh da trời và màu tím, lốm đốm ở mọi chỗ là những vết nho nhỏ màu bạc không dễ ǵ gán cho điều này bất cứ lư do nào ngoại trừ việc quả thật nó lại có thể do sự liên tưởng tới hào quang.

 Những người thờ Thổ tinh mặc quần áo màu xanh lá cây trong trẻo như lúc Mặt trời lặn, ẩn bên dưới có sắc thái màu xám như ngọc trai. C̣n những người sinh dưới Thiên vương tinh mặc quần áo màu xanh da trời sẫm huy hoàng, đó là một màu không thể tưởng tượng được ở miền nam Đại tây dương, mà ai chưa từng thấy th́ không thể biết được. Quần áo dành cho Hải vương tinh ít đáng chú ư hơn hết v́ nó là màu chàm sẫm trông cũng thường thường, mặc dù dưới ánh sáng rực rỡ th́ nó cũng phô ra một sự phong phú, bất ngờ. 

Vào mỗi kỳ lễ hội chính của bất kỳ hành tinh nào th́ các tín đồ đều xiêm y lộng lẫy diễn hành thành từng đám rước tới tận đền thờ được trang điểm bằng những ṿng hoa, mang theo cờ xí và gậy gộc dát vàng hát vang lừng bầu không khí. Những sự phô trương lực lượng hào hùng nhất là vào một trong các đại lễ của thần Mặt trời khi dân chúng tụ tập lại, mỗi người mặc quần áo diêm dúa theo vị Tinh quân giám hộ của ḿnh, đám đông rồng rồng rắn rắn đi diễn long trọng quanh đền thờ Mặt trời. Vào dịp như thế th́ những người thờ Mặt trời tràn ngập dinh thự lớn trong khi sát tường là băng nhóm Hỏa vương tinh đang diễn hành, kế tiếp bên ngoài họ là nhóm Thủy tinh rồi tới những người thờ Kim tinh v.v… Mỗi hành tinh được đại diện theo thứ tự vị trí của nó đối với Mặt trời. Toàn khối dân chúng ấy xếp hàng thành những ṿng tṛn đồng tâm màu sắc chớp lóe xoay chầm chậm đều đều ṿng tṛn giống như một bánh xe sống động khổng lồ và dưới ánh sáng sống động tràn ngập tuôn ra từ Mặt trời vùng nhiệt đới, có lẽ họ tạo thành một phong cảnh rực rỡ mà thế gian đă từng chứng kiến.

Để cho ta có thể tường thuật những nghi thức c̣n thú vị hơn nữa xảy ra vào những dịp ấy bên trong đền thờ lớn của Mặt trời, ta cần thử toan tính miêu tả dáng vẻ và sự bày trí của nó – b́nh diện chính có h́nh chữ thập với một khoảng trống rộng h́nh tṛn (được che phủ bằng mái ṿm h́nh bán cầu) nơi các cánh tay đ̣n của h́nh chữ thập giao nhau. Ta sẽ có được một h́nh ảnh chính xác hơn nếu thay v́ nghĩ tới nhà thờ h́nh chữ thập thông thường với gian giữa, cánh nhà thờ phía đông và cánh ngang nhà thờ th́ ta lại h́nh dung ra một pḥng lớn h́nh tṛn có mái ṿm giống như pḥng đọc sách ở bảo tàng viện nước Anh để rồi h́nh dung ra bốn gian giữa khổng lồ mở ra bốn hướng, trên la bàn v́ mọi cánh tay đ̣n của chữ thập đều dài bằng nhau. Sau khi đă ổn định bộ phận ấy trong bức tranh th́ ta phải thêm vào bốn lối ra lớn giữa các cánh tay đ̣n của chữ thập dẫn vào những sảnh đường rộng lớn có các bức vách uốn cong và gặp nhau ở tận điểm mút, sao cho sàn của chúng có h́nh dạng một chiếc lá khổng lồ hoặc cánh của một đóa hoa. Thật vậy, mặt đất b́nh diện của đền thờ có thể được miêu tả là một chữ thập có tay đ̣n bằng nhau cẩn trên một đóa hoa đơn giản có bốn cánh sao cho các cánh tay đ̣n nằm bên giữa các đóa hoa.

V́ vậy một người đứng ở trung tâm bên dưới mái ṿm ắt thấy được những viễn cảnh trải dài từ phía ḿnh ra mọi hướng. Toàn thể cấu trúc này được định hướng cẩn thận sao cho các cánh tay đ̣n của chữ thập nhằm chính xác vào các phương chính. Đầu mút ở phía nam vẫn được mở rộng tạo thành lối vào chính đối diện với bàn thờ lớn đặt ngay đầu mút của cánh tay đ̣n phía bắc. Các cánh tay đ̣n phía đông và phía tây cũng có bàn thờ với kích thước khổng lồ theo quan điểm của chúng ta mặc dù nhỏ hơn nhiều so với kết cấu chính ở đầu mút phía bắc.

Những bàn thờ ở phía đông và phía tây này dường như hoàn thành một mục đích giống như các bàn thờ được hiến cho Đức Mẹ Đồng trinh và thánh Joseph trong nhà thờ chính Công giáo, v́ một bàn thờ để dành cho Mặt trời, c̣n bàn thờ kia dành cho Mặt trăng và một số việc phụng tự hằng ngày có liên quan tới hai tinh cầu này được cử hành ở những bàn thờ ấy; tuy nhiên bàn thờ lớn ở phía bắc là chỗ mà mọi đám đông lớn nhất tụ tập lại, nơi cử hành những nghi thức lớn nhất, sự bài trí đồ đạc của nó thật là kỳ lạ và thú vị.

Trên bức vách đằng sau nó ở chỗ có “cửa sổ phía đông” trong nhà thờ thông thường – ngoại trừ nhà thờ ở phương bắc – có treo một tấm gương lơm khổng lồ lớn hơn hẳn so với bất cứ thứ ǵ chúng tôi đă t́m thấy trước đó. Nó làm bằng kim loại, rất có thể là bằng bạc và được đánh bóng tới mức tối đa. Quả thật người ta nhận xét rằng việc chăm sóc nó, giữ cho nó được sáng bóng không vướng một chút bụi nào, việc này được coi là một bổn phận tôn giáo có tính cách bắt buộc nhất. Cái mỏ vịt khổng lồ ấy được cắt ra hoàn hảo như thế nào, làm thế nào mà trọng lượng khổng lồ của chính nó lại không làm nó méo mó, đây là những vấn đề nghiêm trọng đối với các nghệ nhân thời nay của chúng ta, nhưng cổ nhân đă giải quyết thành công những vấn đề ấy từ lâu rồi.

Dọc theo trung tâm của mái ṿm che phủ tay đ̣n khổng lồ phía bắc của thập tự giá có một khe hẹp mở ra trên bầu trời sao cho ánh sáng của bất kỳ ngôi sao nào t́nh cờ chính xác ngay trên đường kinh tuyến sẽ rọi thẳng vào trong đền thờ và rớt xuống cái gương lớn. Gương lơm có một tính chất mà ai cũng biết là nó tạo thành ở tiêu điểm trong không khí phía trước mặt nó một ảnh của bất cứ điều ǵ được phản chiếu trong nó; các vị tu sĩ đă khéo dùng nguyên tắc này (có lẽ họ đă sử dụng nó) để thu thập và ứng dụng ảnh hưởng của mỗi hành tinh vào lúc nó đạt quyền năng lớn nhất. Một cái bệ đỡ một ḷ than hồng được gắn vào dưới nền nhà bên dưới tiêu điểm của cái gương, và ngay khi một hành tinh đi ngang qua kinh tuyến (nghĩa là ở trên đỉnh đầu) và do đó rọi xuống qua cái khe ở trên mái th́ người ta ném vào than hồng một lượng hương trầm tỏa ngát hương thơm. Một cột trụ ánh sáng gồm có khói màu xám lợt ngay tức khắc bốc lên và ở giữa đó lóe lên h́nh ảnh sống động của ngôi sao. Thế rồi những kẻ thờ cúng cúi đầu. C̣n tiếng hát hân hoan của các tu sĩ vang lên; thật vậy nghi lễ này nhắc ta nhớ tới khá nhiều việc dâng bánh thánh trong nhà thờ công giáo.

Khi cần thiết th́ người ta lại đưa một bộ phận máy móc đi vào hoạt động tức là một cái gương tṛn phẳng có thể được hạ thấp xuống từ trên mái theo những đường sao cho nó chiếm chính xác vị trí tiêu điểm của cái gương lớn. Gương này bắt được h́nh ảnh phản chiếu của hành tinh và khi ta cho nó nghiêng đi th́ ánh sáng tập trung mà ta nhận được từ gương lơm có thể được tuôn xuống một vài điểm trên sàn của đền thờ. Ở trên những điểm này người ta đặt sẵn những người đau ốm mà xét ra ảnh hưởng đặc biệt ấy có lợi trong khi người tu sĩ cầu nguyện Chơn linh hành tinh tuôn đổ sự chữa trị và sức mạnh xuống cho bệnh nhân; chắc chắn là những sự chữa trị thường tưởng thưởng cho nỗ lực của họ mặc dù đức tin có thể đóng một vai tṛ lớn trong việc đạt được kết quả ấy.

Việc thắp sáng một vài loại lửa thiêng khi chính Mặt trời băng ngang qua kinh tuyến cũng được thành tựu nhờ vào cơ cấu ấy mặc dù một trong những nghi thức thú vị nhất có bản chất này luôn luôn được cử hành ở bàn thờ phía tây. Trên bàn thờ này luôn luôn bốc cháy cái gọi là lửa thiêng của Mặt trăng và lửa này chỉ được phép tắt ngúm mỗi năm một lần vào đêm trước kỳ Xuân phân. Sáng hôm sau, các tia nắng Mặt trời khi đi qua lỗ hở bên trên bàn thờ phía đông sẽ rớt thẳng xuống lỗ hở ở đầu mút phía tây và nhờ vào một bầu thủy tinh chứa đầy nước treo lủng lẳng trên đường đi và đóng vai tṛ một thấu kính, chính Mặt trời sẽ thắp sáng trở lại cho lửa thiêng của Mặt trăng; bây giờ nó được canh chừng cẩn thận và giữ cho cháy măi một năm nữa.

Bề mặt phía trong của mái ṿm lớn được sơn vẽ để biểu diễn bầu trời ban đêm và nhờ vào một cơ cấu phức tạp nào đó người ta khiến cho các cḥm sao chính di chuyển bên trên nó đúng hệt như những ngôi sao có thực đang di chuyển ra phía ngoài, sao cho vào bất cứ lúc nào trong ngày, hoặc vào một đêm trời phủ mây, một người thờ cúng luôn luôn có thể nói vị trí chính xác trong đền thờ của bất kỳ cung hoàng đạo nào cùng với đủ thứ hành tinh liên quan tới chúng. Các tinh cầu được dùng để biểu diễn các hành tinh và vào thời ban sơ của tôn giáo này cũng đúng như vào thời ban sơ của các Bí pháp, các tinh cầu này là những thứ hiện h́nh thật sự mà các vị Đạo sư Cao đồ khiến cho tồn tại và di chuyển thoải mái trên không trung, nhưng trong cả hai trường hợp vào thời buổi sau này khi những người kém tiến hóa hơn đă thế chỗ cho các Đấng cao cả ấy th́ thật là khó ḷng hoặc không thể nào tiến hành việc hiện h́nh đúng mức, do đó vị trí của chúng được lấp đầy bằng những khí cụ cơ giới tinh xảo – một loại hành tinh hệ giả tạo ở qui mô khổng lồ. Phía ngoài của mái ṿm khổng lồ này có dát vàng mỏng và thật đáng chú ư là trên bề mặt đó có một tác dụng lốm đốm kỳ lạ hiển nhiên được dự tính để biểu diễn cái gọi là những “lá liểu” hoặc “hạt thóc” (đốm đen trên Mặt trời).

Có một đặc điểm thú vị nữa trong đền thờ này là một pḥng dưới đất hoặc hầm kín vốn được dành cho các tu sĩ độc quyền sử dụng, hiển nhiên là để tham thiền và tu dưỡng. Ánh sáng duy nhất chấp nhận được phải đi qua những lớp dày một chất giống như pha lê có đủ màu sắc khác nhau vốn được để cho đi vào nền nhà trong nhà thờ, nhưng chúng được bố trí để phản chiếu các tia sáng mặt trời qua môi trường ấy khi cần thiết, vị tu sĩ đang thực hành tham thiền để cho ánh sáng phản chiếu rớt xuống đủ thứ trung tâm lực trong cơ thể - đôi khi rớt vào giữa hai mắt, đôi khi rớt vào chót xương sống v.v… Điều này rơ ràng tự giúp cho sự phát triển quyền năng bói toán, thần nhăn và trực giác; hiển nhiên việc sử dụng một màu ánh sáng đặc thù nào đó tùy thuộc chẳng những vào mục đích mà người ta mưu cầu, mà c̣n tùy thuộc vào hành tinh hoặc loại h́nh của vị tu sĩ nữa. Ta cũng lưu ư thấy rằng ở đây có sử dụng cây thyrsus tức là thần trượng trống rỗng có tích đầy lửa điện hoặc lửa sinh động giống như lửa trong các Bí pháp Hi lạp.

Một bộ phận thú vị của việc nghiên cứu tôn giáo nơi thế giới xưa cũ này là nỗ lực t́m hiểu chính xác các vị đạo sư ngụ ư muốn nói ǵ khi nhắc tới Tinh quân tức là Chơn linh của một ngôi sao. Chỉ cần khảo cứu kỹ lưỡng một chút th́ cũng chứng tỏ rằng các thuật ngữ này mặc dù đôi khi đồng nghĩa với nhau nhưng không luôn luôn như thế v́ chúng dường như bao gồm ít ra là ba quan niệm khác hẳn nhau bên dưới cùng một tiêu ngữ “Chơn linh của hành tinh”.

Một là họ tin tưởng vào sự tồn tại của một thực thể kém phát triển bán thông tuệ, thế nhưng cực kỳ hùng mạnh liên quan tới mỗi hành tinh mà theo thuật ngữ Thông Thiên Học của ta th́ có lẽ diễn tả tốt nhất là tinh hoa ngũ hành tập thể của hành tinh ấy, được coi như một tạo vật khổng lồ. Trong trường hợp con người, ta biết rằng tinh hoa ngũ hành cấu tạo thành thể vía của y thực ra đă trở thành một thực thể riêng biệt đôi khi được gọi là tinh linh dục vọng. Nhóm loại h́nh và lớp khác nhau tổ hợp thành một đơn vị tạm thời có thể hành động dứt khoát để tự vệ chẳng hạn như chống lại quá tŕnh tan ră bắt đầu sau khi thể xác chết. Nếu cũng giống như thế, chúng ta có thể quan niệm ra toàn thế giới tinh hoa ngũ hành trong một hành tinh đặc biệt đang cấp năng lượng nói chung, th́ ta sẽ lĩnh hội được chính xác thuyết mà người Chaldea thời xưa chủ trương đối với biến thái đầu tiên của Chơn linh hành tinh này mà nếu ta gọi là “tinh linh hành tinh” th́ ắt thỏa đáng hơn nhiều. Họ cố gắng  tập trung ảnh hưởng (hoặc có lẽ là từ khí) của tinh linh hành tinh này lên trên những người bị mắc một bệnh nào đó, hoặc là nhốt ảnh hưởng ấy vào trong một lá bùa để dùng trong tương lai.

Các tu sĩ chủ trương rằng các hành tinh vật lư mà ta thấy được dùng để biểu thị vị trí hoặc t́nh huống của các trung tâm lực lớn trong cơ thể chính THƯỢNG ĐẾ; thông qua mỗi một trong những trung tâm lực lớn này có trào dâng ra một trong mười loại tinh hoa ngũ hành, nhờ đó vạn vật mới được xây dựng bằng tinh hoa ấy. Mỗi một trong các loại tinh hoa này khi xét tự thân nó cũng được đồng nhất hóa với một hành tinh và điều này cũng thường được gọi là Chơn linh hành tinh, như vậy khiến cho thuật ngữ ấy có một nghĩa khác hẳn, theo ư nghĩa này th́ người ta bảo Chơn linh của mỗi hành tinh vốn hiện diện khắp nơi trong Thái dương hệ, hoạt động bên trong của mỗi con người và biểu lộ qua những hành động của họ, biểu lộ qua một vài loại cây cỏ hoặc khoáng vật ban cho chúng những đặc tính riêng biệt nào đó. Dĩ nhiên là ta có thể tác động lên Chơn linh hành tinh này bên trong con người dựa vào t́nh huống của trung tâm lực lớn có liên quan tới nó và chính mọi lời cảnh báo chiêm tinh học đều được đưa ra liên quan tới Chơn linh này.

Tuy nhiên khi người Chaldea cầu khấn sự ban phước của Chơn linh hành tinh tức là nhờ vào tham thiền tha thiết và kính cẩn cố gắng vươn lên hướng về phía Ngài th́ họ lại dùng thành ngữ ấy theo nghĩa khác nữa. Họ nghĩ rằng mỗi một trong các trung tâm lực lớn này khai sinh ra và hoạt động thông qua trọn cả một huyền giai các đại Chơn linh, đứng đầu mỗi một trong các huyền giai này là một Đấng cao cả chủ yếu được gọi là Chơn linh hành tinh hoặc thường được gọi là Tinh quân. Những người đặc biệt sinh ra dưới ảnh hưởng của Ngài thường mưu cầu sự ban phước của Ngài và họ coi Ngài giống như các vị Tổng thiên thần vĩ đại giống như một Kitô hữu thuần thành sùng bái “bảy Chơn linh trước ngai Thượng đế” - đó là một thừa tác viên hùng mạnh nắm giữ quyền năng thiêng liêng của THƯỢNG ĐẾ, một kinh dẫn mà sự rực rỡ không nguôi biểu lộ thông qua đó. Người ta x́ xào bàn tán rằng khi lễ hội của một hành tinh đặc biệt nào đó được cử hành trong đền thờ lớn, khi đến đúng lúc lúc quyết định h́nh ảnh của ngôi sao chói sáng giữa đám mây hương trầm th́ những kẻ nào nhiệt thành sùng tín đến nỗi mắt thần mở ra đôi khi thấy được h́nh tướng uy nghi của tinh quân lượn lờ bên dưới bầu tinh cầu cháy rực sao cho nó chói sáng lên trán y giống như khi ngài nh́n xuống ban phước cho những kẻ sùng bái có liên quan mật thiết với Ngài trong cơ tiến hóa.

Một trong những giáo điều của tín ngưỡng thời xưa cho rằng trong những trường hợp hiếm có, những người tiến hóa cao vốn đầy ḷng sùng tín với Tinh quân có thể nh́n vào sự căng thẳng trong lúc tham thiền kéo dài liên tục mà nâng ḿnh lên vượt ra khỏi thế giới phàm tục nhập vào thế giới của Ngài; nghĩa là thay đổi toàn bộ lộ tŕnh tiến hóa của ḿnh để cho kiếp tới không tái sinh trên hành tinh này nữa mà tái sinh trên hành tinh của Ngài; tài liệu ghi chép trên đền thờ có ghi nhận trường hợp những tu sĩ làm như thế và chuyển qua mức vượt tầm hiểu biết của con người. Người ta chủ trương rằng trong lịch sử đă từng xảy ra một hai lần liên quan tới cấp độ c̣n cao hơn nữa là các Đấng thiêng liêng Thái dương vốn được coi là thuộc về những định tinh xa tít mù ngoài tầm Thái dương hệ hoàn toàn. Nhưng người ta coi những điều ấy là những chuyến bay mạo hiểm vào vùng chẳng ai biết và ngay cả những tu sĩ cao cấp vĩ đại nhất cũng lặng thinh không dám khuyên người khác làm như vậy.

Mặc dù hiện nay ta thấy các phương pháp này dường như kỳ lạ v́ khác hẳn bất cứ thứ ǵ được dạy dỗ cho ta trong khi nghiên cứu Thông Thiên Học, ta cũng thật dại khờ khi chỉ trích họ hoặc nghi ngờ điều đó v́ xét về những điều hấp dẫn họ th́ chúng cũng có thể hữu hiệu như đối với những điều hấp dẫn chính chúng ta. Ta biết rằng trong Quần tiên hôi có nhiều Chơn sư và mặc dù những phẩm tính cần thiết cho mỗi bước trên Thánh đạo đều giống nhau đối với mọi ứng viên, thế nhưng mỗi bậc đại đạo sư đều chọn cho học tṛ của ḿnh phương pháp dọn ḿnh nào mà ngài thấy là thích hợp với họ nhất; và bởi v́ mọi con đường ấy đều dẫn lên đỉnh núi giống như nhau, cho nên ta không thể nói được đâu là con đường ngắn nhất hoặc tốt nhất cho người lân cận của ḿnh. Đối với mỗi người đều có một con đường ngắn nhất, nhưng con đường nào th́ c̣n tùy thuộc vào vị trí mà y khởi hành từ đó. Trông mong rằng mọi người đều tụ tập tới xuất phát điểm của ta rồi sử dụng con đường của ta, ắt rớt vào ảo tưởng nảy sinh từ ḷng kiêu mạn, và vô minh vốn làm mờ mắt của người mộ đạo ngu tín. Chúng ta không được dạy dỗ để tôn thờ các đại Tinh quân hoặc đặt ra trước mắt ta mục tiêu có thể gia nhập đường tiến hóa Thiên thần vào một giai đoạn tương đối sơ khai; nhưng chúng ta nên luôn luôn nhớ rằng có những đường lối khác về Huyền bí học vượt ngoài h́nh thức đặc biệt mà Thông Thiên Học đă giới thiệu với chúng ta và ta biết rằng ngay cả trong đường lối của chính ḿnh th́ ta cũng chẳng biết được bao nhiêu.

Có lẽ ta nên tránh dùng từ ngữ “sùng bái” khi miêu tả xúc cảm của người Chaldea đối với Tinh quân, v́ ở phương Tây từ ngữ này luôn luôn gây ra hiểu lầm; nói cho đúng hơn th́ đó là ḷng quyến luyến sâu sắc sự kính ngưỡng và trung kiên mà chúng ta cảm thấy đối với các Chơn sư Minh triết.

Tôn giáo Chaldea này rất gần gũi với tấm ḷng của người dân và chắc chắn trong trường hợp đa số mọi người nó đă sản sinh ra những sinh hoạt tốt đẹp và ngay thẳng. Các tu sĩ là những người rất có học thức theo kiểu của riêng ḿnh về một vài đường lối nào đó, cho nghiên cứu rất sâu về lịch sử và thiên văn học, tự nhiên là họ gộp cả hai khoa học này lại với nhau, luôn luôn xếp loại các diễn biến trong lịch sử theo mối quan hệ giả định của chúng với đủ thứ chu kỳ thiên văn học. Họ cũng rất tinh thông hóa học và sử dụng một số tác dụng của nó trong nghi lễ. Chúng tôi lưu ư thấy trường hợp một tu sĩ đứng trên mái phẳng của một trong các đền thờ, cầu khẩn với ḷng sùng tín riêng tư một trong các Chơn linh hành tinh. [[2]]

Ông cầm trên tay một cây gậy dài, đầu mút có một chất nào đó trông giống như nhựa đường, ông bắt đầu cầu khẩn bằng cách dùng cây gậy vẽ những kư hiệu chiêm tinh học của hành tinh ấy trên lớp lát đá ở phía trước mặt ḿnh, chất này để lại một dấu sáng chói theo kiểu lân quang bên trên tảng đá hoặc bề mặt thạch cao.

Theo thông lệ th́ mỗi tu sĩ đều tiến hành nghiên cứu đặc biệt qua đường lối mà ḿnh đặc biệt chuyên tâm. Một nhóm rất tinh thông về y học thường xuyên nghiên cứu tính chất của đủ thứ dược thảo và thuốc men khi được điều chế qua sự tổ hợp của các ảnh hưởng tinh tú; một nhóm khác đặc biệt chú ư tới nông nghiệp quyết định xem loại đất nào thích hợp nhất với loại hoa màu nào, làm sao cải tiến được điều ấy – họ cũng làm việc để trồng trọt đủ loại cây có ích, tạo ra những loại mới, trắc nghiệm tính nhanh chóng và sức mạnh của sự tăng trưởng của chúng bên dưới những lồng kính có màu sắc khác nhau v.v… Ư tưởng dùng ánh sáng màu để khuyến khích sự tăng trưởng vốn chung cho nhiều giống dân Atlantis thời xưa và là một phần của giáo huấn thoạt tiên được rao giảng ở chính châu Atlantis. Một bộ môn khác tự tổ chức thành một loại văn pḥng thời tiết và dự báo vô cùng chính xác cả những thay đổi thời tiết thông thường lẫn bất kỳ sự xáo trộn đặc biệt nào như băo, gió lốc hoặc mây bị tan biến. Về sau th́ bộ môn này trở thành một loại bộ trong chính phủ và các tu sĩ dự báo thời tiết không chính xác đều bị băi nhiệm v́ thiếu khả năng.

Người ta coi là rất quan trọng đối với những ảnh hưởng trước khi sinh ra, một sản phụ được lệnh phải sống ẩn dật theo một loại giống như một nửa tu viện trong một vài tháng trước và sau khi sinh. Giống như ở Peru việc bố trí giáo dục của quốc gia không trực tiếp nằm trong tay giới tu sĩ, mặc dù chính họ tính toán – hiển nhiên trong một số trường hợp nhờ vào thần nhăn – quyết định xem đứa trẻ thuộc về hành tinh nào. Những đứa trẻ gắn liền với một hành tinh dặc thù phải theo học ở trường của hành tinh đó, thụ giáo với những thầy giáo thuộc loại giống như ḿnh sao cho những đứa trẻ Thổ tinh tuyệt nhiên không được phép đi học ở một trường Mộc tinh hoặc những đứa trẻ Kim tinh lại được dạy dỗ bởi một người sùng bái Thủy tinh. Việc huấn luyện cho đủ loại h́nh này khác nhau rất nhiều, trong mỗi trường hợp th́ mục đích là để phát triển những đức tính cũng như đối trị với các khuyết điểm mà kinh nghiệm lâu dài đă chuẩn bị sẵn cho các thầy cô mong đợi là loại trẻ trai trẻ gái đặc biệt ấy sẽ bộc lộ ra.

Mục tiêu giáo dục đối với họ hầu như hoàn toàn là đức dục; trí dục hoàn toàn chiếm vị trí thứ yếu. Mọi đứa trẻ đều được dạy dỗ loại chữ tượng h́nh kỳ lạ của xứ ḿnh, toán học đơn giản sơ cấp và ngoài những thứ ấy ra th́ chúng tôi nhận thấy chẳng c̣n môn học nào khác ở nhà trường. Nhiều giáo điều hoặc nói cho đúng hơn huấn điều luân lư phải học thuộc ḷng, tất cả đều nêu rơ cách ứng xử người ta trông mong nơi “một đứa con của Hỏa tinh”, hành tinh – hoặc tùy trường hợp có thể là Kim tinh hoặc Mộc tinh – vốn có thể được khơi dậy trong đủ thứ t́nh huống khác nhau; người ta chỉ học văn học dưới dạng một phần b́nh luận đồ sộ vô tận về những t́nh huống này, đầy dẫy những câu chuyện vô tận về các cuộc phiêu lưu và t́nh huống mà vị anh hùng phải ứng phó đôi khi khôn ngoan, đôi khi dại khờ. Người ta dạy cho đám trẻ phải biết phê b́nh, dạy hết lư do tại sao ḿnh có ư kiến như thế và miêu tả ḿnh sẽ hành động theo kiểu nào khác với cách ứng xử của vị anh hùng trong những t́nh huống giống như thế.

Mặc dù lũ trẻ phải đi học nhiều năm, nhưng trọn cả thời gian của chúng đều mất công làm quen với (chẳng những về mặt lư thuyết mà c̣n có thể là về mặt thực tiễn nữa) các giáo huấn của điều có thể gọi là Quyển sách Bổn phận cồng kềnh này. Để gây ấn tượng của các bài học ấy minh tâm khắc cốt nơi đứa trẻ, người ta trông mong chúng sẽ đóng vai đủ thứ nhân vật chính trong các câu chuyện này và diễn tưồng như thể trên sân khấu. Bất cứ thiếu niên nào tỏ ra có năng khiếu về lịch sử, toán học, nông học, hóa học hoặc y học th́ khi tốt nghiệp có thể xin học việc với bất cứ tu sĩ nào là chuyên viên thuộc một trong các đề tài ấy; nhưng chương tŕnh học không bao gồm bất cứ chuyên ngành nào cũng không chuẩn bị cho chúng nghiên cứu vượt quá mức chuẩn bị tổng quát mà giả định rằng mọi người đều thích ứng với bất cứ điều ǵ có thể xảy ra.

Nền văn học của dân tộc này không phát triển lắm. Tàng thư chính thức được giữ kỹ, việc chuyển nhượng đất đai được đăng kư trước bạ. Những sắc lệnh và tuyên cáo của nhà Vua luôn luôn được lập hồ sơ để tham chiếu; nhưng mặc dù các tài liệu này cung cấp được cho sử gia tư liệu tuyệt vời cho dân khá khô khan th́ vẫn không có một vết tích nào cho thấy người ta đă từng viết ra bất kỳ lịch sử mạch lạc nào. Lịch sử được truyền khẩu theo truyền thuyết và một vài giai đoạn lịch sử được lập thành bảng biểu liên quan tới những chu kỳ thiên văn nhưng các sử liệu này chỉ là các bảng niên đại học chứ không phải là lịch sử theo đúng nghĩa mà ta dùng.

Thi ca được biểu diễn bởi một loạt các thánh thư vốn tường tŕnh rất biểu tượng và bóng gió về nguồn gốc của các thế giới và loài người, cũng như một số thơ trữ t́nh và chuyện anh hùng biểu dương nghĩa cử của các anh hùng thần thoại. Tuy nhiên những truyện thơ này không được viết ra mà chỉ được trao truyền từ người kể chuyện này sang người kể chuyện kia. Người dân cũng giống như nhiều dân tộc Đông phương khác rất thích nghe và ứng khẩu sáng tác những chuyện này cũng như nhiều đề tài truyền thống thuộc loại này đă được lưu truyền qua các thế kỷ từ điều hiển nhiên là một thời kỳ xa xăm của nền văn minh thô thiển hơn nhiều.

Từ một số huyền thoại thời sơ khai, ta có thể xây dựng lại phần phác họa thô sơ về lịch sử thời xưa của loài người. Đại đa số quốc gia này rơ ràng là thuộc ḍng dơi dân Turania thuộc về giống dân phụ thứ tư của Căn chủng Atlante. Xét theo biểu kiến, họ có nguồn gốc là một số bộ tộc nhỏ nhoi luôn luôn thù địch với nhau, sống bằng nông nghiệp thuộc loại sơ khai nhất và chẳng biết bao nhiêu về bất cứ loại kiến trúc văn hóa nào. [[3]]

Trong t́nh huống bán dă man này vào năm 30.000 trước Công nguyên, có một lănh tụ lớn từ phương Đông là Theodoros, một người thuộc giống dân khác sau khi dân Aryen chinh phục Ba tư và vùng Mesopotania cũng như Đức Bàn Cổ đă xác lập quyền cai trị đối với các vùng này th́ ngài gửi tới đâyTheodoros giữ chức Thống đốc, dưới quyền Corona là cháu của Ngài vốn nối nghiệp ngài để cai trị xứ Ba tư [[4]].

Theodoros là thủy tổ của ḍng dơi hoàng gia xứ cổ Chaldea, một ḍng dơi khác nhiều với các thần dân về dáng vẻ bên ngoài: khuôn mặt cương nghị, nước da màu đồng thau, đôi mắt lóng lánh lơm sâu vào. Thuật điêu khắc của Babylon măi sau này mà chúng ta thường biết tới ắt giúp ta có được một ư niệm chính xác về loại h́nh hoàng gia này, mặc dù vào thời điểm đó, ḍng máu Aryen đă thấm nhuần gần hết giống dân này trong khi vào thời mà ta đang nói tới th́ nó hầu như chỉ thấm đượm chút ít.

Sau một thời kỳ dài vinh quang và phồn thịnh th́ đế quốc Chaldea hùng mạnh này dần dần bị suy tàn và thoái hóa cho đến khi cuối cùng nó bị hoàn toàn tiêu diệt do sự xâm nhập của đội quân những kẻ dă man cuồng tín; những kẻ này có một tín ngưỡng thô thiển hơn và rất ghét mọi bằng chứng của một xúc cảm tôn giáo cao thượng và đẹp đẽ hơn chính ḿnh với sự hăm hở quả thật mang tính thanh trừng cho nên họ tiêu diệt mọi dấu vết của những đền thờ vinh quang đă được dựng nên ân cần chăm sóc nhằm thờ phụng các đấng Tinh quân mà chúng ta đă ra sức miêu tả. Đến lượt những kẻ phá hoại này lại bị người Akkads đẩy lui ra khỏi xứ sở nhiều đồi núi tại phía Bắc – người Akkad vẫn c̣n là dân Atlante nhưng thuộc giống dân phụ thứ 6, và những người này dần dần trộn lẫn với đám tàn dư của giống dân cổ xưa cùng với các bộ tộc khác thuộc loại h́nh Turania để tạo nên quốc gia Sumiro Akkad mà Đế quốc Babylon sau này phát triển từ đó. Tuy nhiên khi nó lớn lên th́ nó càng ngày càng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự pha trộn ḍng máu Aryen, trước hết từ dân Ả rập (người Semite) rồi tới các giống dân phụ Ba tư cho đến khi ta đạt tới cái thường được gọi là thời kỳ hữu sử th́ hầu như chẳng c̣n vết tích nào của người Turania thời xưa lưu lại trên những khuôn mặt được khắc họa cho ta nơi các công tŕnh điêu khắc và đồ khảm của dân Assyria.

Ít ra th́ ngay từ đầu, giống dân mới sau này đă có một truyền thống mạnh mẽ của bậc tiền nhân oanh liệt cho nên nó luôn luôn cố gắng làm sống lại những t́nh huống và tục thờ cúng trong quá khứ. Các nỗ lực của nó chỉ thành công có một phần do thấm đượm một đức tin ngoại lai bị cản trở v́ những hồi ức về một truyền thống khác mới gần đây hơn khi phải tổ hợp với một đối tác đang chiếm ưu thế th́ nó chỉ tạo ra được một bản sao mờ nhạt và méo mó về tục thờ cúng nguy nga hoành tráng các Đấng Tinh quân vốn đă từng thịnh hành trong thời đại hoàng kim mà chúng ta vừa thử ra sức miêu tả.

Những bức tranh vẽ quá khứ này ắt phải là không giống thật và chỉ mờ nhạt thôi trừ phi người ta tận mắt chứng kiến, thế nhưng việc nghiên cứu chúng chẳng những có ích lợi sâu sắc cho người nghiên cứu huyền bí học mà c̣n có ích lợi lớn lao cho y. Nó giúp cho y mở rộng được tầm nh́n, thỉnh thoảng nó cho y thoáng nh́n thấy sự vận hành của một tổng thể lớn lao trong đó mọi điều ta có thể tưởng tượng là tiến bộ và tiến hóa th́ chẳng qua chỉ giống như một bánh xe nhỏ xíu trong một cổ máy khổng lồ, giống như một đại đội nhỏ bé trong một quân đoàn lớn lao của nhà Vua. Đó cũng là một điều khích lệ cho y khi biết được một chút xíu về sự vinh quang và hùng vĩ vốn đă từng ngự trị trên vùng đất cổ xưa này của chúng ta và biết rằng đó chẳng qua chỉ là một điều dự báo mờ nhạt về sự vinh quang và mỹ lệ của điều vị lại.

Nhưng ta không được để cho cái bảng phác họa sơ sài này về hai bức h́nh trang trí trong thời Hoàng kim quá khứ được du nhập vào thành một phó bản trong bức tranh khổng lồ về lịch sử thế giới mà lại không đề cập tới một tư tưởng tất yếu phải nảy sinh ra đối với kẻ nào nghiên cứu chúng. Chúng ta vốn yêu thương nhân loại – chúng ta đang cố gắng trợ giúp nó trên con đường gian lao, cho dù sự trợ giúp này thật là yếu ớt – liệu ta có thể đọc biết về t́nh huống như ở Chaldea thời xưa và có lẽ c̣n nhiều hơn nữa ở Peru thời xưa, những t́nh huống mà trong cả một quốc gia sống cuộc đời hạnh phúc thấm đượm vị đạo, không hề bị tật sa đọa vô độ, cũng không có cảnh khủng khiếp nghèo rớt mồng tơi, liệu chúng ta có thể nào đọc biết về những t́nh huống ấy mà lại không có một nỗi nghi ngờ ngấm ngầm, không thắc mắc: “Liệu loài người có thể thực sự tiến hóa được như vậy chăng? Liệu loài người đă đạt tới một nền văn minh tốt đẹp như thế mà lại có thể nào bị sụp dổ tan tành không để lại dấu vết ǵ rồi sau đó chúng ta lại trở lại đạt đến t́nh trạng ấy?”.

Có chứ, bởi v́ chúng ta biết rằng luật tiến hóa là luật thay đổi tuần hoàn, và theo luật tuần hoàn th́ các phàm ngă, giống dân, đế quốc và các thế giới đều qua đi không trở lại nữa dưới dạng ấy v́ mọi h́nh tướng đều phải bị tiêu diệt cho dù nó đẹp đẽ đến đâu đi nữa th́ sự sống bên trong mới có thể tăng trưởng và phát triển được. Thế mà ta biết rằng định luật ấy lại là biểu hiện của Ư chí: Ư chí thiêng liêng của chính Đức THƯỢNG ĐẾ; do đó nó phải hoạt động đến mức tối đa v́ ích lợi của loài người mà chúng ta yêu thương. Có ai đă từng yêu thương con người như Ngài chăng: Ngài đă xả thân để cho con người có thể tồn tại được, Ngài biết trọn cả cơ tiến hóa từ đầu chí cuối và Ngài đă măn nguyện. Số phận con người nằm trong tay Ngài: bàn tay đang ban phước cho con người; liệu có tâm hồn nào trong đám chúng ta lại bỏ mặc số phận ấy, không bằng ḷng với cốt lơi sâu xa nhất của nó khi nghe Ngài phán bảo như một bậc đại Đạo sư đă từng có lần dạy môn đồ: “Điều ta làm th́ các con hiện nay không biết được đâu mà đến kiếp sau các con mới biết được”?

 


[[1]] Thật vậy chúng tôi có thể nói ngay rằng thuyết của Chaldea về những đề tài này hầu như cũng là thuyết mà nhiều nhà Thông Thiên Học thời nay chủ trương. Trong tác phẩm Sách giáo khoa về Thông Thiên HọcKhía cạnh ẩn tàng của mọi Sinh vật; do kết quả nghiên cứu của chính ḿnh, Ông C.W. Leadbeater đă đưa ra một phát biểu về ảnh hưởng của các hành tinh với mọi ư định và mục đích giống hết như niềm tin mà hàng ngàn năm trước đây – do kết quả của những việc khảo cứu tương tự - Các tu sĩ ở  Chaldea cũng chủ trương như thế.

[[2]] Erato là một trong các hội viên Thông Thiên Học, một vài tiền kiếp của ông được tŕnh bày trong loạt bài “Vén màn bí mật Thời gian” đang trên Tạp chí Nhà Thông Thiên Học.

[[3]]  Đây là t́nh trạng của họ vào khoảng năm 75.000 trước Công nguyên khi Bàn Cổ Vaivasvata dẫn đầu đoàn lữ hành nhỏ đi ngang qua đó.

[[4]] Xem chương 18.


 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS