Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 HOME  sách   TIỂU SỬ    BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN    BÀI VỞ   THƠ   gifts   TẾT 2006  BOOKS  MAGAZINES

 

KI TÔ GIÁO

(Một bài thuyết tŕnh trước đại hội)

Tác giả: ANNIE BESANT

Bản Dịch: Chơn Như 2008

 

 

THƯA CÁC HUYNH ĐỆ

 

Sáng nay khi đề cập tới đề tài Ki Tô giáo, có một vài khó khăn đặc biệt mà chúng ta không phải đương đầu khi nói về ba tôn giáo lớn khác đă được bàn tới trong ba buổi sáng vừa qua. Những khó khăn đặc biệt này xuất lộ từ một vài nguyên nhân riêng biệt. Trước tiên là có một sự mơ hồ lịch sử nào đó ảnh hưởng tới nguồn gốc của nó do những sự đấu tranh mà nó phải trải qua vào thời kỳ sơ khai, lúc mà người ta không giữ cẩn thận các sử liệu và khi một khối lượng khổng lồ các tài liệu giả mạo tá danh thánh thư được nêu ra, trước hết được chấp nhận một cách mù quáng nhiên hậu mới dần dần được sàng lọc. Sự mơ hồ không đáng kể lắm v́ nó có thể nhanh chóng bị xua tan theo sự minh giải của kiến thức huyền bí; nhưng nếu ta thực hiện điều này th́ nhiều Ki Tô hữu thời nay ắt cảm thấy cay đắng nặng nề dường như thể những điều cốt yếu trong tín ngưỡng của ḿnh đang bị đả kích. Khó khăn lớn kế tiếp của chúng ta là sự khác nhau ghê gớm – hoặc nói cho đúng hơn những sự khác nhau ghê gớm – vốn chia rẽ các Ki tô hữu với nhau sao cho việc người ta có thể đi theo bất cứ con đường nào chăng nữa th́ rất có thể gặp phải một số phát biểu trong Ki Tô giáo bị thuyết giải một cách sai lạc bởi v́ người ta không xét nó theo đường lối đặc biệt. Đó là v́ chúng ta có Giáo hội Chính thống Hi Lạp và Giáo hội Công giáo La Mă, bao gồm đại đa số công chúng theo Ki Tô giáo; thế rồi chúng ta lại có một số rất lớn các giáo hội và giáo phái khác nhau được xếp loại theo tên gọi Tin Lành – một tên gọi thật là vụng về v́ nó chẳng khẳng định được điều ǵ mà chỉ tuyên bố sự chống đối các ư kiến của những Ki Tô hữu khác chủ trương. V́ thế cho nên trong cả ba phân bộ này (tôi tạm thời gọi chúng như vậy), ta thấy có một số lớn những sự mâu thuẫn nghiêm trọng, môn sinh muốn tŕnh bày một cách công tâm và tuyệt nhiên không bị xuyên tạc ắt thấy ḿnh ở trong một ḍng xoáy những phát biểu mâu thuẫn lẫn nhau, việc chấp nhận bất cứ phát biểu nào ắt khiến y xung đột với những phát biểu khác. Bên ngoài Thánh kinh và Tín điều của các Tông đồ, chẳng có điều ǵ được toàn thế giới Ki Tô hữu coi là việc tŕnh bày công tâm về giáo lư Ki Tô và có đầy dẫy sự tranh căi về ư nghĩa của chúng. Mọi giáo phái của thế giới Ki Tô hữu đều quan trọng hóa đặc biệt h́nh thức đức tin trí thức, điều này gây ra sự tranh luận cay đắng mà các tín ngưỡng khác chưa hề biết tới, tin tưởng chính xác là một điều kiện khắc khe để trở nên thành viên trong hầu hết các giáo hội thay v́ là việc tuân theo bất cứ qui tắc hành xử nào.

Ở đây tôi xin đề nghị làm theo như tôi thực hiện liên quan đến những tôn giáo khác – ta hăy xét các Thánh kinh, các Thánh kinh đă được chấp nhận của trọn cả tôn giáo và tŕnh bày của tôi là dựa vào các Thánh kinh ấy. Tôi sẽ sử dụng thêm nữa các tài liệu của Giáo hội thời sơ khai, cái gọi là giáo huấn của các “Đức Cha trong Giáo hội” soi sáng cho các Thánh kinh; thế rồi theo sự minh giải của huyền bí học, tôi sẽ cố gắng tháo gỡ những ǵ cốt yếu ra khỏi những điều không cốt yếu, tháo gỡ điều có thực và đúng thật ra khỏi những điều thêm thắt đă được dậm mắm thêm muối vào nó v́ thiếu kiến thức và rất thường khi là do nhu cầu cấp bách của những cuộc tranh căi. Vẫn c̣n một khó khăn lớn khác và đây là một điều có liên quan tới xúc cảm hơn là tới trí năng. Trong số các tôn giáo trên thế giới chỉ có Ki Tô giáo tự cho ḿnh là độc nhất vô nhị; mọi tôn giáo khác đều có được thẩm quyền đối với các tín đồ của riêng ḿnh và có thể nói là ở trong khuôn viên của ḿnh, công nhận giá trị của các tôn giáo khác và theo thông lệ giữ một lập trường trung lập đầy hảo ư đối với các tôn giáo khác chứ không tích cực chống đối. Nhưng đối với Ki Tô giáo th́ trường hợp này không phải như vậy. Ki Tô giáo tự cho ḿnh là sự khải huyền duy nhất, là tiếng nói duy nhất của Đức Chúa Trời đối với con người. Nó không cho phép tôn giáo cạnh tranh với nó trên diễn đàn; nó không thừa nhận bất cứ người anh em nào vào khuôn viên trong nhà của ḿnh; nó đứng một ḿnh không ai có thể tiếp cận được, xếp loại mọi tôn giáo khác trên thế giới đều là sai lầm, đôi khi với tên gọi khinh bỉ là Ngoại đạo, đôi khi th́ lịch sự hơn nhưng vẫn c̣n cái óc độc quyền ấy. Cố nhiên điều này khơi dậy những cảm xúc giận dữ ở cả phía này lẫn phía kia. Nhà tuyên truyền cho Ki Tô giáo nhấn mạnh tới giá trị tối cao trong đức tin của chính ḿnh và giá trị thấp kém của những đức tin khác; trong khi đó mặt khác các thành viên của những tín ngưỡng khác bất b́nh với việc Ki Tô giáo tự cho ḿnh là ưu việt, bèn cảm thấy có khuynh hướng chống đối lại Ki Tô giáo mà họ không cảm thấy giống như đối với các đức tin không phải là phái bộ truyền giáo trên thế giới. Nhất là ở trong một xứ như xứ này th́ những người không thuộc về Ki Tô giáo đều hiểu điều mà tôi không có cách nào gọi khác hơn là khía cạnh tồi tệ nhất của nó, khía cạnh đối lập của nó mà rủi thay rất thường có kèm theo bởi sự ma lỵ và xúc phạm đối với các tôn giáo xưa hơn. Điều này khiến cho bạn rất khó ḷng thông cảm hiểu được tôn giáo thực chất là ǵ v́ bạn đă quan sát nó với một khía cạnh bất lợi nhất dựa vào khía cạnh hiếu chiến hơn là dựa vào khía cạnh thực sự mang tính tôn giáo. Do đó sáng nay tôi xin yêu cầu bạn tạm thời hăy vứt bỏ ra khỏi tâm trí ḿnh mọi điều xúc phạm tới tôn giáo của bạn, mọi điều có thể khơi dậy nơi bạn những xúc cảm đối lập và xem xét tôn giáo này giống như khi bạn dễ dàng xem xét các tôn giáo khác, coi đó là một cách thức mà Đấng Tối Cao đang rèn luyện một số lớn gia đ́nh nhân loại của ḿnh, là một tôn giáo mang lại sự trợ giúp, tiện nghi và giáo huấn tâm linh cho hàng triệu người trong nhân loại. Nếu nó gây đau khổ (nó thường gây đau khổ như vậy) do sự thiếu minh triết của các đại biểu hiếu chiến th́ hăy cố gắng quên nó đi và hăy nh́n vào tôn giáo coi nó là một tôn giáo chứ không phải là một tác nhân tân ṭng hóa.

Với lời nói đầu như vậy (trong xứ này đây là sự dẫn nhập cần thiết) tôi muốn chinh phục cảm t́nh về vấn đề này v́ nó là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới – ta hăy xem xét những người có thẩm quyền và hăy xem ta phải bàn tới nó ra sao khi nghiên cứu về tôn giáo, liệu ta có thể hiểu được môi trường xung quanh bao xa mà nó dần dần tăng trưởng trong đó, v́ nếu không nghiên cứu môi trường ấy th́ ta sẽ chẳng bao giờ hiểu được cách tŕnh bày sau này của các giáo lư và ta sẽ chẳng bao giờ nhận ra được cách thức tăng trưởng của nó.

Trước hết ta có một vài “sách giáo luật” mà mọi phân bộ Giáo hội Ki Tô đều chấp nhận như nhau v́ tuyệt nhiên không có sự thách đố của các Giáo hội Hi Lạp, Công giáo La Mă hoặc Giáo hội Tin Lành. Tất cả đều được chấp nhận như nhau mà không thắc mắc ǵ; một vài quyển sách được gom góp lại với tên gọi Cựu Ước và Tân Ước, cùng nhau hợp thành Kinh Thánh tức là những quyển sách bao hàm sự khải huyền thiêng liêng, bất cứ điều ǵ trái với nó đều được coi là ngoại đạo. Kinh Cựu Ước, phân bộ cổ truyền hơn của các Kinh điển giáo luật này, bao gồm một số lớn những quyển sách khác nhau, nhiều quyển mang tính lịch sử được tiếp thu từ quốc gia Do Thái giáo hoặc Hebrew. Tác phẩm của họ trải rộng qua một thời gian dài và sự nối tiếp những quyển sách này được đánh dấu bởi một sự tăng trưởng rất rơ rệt từ một t́nh trạng tương đối dă man, trong khi mà tôn giáo lại hẹp ḥi, đầy những sự hiến tế có tính cách đặc biệt khát máu; măi cho tới những thời kỳ sau này khi dân tộc Hebrew phần lớn đă tiếp xúc với những nền văn minh khác (đặc biệt là với những nền văn minh bị thống trị bởi tôn giáo Zoroaster) tiếp thu vào tín ngưỡng của chính ḿnh một quan niệm cao cả hơn và rộng lớn hơn về Đấng Thiêng Liêng mà ta thấy được tŕnh bày trong những tác phẩm tiên tri. Những tác phẩm này bao gồm một số đoạn cao cả nhất nói về bản chất của Thượng Đế cũng như về tính công chính mà Thượng Đế đ̣i hỏi nơi con người. Bây giờ tôi đề cập tới những thứ này một cách chi tiết hơn, nhưng trước hết sẽ kết thúc vấn đề về những thẩm quyền. Trong kinh Cựu Ước, ta có những Thánh vịnh vốn là những thánh ca có bản chất khá giống những thánh ca mà ta thấy trong các tôn giáo khác, giống như thánh ca trong kinh Phệ đà hoặc Gāthās trong Bái hỏa giáo. Một số thánh ca được đánh dấu bởi tinh thần cao cả nhất và cao siêu nhất, một số thánh ca thuộc về giai đoạn sơ khai hơn, có tính cách cực kỳ hiếu chiến và tuyệt nhiên không luôn luôn rất tốt hoặc rất cao siêu về mặt đạo đức. Thế rồi ta xét tới những tài liệu bao gồm bên dưới tựa đề Tân Ước. Kinh này gồm bốn Phúc âm, bao hàm cuộc đời của người sáng lập ra tôn giáo ấy, tường tŕnh về Giáo hội sơ khai, một số thánh thư mà các tín đồ viết cho các giáo phái khác thuộc Giáo hội ấu thơ và một quyển sách tiên tri. Trong bản thân các Phúc âm có tương đối ít giáo lư; ta có thể suy diễn ra một vài giáo lư từ đó nhưng có ít phát biểu có thẩm quyền; đúng hơn là ta thấy có một số lớn các huấn điều về luân lư, một số lớn các giáo huấn của Đấng Ki Tô mang tính cách luân lư nhiều hơn triết học; thế rồi trong các thánh thư có chứa đựng hầu hết các phát biểu giáo điều phác họa các giáo lư về đức tin. Bên ngoài các giáo luật này được tuyển lựa ra từ một đống tài liệu xét về mặt kinh Tân Ước, ta có cái gọi là các Kinh điển ngụy tác. Kinh điển ngụy tác của tín đồ Do Thái giáo là những tác phẩm đặc biệt đáng chú ư, một trong những sách đó là Sách Minh Triết, là một tài liệu cực kỳ hay ho và bộc lộ rất nhiều tính linh. Những sách này thường được tín đồ Công giáo La Mă chấp nhận hoàn toàn hơn là các Giáo hội Tin Lành. Trong các thánh kinh Công giáo La Mă, chúng thường bị ràng buộc giữa kinh Cựu Ước và Tân Ước, trong khi đại đa số các kinh thánh của Tin Lành th́ chúng bị loại bỏ, coi là không phải giáo luật. Kế đó chúng ta có một khối kinh ngụy tác liên quan tới Giáo hội thời sơ khai, các Phúc âm của Mary, của Peter, của James v. v. . . – những câu chuyện về thời Thơ ấu của Chúa Giê su, câu chuyện về sinh hoạt sau này của Ngài, câu chuyện Ngài giáng xuống địa ngục, làm việc trong thế giới vô h́nh – một khối những tài liệu, rất nhiều tài liệu cực kỳ thú vị cho thấy tài liệu của Ki Tô giáo nguyên thủy thú vị và mang đầy tính giáo huấn đối với học viên, cần được nghiên cứu nếu y muốn biết điều mà tôi có thể gọi là môi trường xung quanh trí thức của Giáo hội thời sơ khai. Những thứ này không bao giờ được xếp chung với tác phẩm được gọi là Kinh thánh; chúng tạo thành một kho tài liệu văn chương lớn, một số rất lớn tài liệu mà môn sinh phải đọc được nếu y muốn biết chút ít về Ki Tô giáo thời sơ khai. Cuối cùng th́ chúng ta có một kho tài liệu bao la của các Đức Cha, của các Giám mục, của các bậc đạo sư trong Giáo hội thời sơ khai; đặc biệt lướt qua phần cuối cùng từ thế kỷ thứ 2 sang thế kỷ thứ 3, thứ 4 và thứ 5 – một lần nữa đây là một khối lượng tài liệu đồ sộ, nếu ai không biết tới chúng th́ y không đủ thẩm quyền để nêu ra ư kiến về giáo lư Ki Tô, y cũng chẳng thể tự cho ḿnh là một bậc đạo sư hoặc người xiển dương Ki Tô giáo. Kho tài liệu này được những người có học thức nhất viết ra, những người mà Giáo hội sau này đă từng phong thánh cho nhiều vị, chẳng hạn như thánh Clement ở Alexandria, thánh Irenaeus và nhiều thánh khác. Đây là những tài liệu có giá trị đồ sộ nhằm t́m hiểu sự tăng trưởng của Ki Tô giáo, và nó phần lớn là do sự cẩu thả cực độ của Giáo hội Tin Lành đối với chúng. Do sự vô minh dày đặc trong nội dung của chúng mà theo thông lệ ta thấy trong đám giáo sĩ Tin Lành ít học; đến nỗi Ki Tô giáo thường được tŕnh bày theo một khía cạnh thô thiển, hẹp ḥi và phản triết học, đến nỗi nhiều người có học thức bác bỏ nó v́ nó dường như phi lư đối với họ. Nếu các Giáo hội Tin Lành nghiên cứu kho tài liệu này (tín đồ Công giáo La Mă chắc chắn là như vậy) th́ họ ắt có nhiều ảnh hưởng hơn hiện nay đối với tầng lớp trí thức có văn hóa ở Âu Tây, v́ trong tài liệu này ta có cơ sở triết học và siêu h́nh học của Ki Tô giáo. Thế nhưng bạn vượt ra ngoài phạm vi Giáo hội Anh quốc th́ bạn liệu biết t́m đâu ra nhiều giáo sĩ Tin Lành có học hoàn toàn thông thạo về những tài liệu này? Nếu bạn xâm nhập vào các Giáo hội ly khai th́ bạn rất hiếm khi gặp được một tu sĩ nghiên cứu chúng theo bất cứ cách nào; thế là bạn gặp một lớp người đặc biệt cứ nhắc lại phát biểu cho rằng “Thánh kinh và chỉ Thánh kinh thôi mới là tôn giáo của Tin Lành”. Kết quả của điều này là một dạng phản triết học nhất trong Ki Tô giáo, làm cho tâm trí của một số ít người biết suy tư mang tính trí thức và triết học hoàn toàn không tin cậy vào nó. Đối với truyền thuyết truyền khẩu – v́ trong bốn Phúc âm bạn thấy phần lớn là truyền thuyết truyền khẩu bao hàm cuộc đời của nhà Sáng lập – những truyền thuyết này được chọn lựa khá trễ vào thế kỷ thứ 2, được tập hợp lại dưới tên gọi của bốn trong số các đại Tông đồ của Giáo hội. Ta thấy rơ chúng được tuyển lựa từ nhiều tài liệu khác qua lời nói đầu của Phúc âm thứ ba, trong đó tác giả bắt đầu bằng cách nói rằng: “Đó là v́ người ta đă đảm nhiệm việc tŕnh bày có trật tự lời tuyên bố về những điều mà chắc chắn là chúng ta tin nhất, ngay cả khi chúng được trao truyền cho chúng ta, thoạt kỳ thủy là những người chứng kiến tận mắt và những tu sĩ đối với linh từ; tôi dường như cũng thấy hạnh phúc khi hoàn toàn thấu hiểu được mọi chuyện ngay từ đầu để viết cho bạn một cách mạch lạc” [“Thê-ô-phi-lơ quí nhơn ơi v́ chưng đă có nhiều người cầm bút chép chuyện về những việc đă hoàn toàn thành tựu giữa chúng ta, theo như những kẻ từ ban đầu đă làm người chứng kiến và thừa sai của đạo từng truyền lại cho chúng ta; nên sau khi ḍ xét đúng đắn từ đầu mọi sự, th́ tôi cũng tưởng lấy làm tốt mà theo thứ tự viết cho ông đây, để ông biết những điều ông thọ giáo là xác thực.]; tác giả đă viết như vậy trong Phúc âm. Thế mà đây là một điều quan trọng, nó chỉ đường cho bạn những bài tường thuật này được viết ra sao. Trước hết câu chuyện được truyền khẩu. Trong Ki Tô giáo, cũng như trong mọi tôn giáo khác, có một khối lớn truyền thuyết truyền khẩu, được truyền từ miệng này sang miệng kia chứ không được viết ra. Nhiều giáo huấn thiêng liêng chưa bao giờ được viết ra như ta sẽ thấy theo sự chứng nhận của một số Đức Cha trong Giáo hội; tín điều mà mọi Ki Tô hữu được dạy bảo phải được nhắc lại chứ không được viết ra, chỉ được dạy dỗ qua truyền khẩu, được dùng làm một dấu hiệu để nhận ra một địa vị nào đó trong Giáo hội. Thời kỳ giáo huấn truyền khẩu này vô cùng quan trọng và sự tồn tại của nó được chứng minh thêm nữa do trích dẫn của những phát biểu của Chúa Giê su được tŕnh bày qua các Đức Cha thời sơ khai nhất thông qua những người như Justin, Martyr, Ignatius, là Người chăn chiên ở Hermas và những người khác, họ trích dẫn lời nói của Chúa, gồm những câu mà ta không t́m thấy trong Phúc âm giáo luật nhưng lại t́m thấy trong cái gọi là kinh ngụy tác. Phần giáo luật là những tuyển lựa từ một truyền thuyết rộng lớn hơn được kết tập lại vào một thời kỳ sau này. Ta ắt phải xét tới Clement ở Alexandria, một trong những vị cha vĩ đại nhất của Giáo hội, xét tới Tertullian, tới Origen, họ đă để lại những tác phẩm đồ sộ giúp cho ta thấy tỉ mỉ t́nh trạng của Giáo hội vào lúc đương thời và chúng ta sẽ tùy thuộc vào những thứ này để xác lập một vài lập trường căn bản, nếu không có chúng bạn sẽ đối xử bất công với Ki Tô giáo giống như ngày nay biết bao tín đồ của nó lại đối xử bất công với nó.

Trước hết trong những lập trường sơ bộ này có việc phân chia giáo huấn Ki Tô giáo ra thành hai phần: phần được khải huyền và phần không được khải huyền; giáo lư công truyền và giáo lư bí truyền. Cách phân chia này tồn tại trong đám dân Hebrew. Họ ảnh hưởng rất nhiều tới truyền thuyềt sơ khai của Ki Tô giáo, và họ có một hệ thống bí mật mà ta biết với tên gọi là Kinh Kabalah. Giờ đây tôi sẽ không nói tới nó mặc dù nó cũng được biết bởi môn sinh Ki Tô giáo tha thiết nhất. Nhưng tôi muốn bạn chú ư tới một vài phát biểu của Đấng Ki Tô với các Tông đồ và những bậc đạo sư thời sơ khai; chúng chứng tỏ một cách hoàn toàn không thể chối căi được sự tồn tại của giáo huấn ẩn tàng tức bí truyền; sự thất truyền của giáo huấn này trong một vài bộ phận của Giáo hội giải thích phần lớn được những phát biểu thô thiển mà giờ đây ta nghe nói tới về Đức Thượng Đế và linh hồn con người. Trước hết ta hăy xét một hoặc hai phát biểu của chính Đấng Ki Tô về cách thức giáo huấn của chính Ngài. Ta thấy nổi bật lên trên đó lời tuyên bố của Ngài đối với các thánh Tông đồ: “Ta ban cho con biết được điều bí nhiệm của thiên giới: nhưng đối với họ th́ nó ở bên ngoài, c̣n tất cả những điều này đều được thực hiện trong các dụ ngôn” [1] [Đă ban cho các ngươi sự mầu nhiệm của nước Đức Chúa Trời, c̣n đối với người ngoài th́ dạy mọi sự bằng thí dụ, hầu cho họ xem th́ thấy mà không nhận biết, lắng th́ nghe mà không hiểu]. Origen b́nh luận về lời tuyên bố này của Đấng Ki Tô như sau: “Tôi chưa nói tới việc tuân thủ tất cả những ǵ được viết ra trong Phúc âm; mỗi một Phúc âm đều bao hàm nhiều giáo lư khó hiểu chẳng những đối với đại chúng mà c̣n ngay cả đối với một vài người thông minh hơn, bao gồm một lời giải thích rất sâu xa về những dụ ngôn mà Chúa Giê su dành cho “những người bên ngoài”, trong khi Ngài dành việc tŕnh bày trọn vẹn ư nghĩa của chúng cho những người đă vượt quá giai đoạn giáo huấn công truyền và họ đến với Ngài một cách riêng tư trong nhà. Và khi đạt đến mức hiểu được nó th́ y mới chịu thần phục cái lư do tại sao một số người nghe nói là ở “bên ngoài” c̣n những người khác “ở trong nhà” [2]. Thế là Origen đă vạch ra một sự phân biệt giữa những người ở bên ngoài, những người không có học, không biết chữ, quần chúng; họ chỉ được dạy phần căn bản sự thật dựa vào các dụ ngôn; c̣n những người ở trong nhà, các tông đồ và đệ tử mà Ngôi Lời của Thượng Đế đă được khải huyền trọn vẹn, người ta không tŕnh bày các điều bí nhiệm của thiên giới cho thế giới bên ngoài. Thế rồi ta lại thấy Chúa Giê su nói với các môn đồ những lời lẽ khiến cho ta không thể hiểu lầm: “Đừng quẳng điều ǵ linh thiêng cho lũ chó, đừng ném chuỗi ngọc trai cho lũ heo kẻo chúng dùng chân dẫm đạp lên chuỗi ngọc trai ấy” [3][Đừng bỏ vật thánh cho chó, cũng đừng quăng ngọc châu ḿnh cho heo, kẻo nó giày đạp, rồi quay lại cắn xé các ngươi]. Ta biết ư nghĩa của từ ngữ “chó” chẳng những do việc các sử gia Do Thái sử dụng mà do chính Chúa Giê su thốt ra nữa. Từ ngữ này được dùng để miêu tả mọi quốc gia không có mầm mống của Abraham. Và ta thấy rằng khi một phụ nữ Syro-Phoenicia đến với Chúa Giê su khẩn cầu Ngài vận dụng quyền năng phép lạ, th́ câu trả lời đầu tiên của Ngài là: “Điều này không có nghĩa là lấy bánh ḿ của con trẻ để quẳng nó cho lũ chó”. Bà ngoan ngoăn chấp nhận danh hiệu này và trả lời: “Thế nhưng lũ chó lại ăn mẩu vụn của bánh ḿ rơi rớt từ bên bàn ăn của chủ” [4] [Không lẽ lấy bánh của con cái mà quăng cho chó nhỏ] [Dầu vậy chó nhỏ cũng được ăn những miếng vụn trên bàn chủ rơi xuống]. Điều này khiến cho ư nghĩa của từ ngữ “chó” tuyệt nhiên không đáng tranh căi, nó có nghĩa là những người không ở trong giới hạn của Thiên giới. Vậy là các Đức Cha thời sơ khai hiểu được ư nghĩa và tuân theo nó. Họ cũng dùng chính cái chính sách ấy. Clement ở Alexandria khi trích dẫn chính những lời lẽ này bảo rằng thật khó mà dạy được “những người nghe mất dạy giống như lũ heo” [5]. Vậy là Chúa Giê su lại nói với các môn đồ: “Ta c̣n có nhiều điều để nói với các con, nhưng hiện nay các con không chịu nổi những lời lẽ ấy đâu” [6] [Ta c̣n có nhiều điều để nói với các ngươi nữa, nhưng bây giờ các ngươi không thể đương nổi]. Theo truyền thuyết của các Đức Cha, Ngài vẫn c̣n lại trên trần thế sau khi đă phục sinh được 11 năm để dạy dỗ những điều bí mật cho các Tông đồ. Thánh Clement có nói về tri thức linh thiêng này. “Nó được nói ngay từ đầu là chỉ cho những kẻ nào hiểu được. Giờ đây khi Đấng Cứu Thế đă dạy cho các Tông đồ việc tŕnh bày các kinh điển không được phép viết ra th́ chúng cũng đă được trao truyền lại cho chúng ta” [7]. Theo Công vụ các Tông đồ, th́ Ngài chỉ ở lại trong 40 ngày, nhưng trong ṿng 40 ngày này Ngài giáo huấn cho họ về những sự vật trong Thiên giới [8] [Sau khi chịu khổ hại, Ngài lấy nhiều bằng cớ tự tỏ cho họ biết ḿnh sống, trải bốn mươi ngày từng hiện ra với họ, phán bảo những điều về nước Đức Chúa Trời] và những giáo huấn này c̣n chưa được ghi chép lại. Trong các Kinh điển giáo luật của Giáo hội không có dấu vết ǵ về các giáo huấn này. Thật vậy, Origen đă nhận xét về chính sự kiện này cho rằng Chúa Giê su đàm đạo với các môn đồ trong chốn riêng tư và nhất là trong những nơi ẩn dật bí mật liên quan tới Phúc âm của Thượng Đế; nhưng những lời lẽ mà Ngài thốt ra đă không được bảo tồn” [9]. Cũng bằng cách ấy, ta thấy thánh Paul cũng nói như vậy, Ngài nói với những người cải đạo thuộc giáo hội Corinth: “Hỡi các huynh đệ, ta không thể nói với các bạn về điều tâm linh mà phải nói về điều xác thịt, cũng như nói về hài nhi Ki Tô” [10] [Anh em ơi, về phần tôi, tôi chẳng có thể nói với anh em như với người thuộc linh, nhưng như với người thuộc xác thịt, như với con trẻ trong Christ vậy]. Lại nữa, “Chúng ta nói minh triết của Đức Chúa Trời một cách bí mật, ngay cả minh triết ẩn tàng” [11] [Nhưng chúng tôi giảng sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, là lẽ mầu nhiệm vốn được giấu kín] và “Chúng ta nói minh triết cho những người hoàn hảo” [12] [Dầu vậy ở giữa những kẻ trọn vẹn chúng tôi cũng giảng sự khôn ngoan], không phải trong đám thường thường bậc trung mà trong đám toàn bích có một tên gọi được nhận rơ theo ư nghĩa chuyên môn xét theo các phát biểu của những Đức Cha, những vị này đă được khai tâm vào các bí pháp và do đó được hoàn hảo trong nội bộ Giáo hội. Tôi có thể trích dẫn những văn bản khác nhưng như thế cũng đủ rồi và chúng ta hăy chuyển sang việc thực hành của Giáo hội vốn được tŕnh bày nơi các Đức Cha. Clement ở Alexandria nêu rơ rằng trong các tác phẩm của ḿnh, ông chỉ có ư định nhắc cho bạn đọc nhớ lại sự thật mà họ đă tiếp thu được trọn vẹn hơn trong cách tŕnh bày khẩu truyền: “Tôi thừa nhận rằng tài liệu về các kỷ yếu này của tôi vốn tầm thường khi so sánh với cái tinh thần đầy ân huệ mà tôi có đặc quyền được nghe. Nhưng có một h́nh ảnh gợi cho y nhớ lại cái nguyên h́nh đối với kẻ nào đă trúng đ̣n Thyrsus” [13], một câu mà mọi nhà huyền bí học đều hiểu được. Ông viết rằng “Người ta không mong ước rằng sẽ tŕnh bày mọi thứ một cách không phân biệt cho mọi người tức là những lợi ích của minh triết được truyền thụ cho những người thậm chí ngay trong giấc mơ cũng không được tẩy rửa về linh hồn (v́ không được phép trao truyền cho mọi kẻ ngẫu nhiên hạnh ngộ những điều chỉ thụ đắc được bằng những nỗ lực vất vả như thế); những điều bí nhiệm về Ngôi Lời cũng không thể được phơi bày cho kẻ phàm phu” [14]. Khi Celsus đả kích Ki Tô giáo là một hệ thống bí mật th́ Origen trả lời rằng: “Thật hoàn toàn phi lư khi bảo rằng giáo lư Ki Tô là một hệ thống bí mật. Nhưng sẽ có một vài giáo lư không thể phổ biến cho đại chúng; những giáo lư này chỉ được khải huyền sau khi người ta đă dạy dỗ các giáo lư công truyền; đây đâu phải chỉ là đặc điểm của Ki Tô giáo không thôi mà c̣n là nét đặc thù của các hệ thống triết học, trong đó một vài sự thật mang tính cách công truyền c̣n lại những sự thật khác mang tính cách bí truyền” [15]. Để bảo tồn trật tự đúng đắn, các Ki Tô hữu đă cải đạo được dẫn dắt lần lượt trải qua các giai đoạn khác nhau; thoạt tiên họ là những kẻ đi dự thính, rồi tới các tín đồ tân ṭng để rồi sau khi được rửa tội, họ trở thành con chiên chính thức của Giáo hội. Bên trong chính Giáo hội cũng có các cấp; trước hết là các con chiên phổ thông, từ đám đó những người nào có cuộc sống trong sạch sẽ tiến lên cấp hai; “bất cứ người nào trong sạch chẳng những thoát khỏi mọi ô nhiễm mà thoát khỏi điều được gọi là những sự vi phạm nhỏ nhặt hơn, th́ kẻ đó sẽ được mạnh dạn khai tâm vào các bí pháp của Chúa Giê su vốn đích thực chỉ được tiết lộ cho kẻ thánh thiện và trong sạch. . . Đấng đóng vai tṛ khai tâm theo các huấn điều của Chúa Giê su sẽ nói với những người trong ḷng được rửa sạch như sau: “Trong một thời gian dài, kẻ nào mà phần hồn không c̣n ư thức về điều ác nữa và đặc biệt từ khi y tuân phục sự chữa trị của Ngôi Lời th́ xin người như thế hăy nghe được những giáo huấn mà Chúa Giê su nói trong chốn riêng tư cho các môn đồ chân chính của Ngài”[16]. Đây là “một vài người được tuyển lựa” từ nhiều người có “ơn gọi” và vượt ngoài đám đó c̣n có “những người được tuyển lựa từ nhóm những người được tuyển lựa”, có “tri thức hoàn hảo” và “sống trong sự hoàn hảo chính đáng theo Phúc âm” [17]. Tertullian phàn nàn về người ngoại đạo là họ không bảo toàn được thứ tự này mà đối xử với mọi người đều như nhau: “Để bắt đầu th́ ta có thể hoài nghi về kẻ tân ṭng và tín đồ; họ đều cùng được tiếp cận như nhau, cùng được dự thính như nhau, cùng được cầu nguyện như nhau – thậm chí đó là những kẻ ngoại đạo nếu có bất kỳ điều nào xảy đến trong đám họ. Điều thánh thiện th́ họ lại quẳng cho lũ chó, c̣n mớ ngọc trai của họ - mặc dù chắc chắn không phải là ngọc trai thực – th́ họ lại đem quẳng cho lũ heo” [18].

Ít ra th́ một phần trong giáo huấn này có liên quan tới ư nghĩa chân thực của các Thánh kinh vốn tuyệt nhiên được chấp nhận chỉ là những tài liệu lịch sử và luân lư giống như ngày nay. Origen giải thích – và phát biểu của ông đặc biệt có giá trị, v́ chính Socrate cũng khẳng định rằng ông là “người xiển dương truyền thống thần bí của Giáo hội” [19]. Ông khẳng định rằng Thánh kinh có ba ư nghĩa: “ư nghĩa “xác thịt” cho người phàm, ư nghĩa “phần hồn” cho người có giáo dục hơn, ư nghĩa “tinh thần” cho kẻ hoàn hảo và ông đă trích dẫn những lời của Thánh Paul mà ta có nhắc tới về “minh triết của Đức Chúa Trời trong một điều bí nhiệm”. Các câu chuyện là dành cho “xác thịt” và rất hữu ích cho kẻ đơn giản và dốt nát, nhưng người ta thường du nhập những điều phi lư để chứng tỏ rằng có một ư nghĩa ẩn tàng và các phúc âm “không bao hàm suốt cả một lịch sử thuần túy các diễn biến quả thật đan bện vào nhau, theo bức thư này – nhưng không thực sự xảy ra”. “Bản thân các phúc âm đầy dẫy cùng một loại câu chuyện nghĩa là ma quỉ đưa Giê su lên tới núi cao . . . và bạn đọc chú ư có thể nhận thấy trong phúc âm vô số những đoạn khác giống như vậy, sao cho y ắt tin chắc rằng trong những câu chuyện được ghi lại theo sát nghĩa th́ người ta đă xen vào những hoàn cảnh không đáng xảy ra” [20]. Đủ thứ các Đức Cha đă nêu ra một số những lời bóng gió về phương pháp thuyết giải thánh kinh của ḿnh, hiển nhiên là một hệ thống rất hoàn chỉnh vẫn hiện hữu, ít ra th́ một trong những bí quyết là con số. Nhưng chúng tôi không có đủ thời giờ để đi theo cái lối ṃn hấp dẫn này.

Xét theo mục đích của ḿnh, ta chỉ cần chứng tỏ rằng cũng giống như các tôn giáo lớn khác, Ki Tô giáo có giáo huấn bí mật hạn chế cho thiểu số. Giáo lư này phần lớn đă bị thất truyền trong trận lụt vô minh quét qua Âu châu sau khi đế quốc La Mă suy sụp và sự thuyết giải thô thiển tức giáo huấn dành cho đại chúng bèn thay thế cho những sự thật tâm linh mà chỉ một số ít người biết tới. Một vài mảnh vụn vẫn sống c̣n trong tầm kiểm soát của các Giáo hội Hi Lạp và La Tinh; những biểu tượng và nghi thức vẫn c̣n nói tới sự hiện diện nguyên thủy của chúng, nhưng với vai tṛ là một giáo huấn theo hệ thống th́ chúng đă biến mất bỏ lại Ki Tô giáo bị cắt xén hết sức mạnh của ḿnh. Giờ đây người Tin Lành rất thường ưa kết án giáo huấn trừ phi đó là loại giáo huấn mà kẻ dốt nát nhất, thất học nhất và ấu trĩ nhất có thể hiểu được; và kết quả của chính sách này nơi các xứ Tin Lành chính là trong khi các Giáo hội kiểm soát được người dốt nát th́ họ không kiểm soát được những người có học hơn; đó là v́ sự tŕnh bày về Thượng Đế và Thiên nhiên thỏa măn được tâm trí của đứa trẻ, thỏa măn được đầu óc của người hoàn toàn thiếu văn hóa và thiếu triết lư, bao giờ ắt cũng là một sự biểu diễn làm cho tâm trí triết gia phải dội lại, những năng lực rộng lớn và sâu sắc hơn đ̣i hỏi một điều ǵ đó nhiều hơn mức thỏa măn được những năng lực đang lố dạng của điều khác nữa. Bằng cách này Ki Tô giáo trở nên suy yếu đí, bằng cách này sự đa nghi đă phát triển rộng răi và ta thấy con người vứt bỏ trọn cả Ki Tô giáo bởi v́ việc tŕnh bày chúng hoàn toàn không đáng cho giới trí thức lĩnh hội và bởi v́ nó mâu thuẫn với những sự kiện rành rành nhất của khoa học.

Giờ đây ta hăy vội vă truy nguyên sự tiến hóa tôn giáo của quốc gia Hebrew để cho ta có thể hiểu được địa vị của Đấng khai sáng ra Ki Tô giáo, quan niệm về Đức Chúa Trời thịnh hành trong thời của Ngài cũng như những sự thay đổi mà quan niệm ấy đă trải qua. Trong những quyển sách xưa cũ nhất của Thánh kinh Hebrew, chúng ta có một quan niệm rất hạn hẹp về Thượng Đế và cho dù chúng có thể là sự thật đối với chư Thần linh hạ đẳng, tương đối hẹp ḥi về cá tính và hạn chế về quyền năng (mọi vị thần linh hạ đẳng đều tất nhiên phải như thế) th́ một số ư tưởng này lại cực kỳ mang tính cách mạng khi chúng được áp dụng cho Đấng Thiêng liêng Tối cao và được tŕnh bày là những sự mô tả về Thượng Đế duy nhất, Ngôi Lời Tối Cao, Ngài chủ tŕ vũ trụ, mang lại sự sống và cấp dưỡng cho muôn loài. Nhân tiện tôi chỉ cần nhắc lại cho bạn nhớ tới nhiều phát biểu chẳng hạn như cách thức mà vị đại biểu hạn hẹp này của đấng thiêng liêng có thể giáng xuống để dạo chơi trong vườn Địa đàng, giáng xuống để làm đảo lộn những kẻ xây tháp Babel v. v . . . v́ bạn ắt nhận ra ngay tức khắc rằng ḿnh đang giáp mặt với những thực thể thiêng liêng hạ đẳng chứ không phải với Ngôi Lời. Nhưng ta hăy chuyển sang từ ngữ những thực thể này với mọi sự hiến tế đẫm máu bao quanh chúng và xét tới những quan niệm cao cả hơn của các nhà tiên tri vốn uốn nắn những quan điểm sau này được chọn theo trong Giáo hội Ki Tô. Ở đây ta thấy một ư tưởng về Thượng Đế vốn có tính cách cao cả và thanh khiết. Ngài cốt yếu là thánh thiện, là Đấng thiêng liêng của Israel; Ngài là “Đấng Cao Cả cao siêu ngự nơi cơi vĩnh hằng với hồng danh là Đấng Thánh Thiện” [21][Đấng cao cả ở nơi đời đời vô cùng, danh Ngài là Thánh]. Ngài là “Đức Chúa Trời, Ngài đă sáng tạo ra các cơi trời và banh chúng ra; Ngài đă phanh phui trái đất và đều xuất lộ từ đó, Ngài đă mang lại hơi thở cho những người trên trái đất và mang lại tinh thần cho những người bước trên đó” [22] [Giê hô va Đức Chúa Trời, là Đấng dựng nên các từng trời và giương ra, đă trải đất với mọi sự ra bởi nó, đă ban hơi sống cho dân ở trên nó, và thần linh cho mọi loài đi trên nó]. Ngài là Đấng Thượng Đế duy nhất: “Trước ta không có Thượng Đế nào được tạo dựng và sau ta cũng thế thôi. Thậm chí ta là Đấng Chúa Tể và ngoài ta ra không có sự cứu chuộc” [23] [Chẳng có Đức Chúa Trời nào tạo thành trước ta, và cũng chẳng có sau ta nữa. Ấy chính ta, chính ta là Đức Giê hô va, ngoài ta không có cứu chuộc nào khác]. Liên quan tới quan niệm cao siêu này về Đức Chúa Trời, ta có thể thấy nhiều vết tích của ảnh hưởng đối với con người không thể thoát được Hebrew của đức tin Bái hỏa giáo.

Những ư tưởng của họ trước và sau khi trở thành tù nhân vốn khác hẳn nhau. Cũng có một đ̣i hỏi đúng đắn để có được sự thanh khiết, khinh thường những nghi thức bên ngoài khi chúng không liên quan tới sự cao cả bên trong của tính t́nh, sự khinh thường đôi khi thậm chí biểu hiện khốc liệt hơn dường như thể có sự công phẩn áp đảo trước ư tưởng cho rằng bất cứ ai cũng dám hiến cho một vị Thượng Đế thánh thiện chỉ là những nghi thức bên ngoài, thay v́ là một cuộc đời công chính và cao thượng. Chẳng hạn như hăy xét tới một đoạn văn rất quả quyết mà ta thấy nơi bậc đạo sư Amos: “Tôi ghét, tôi coi thường những ngày lễ của bạn và tôi sẽ không ngửi mùi trong những buổi họp trang trọng của bạn. Mặc dù bạn hiến cho tôi những phẩm vật hiến tế đă được thiêu đốt và những phần hiến tế thịt, th́ tôi sẽ không chấp nhận chúng, tôi cũng chẳng coi trọng sự hiến tế an b́nh những con thú mỡ màng của bạn. Bạn hăy lấy đi tiếng động trong những bài hát của bạn v́ tôi sẽ không nghe tiếng du dương của đàn viols. Nhưng mong sao sự phán đoán sẽ xuôi chiều như nước và sự công chính sẽ là ḍng suối cuồn cuộn”[24][Ta ghét, ta khinh để những lễ kư của các ngươi; ta không đẹp ḷng về những hội trọng thể của các ngươi. Dầu các ngươi dâng những của lễ thiêu và của lễ chay cho ta, ta sẽ không nhận lấy, ta chẳng đoái xem những con thú mập về của lễ thú ăn các ngươi. Hăy làm cho tiếng của bài hát các ngươi xa khỏi ta. Ta không khứng nghe tiếng đờn cầm của các ngươi. Thà hăy làm cho sự chính trực chảy xuống như nước và sự công b́nh như sông lớn cuồn cuộn] . Đó là tinh thần của các bậc đạo sư sau này. Bạn có thể xét một ví dụ khác của Isaiah nơi mà người ta đang phàn nàn rằng mặc dù họ ăn chay th́ Thượng Đế vẫn không lắng nghe họ, họ đă làm cho thể xác và linh hồn ḿnh đau khổ mà Ngài vẫn chẳng đoái hoài tới; thế rồi câu trả lời như sét từ trời rớt xuống trên núi Sinai: “Đâu phải việc bạn ăn chay như ngày nay mới khiến cho nguyện vọng của bạn được lắng nghe ở trên cao. Phải chăng đó là một sự ăn chay mà tôi đă lựa chọn, một ngày dành cho một người làm cho tâm hồn ḿnh đau khổ, phải chăng việc cúi đầu như một cây hương bồ và trải ra vải bố cùng với tro than bên dưới y, liệu bạn có gọi đây là một cuộc trai giới và một ngày có thể chấp nhận được đối với Đấng Chúa Tể? Phải chăng đây là trai giới mà tôi đă chọn: buông lỏng bàn tay làm chuyện độc ác, tháo gỡ đi những gánh nặng và để cho kẻ bị áp bức được giải thoát th́ bạn sẽ phá vỡ được mọi gông cùm. Chẳng lẽ lại không ban cấp bánh ḿ cho người đói và lại không mang tới cho người nghèo những thứ thừa thải trong nhà ḿnh? Khi bạn thấy người ta trần trụi th́ hăy cấp quần áo cho thiên hạ để cho bạn không dùng nó để che giấu xác thịt của chính ḿnh. Thế rồi khi ánh sáng bừng lên vào buổi ban mai th́ sức khỏe của bạn bộc phát mau lẹ, sự công chính của bạn sẽ đi trước bạn; sự vinh diệu của Chúa sẽ là phần thưởng của bạn” [25] [Thật, các ngươi kiêng ăn để t́m sự căi cọ tranh cạnh, đến nỗi nắm tay đánh nhau cộc cằn; các ngươi kiêng ăn trong ngày như vậy, th́ tiếng các ngươi chẳng được nghe thấu nơi cao. Đó há phải là sự kiêng ăn mà ta chọn lựa, há phải là ngày người ta dằn ḷng ḿnh đâu?  Cúi đầu như cây sậy, nằm trên bao gai và trên tro, đó há phải đều ngươi gọi là kiêng ăn, là ngày đẹp ḷng Đức Giê hô va sao? Sự kiêng ăn mà ta chọn lựa, há chẳng phải là bẻ những xiềng hung ác, mở những trói của ách, thả cho kẻ bị ức hiếp được tự do, bẻ găy mọi ách hay sao? Há chẳng phải là chia bánh cho kẻ đói, đem những kẻ nghèo khổ đă bị đuổi đi về nhà ḿnh, khi thấy kẻ trần truồng th́ mặc cho, và chớ hề trớ trinh những kẻ cốt nhục ḿnh hay sao? Bấy giờ sự sáng ngươi sẽ hừng lên như sự sáng ban mai, ngươi sẽ được chữa lành lập tức; sự công b́nh ngươi đi trước mặt ngươi, sự vinh hiển của Đức Giê hô va sẽ ǵn giữ sau ngươi]. Có một khía cạnh đạo đức xuất lộ v́ nó xuất lộ đi xuất lộ lại nơi các bậc đạo sư này. Tôi sẽ chỉ cung cấp cho bạn một điều trích dẫn khác nữa, có thể nói là cho thấy môi trường tâm trí mà Chúa Giê su được giáng sinh trong đó, đây là một lời lẽ của bậc đạo sư Micah vốn tổng kết được bổn phận của con người. Bậc đạo sư tự hỏi ḿnh làm thế nào để vui ḷng Thượng Đế: “Liệu tôi sẽ đi tới trước Đấng Chúa Trời và phủ phục trước Đấng Thượng Đế? Phải chăng tôi sẽ mang tới trước mặt Ngài những đồ hiến tế đă được sử dụng với những con bê đă được một tuổi? Phải chăng Chúa sẽ bằng ḷng với hàng ngàn con cừu đực hoặc với cả chục ngàn ḍng sông dầu mỡ? Liệu tôi sẽ đưa ra đứa con trưởng của ḿnh để cho tôi được xâm phạm vào thành quả của thân thể tôi v́ tội lỗi của linh hồn tôi? Hỡi con người, Ngài đă chỉ cho ngươi thấy được điều tốt đẹp, và Chúa có đ̣i hỏi ǵ ngươi đâu ngoại trừ việc thực hiện một cách đúng đắn và yêu thương với ḷng từ bi, bước đi khiêm tốn với Đức Chúa Trời của ḿnh” [26]. Đó là cái đạo đức mạnh mẽ và lành mạnh mà bạn thấy xuất lộ nơi các bậc đạo sư Do Thái giáo sau này, nó ở nơi một quốc gia mà trong một chừng mực nào đó ít ra lại chịu ảnh hưởng của cái giáo huấn khiến Chúa Giê su giáng sinh.

Bây giờ ta hăy xem xét trong một lúc cái nhân vật đă làm say mê biết bao nhiêu tâm hồn, t́nh yêu và ḷng ngưỡng mộ của biết bao thế hệ này tới thế hệ khác thuộc thế giới phương Tây đă xoắn bện xung quanh Ngài; ta hăy cố gắng nhận ra được công tŕnh của Ngài phải thực hiện, sứ mệnh mà Ngài dự tính làm tṛn. Một nền văn minh mới được chào đời, một bộc phát mới trong sinh hoạt của thế gian; những quốc gia non trẻ đầy sức sống, đầy nghị lực với trí năng siêu h́nh kém phát triển hơn khía cạnh thực tiễn của tâm trí, đang tiến lên hàng đầu và dần dần điều khiển vận mệnh của thế giới. Một dân tộc mạnh mẽ và sung sức, tràn đầy nhựa sống, tràn đầy sức mạnh, tràn đầy năng lực thực tiễn, đây là loại h́nh mà các quốc gia Âu Mỹ phải được khai sinh từ đó; đây là quốc gia (nói cho đúng hơn là giống dân) mà sự rèn luyện tôn giáo là vấn đề đặt ra trước Đại Đoàn Huynh Đệ trông coi sự tiến hóa tâm linh của con người. Người ta cần một tuyên ngôn sự thật xưa cũ khác nữa để rèn luyện như thế; một sứ giả của Hội Đoàn Huynh Đệ hùng mạnh ấy phải được nói tới những sự thật xưa cũ để có được sự rèn luyện và uốn nắn cái nền văn minh mới lố dạng ấy. Nó phải được rèn luyện như mọi sự rèn luyện khác và với một sự rèn luyện thích ứng những đặc trưng ấy. V́ thế cho nên bạn thấy trong Ki Tô giáo tương đối có ít lời tuyên bố của Đấng Ki Tô về siêu h́nh học tinh tế mà nói nhiều tới luân lư, đạo đức cao cả, giáo huấn tâm linh thuộc một loại thực tiễn, ít (quả thực là hầu như không có) điều về khoa học linh hồn. Điều này được dành cho giáo huấn bí truyền hạn chế trong những môn đồ ngay trước mắt của Ngài. Ta có thể nói là hăy bao quát địa hạt bắt đầu tôn giáo này th́ mới t́m ra được một công cụ và sứ giả thích hợp của Đại Đoàn Huynh Đệ; họ đă chọn được một người thanh niên nổi bật lên do sự trong sạch, mầu nhiệm và do ḷng sùng tín sâu sắc, Chúa Giê su mà sau này ta gọi là Đấng Ki Tô. Sứ mệnh của Ngài bắt đầu vào cái thời điểm cuộc đời Ngài được mô tả trong những Phúc âm là sự rửa tội, khi Ngài vào khoảng 30 tuổi. Vào thời kỳ đó, theo bạn đọc thấy trong Phúc âm th́ Thần khí của Thượng Đế giáng xuống Ngài và một giọng nói từ trên trời tuyên cáo Ngài là Con của Chúa Trời và thiên hạ phải lắng nghe Ngài [27] [Khi chịu báp têm rồi, Jêsus liền lên khỏi nước, ḱa các từng trời mở ra. Ngài thấy Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự xuống như bồ câu, đậu trên vai Ngài, và nầy, có tiếng từ trời phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của ta, đẹp ḷng ta mọi đường”]. Tôi sẽ nói trong một lúc về cụm từ “Con của Chúa Trời”, lúc tới mức bàn về sự thách đố của người Do Thái giáo khi Ngài đ̣i hỏi địa vị ấy. Ta chỉ cần nhận thức rằng theo quan điểm được nêu ra trong câu chuyện về đời sinh hoạt của Ngài, nhiệm kỳ tu của Ngài bắt đầu khi Ngài được 30 tuổi, khi sự biểu lộ đặc biệt này xảy ra, xét theo quan điểm huyền bí th́ đó là cách thức ẩn dụ khi người ta chọn thanh niên này là sứ giả cho giáo huấn thiêng liêng mà ta cần miêu tả và biểu diễn việc mang lại sự giác ngộ cho Ngài khiến Ngài thích hợp là một bậc Đạo sư thiêng liêng đối với loài người. Chỉ nội trong ba năm, Ngài sống cuộc đời của một bậc đạo sư, một cuộc đời đẹp đẽ thanh khiết, rực rỡ với t́nh thương, ḷng từ bi và mọi phẩm tính âu yếm nhất trong tâm hồn con người. Ta thấy Ngài đi lang thang trên vùng đất Palestine, làm cho người chết sống lại (tạm gọi như vậy), chữa lành bệnh cho người đau ốm, làm cho kẻ mù ḷa sáng mắt ra; thiên hạ gọi những sự chữa trị này là phép lạ. Nhưng nơi họ chẳng có điều ǵ đáng ngạc nhiên đối với huyền bí gia, v́ y vốn quen thuộc với những hành động như thế, y biết được những quyền năng để thực hiện những hành động ấy. Đó là v́ chưa bao giờ có một bậc đại Đạo sư giáng trần, đấng có quyền năng Tinh thần phát triển nơi Ngài, Ngài không phài là một bậc đạo sư đối với bản chất thể xác, bản chất này tuân theo Ngài và vâng chịu ư chí của Ngài. Cái gọi là những phép lạ này chẳng qua chỉ là việc sử dụng một vài quyền năng ẩn tàng trong thiên nhiên để mang lại một vài kết quả nơi ngoại giới; những phép lạ chữa bệnh này, làm cho người mù sáng mắt ra v. v. . . được thực hiện rất lâu trước khi Đấng Ki Tô giáng sinh và đă được nhiều người lập lại hết năm này sang năm khác, cho nên bản thân Đấng Ki Tô cũng coi thường chúng khi Ngài nhắc tới chúng trước mặt các môn đồ: “Các con sẽ làm được những công tŕnh vĩ đại hơn nữa bởi v́ Ta đi về cùng Cha” [28] [Quả thật, quả thật ta nói cùng các ngươi, ai tin ta cũng sẽ làm việc ta làm, lại làm việc lớn hơn nữa, v́ ta đi về cùng Cha]. Ngài để dành nó lại như là dấu ấn của những người có đức tin thật sự, có đức tin sống động nơi Ngài, cho nên Ngài có thể tóm lấy những con rắn, uống thuốc độc mà không bị hại [29] [Những kẻ tin sẽ có dấu hiệu lạ này cặp theo: họ sẽ nhơn danh ta mà đuổi quỉ, nói tiếng mới, bắt rắn, uống giống độc chi cũng hẳn chẳng hại ǵ, đặt tay trên kẻ đau yếu, th́ kẻ ấy sẽ lành]. Đây là một điểm đặc biệt thuộc về mọi Điểm đạo đồ muốn vận dụng quyền năng và việc thiếu vắng đặc điểm ấy ít ra trong một số phân bộ của Giáo hội cho thấy rằng họ đánh mất cái đức tin sống động mà bậc Thầy của chính họ đă phô diễn những quyền năng này ra thành biểu tượng và biểu hiện bên ngoài.

Theo như tôi có nói, cuộc đời của Chúa Giê su là một cuộc đời đẹp đẽ. Hăy lắng nghe giáo huấn của Ngài, thế là bạn sẽ lĩnh hội được cái Thần của nó; tiếc thay nó khác hẳn cái Thần của các Ki Tô hữu thường tŕnh bày. Những giáo huấn này đúng là đồng nhất với các huấn điều của những bậc Đạo sư tâm linh vĩ đại trước Ngài. “Kẻ có tâm hồn thanh khiết được ban phúc v́ họ sẽ thấy Đức Chúa Trời” [30] [Phước cho kẻ có ḷng trong sạch v́ sẽ thấy được Đức Chúa Trời]. Có một sự thật huyền linh mà Ngài lại tuyên cáo theo đó chỉ nhờ trong sạch người ta mới thấy được Đấng trong sạch, chỉ có kẻ đă được tẩy rửa mới có thể biết được Thượng Đế. Ta hăy xem Ngài nhấn mạnh xiết bao giáo huấn quen thuộc với bạn theo đó tư tưởng quan trọng hơn hành động; khi tư tưởng được h́nh thành th́ hành động thực tế đă được thực hiện rồi. Ngài dạy rằng “Bất cứ kẻ nào nh́n đàn bà mà với ḷng dâm dục th́ đă phạm phải tội ngoại t́nh đối với người đàn bà trong tư tưởng” [31][Song ta nói cùng các ngươi, hễ ai ngó đàn bà mà động t́nh ham muốn, th́ trong ḷng đă phạm tội gian dâm cùng người rồi]. Ta lại xét tới cái giáo huấn quen thuộc như thế trong giáo huấn của Đức Bàn Cổ, Zoroaster và Đức Phật: “Hăy yêu thương kẻ thù của ḿnh, hăy ban phúc cho những kẻ nguyền rủa con, hăy đối xử tốt với những kẻ thù ghét con, hăy cầu nguyện cho những kẻ lợi dụng con và khinh thường con; hành hạ con để cho con có thể là con trẻ của Đấng Từ phụ vốn ở trên trời: đó là v́ Ngài khiến cho mặt trời của ḿnh vượt cao trên điều ác và điều thiện; gửi trận mưa xuống cho kẻ công chính và kẻ không công chính” [32] [Nhưng ta nói cùng các ngươi, hăy yêu kẻ thù nghịch các ngươi và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi, hầu cho các ngươi được làm cho của Cha các ngươi ở trên trời; bởi v́ Ngài khiến cho mặt trời soi trên kẻ ác cùng người thiện, mưa cho người công nghĩa cùng kẻ bất nghĩa]. Ta hăy xem phát biểu huyền bí mà có lẽ ít ai (ngoại trừ các huyền bí gia) hiểu được: “Ánh sáng của cơ thể là đôi mắt: do đó nếu mắt của bạn là chất phác th́ toàn bộ cơ thể của bạn sẽ đầy ánh sáng. Nhưng nếu mắt bạn ác độc th́ toàn bộ cơ thể của bạn sẽ đầy bóng tối. Do đó nếu ánh sáng ở nơi bạn là bóng tối, th́ bóng tối ấy lớn lao biết dường nào” [33] [Đèn của cơ thể là con mắt. Nếu mắt ngươi tốt th́ cả thân thể ngươi đều sáng sủa; nhưng nếu mắt ngươi xấu th́ cả thân thể ngươi đều tối tăm. Vậy nếu sự sáng trong ngươi là tối tăm, th́ sự tối tăm ấy lớn biết bao]

Ta hăy lắng nghe lời tuyên cáo của Ngài một lần nữa về cái con đường xưa cũ chật hẹp – con đường mà bạn biết là mỏng như lưỡi dao cạo. “Cánh cổng thẳng ngay trước mắt và con đường chật hẹp dẫn vào sự sống, thế mà ít ai t́m được nó”[34] [Song ngơ hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ t́m được th́ ít]. Ta hăy lắng nghe lời lẽ của Ngài với đa số, toát ra cái ḷng từ bi thiêng liêng vốn chính là cái vết bớt của mọi người nào giáng lâm từ Đại đoàn Huynh đệ, Quần Tiên Hội: “Hỡi tất cả những người đang lao động vất vả và c̣ng lưng gánh nặng, hăy đến với ta và ta sẽ ban cho con sự ngơi nghỉ. Hăy rước lấy gông xiềng của ta lên trên con và hăy học biết về ta, v́ ta vốn nhu ḿ và khiêm hạ trong tâm hồn: con sẽ t́m được sự an b́nh trong tâm hồn. Đó là v́ gông xiềng của ta cũng dễ tháo gỡ và gánh nặng của ta cũng nhẹ nhàng thôi” [35] [Hỡi hết thảy những kẻ đương lao khổ và gánh nặng, hăy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được nghỉ ngơi. V́ ta có ḷng nhu ḿ, khiêm ti, nên hăy mang lấy ách của ta, học theo ta, th́ linh hồn các ngươi sẽ được nghỉ ngơi. V́ ách ta dễ chịu, và gánh ta nhẹ nhàng] . Ta hăy xem Ngài kiểm soát các môn đồ khi họ cố gắng xua đuổi những bà mẹ nào mang con tới cho Ngài mà Ngài có thể ban phúc cho họ: “Hỡi những đứa trẻ đau khổ, không được cấm chúng đến với ta; v́ thiên giới vốn dành cho chúng” [36] (Hăy để con trẻ đến cùng ta, đừng cấm chúng nó, v́ nước trời thụôc về những kẻ giống như chúng nó”. Và có một lần Ngài chọn một đứa trẻ con, đặt nó giữa đám đông để nêu gương cho các môn đồ về ḷng khiêm hạ và tuân phục. Ta hăy xét tới cái giáo huấn nghiêm khắc này cũng lại chính xác dựa theo đường lối về giáo huấn huyền bí cổ truyền, nó bảo rằng sự gắn bó với những sự vật trần thế gây thiệt hại chết người cho sự tiến bộ trong đời sống tinh thần. Khi một thanh niên đến với Ngài để hỏi xem làm sao đạt được sự sống đời đời th́ câu trả lời đầu tiên của Ngài là theo công truyền: “Con hăy tuân thủ những điều răn cấm”. Người thanh niên trả lời rằng: “Con đă tuân theo những giới răn này từ tấm bé, vậy con c̣n thiếu điều ǵ nữa?”. Rồi tới một yêu cầu nghiêm khắc hơn: “Nếu con đă hoàn hảo rồi th́ con hăy đi bán hết những ǵ con sở hữu, bố thí cho người nghèo để con có được kho báu trên trời; rồi hăy đến đây theo ta”. Người thanh niên “buồn rầu bỏ đi: v́ y có nhiều tài sản sở hữu”. Thế rồi bậc đạo sư huyền bí nhấn mạnh tới giáo huấn này với các môn đồ: “Một người giàu khó ḷng bước vào thiên giới . . . Con lạc đà chui qua lỗ kim c̣n dễ hơn một người giàu nhập vào thiên giới” [37] [Nếu ngươi muốn được trọn vẹn , hăy đi bán hết của cải ngươi mà cho kẻ nghèo, th́ ngươi sẽ có của báu ở trên trời; rồi hăy đến theo ta] [Ta lại nói cùng các ngươi, lạc đà chui qua lỗ kim c̣n dễ hơn người giàu vào nước Đức Chúa Trời].

Vậy là bằng cách này Ngài đă giảng dạy cùng một đạo đức thời xưa về giáo huấn quen thuộc xiết bao cho tất cả chúng ta, giáo huấn của các bậc Sáng lập ra mọi tôn giáo thời xưa. Chúng ta truy nguyên được Ngài cũng như các bậc tiền bối của Ngài qua việc giảng dạy bằng dụ ngôn; Ngài luôn luôn nhắc tới dụ ngôn khi ngỏ lời trước đại chúng. Ngài nói hết dụ ngôn này tới dụ ngôn khác, mỗi dụ ngôn bao hàm một viên ngọc quí nào đó về sự thật tâm linh. Có lẽ dụ ngôn làm xao động tâm hồn của Giáo hội Ki Tô, chinh phục được ḷng người măi măi v́ nó thật đẹp đẽ và âu yếm, đó là dụ ngôn về con cừu bị thất lạc trong hoang mạc mà người chăn chiên cần mẫn đi t́m măi cho tới khi t́m thấy nó “và khi đă t́m ra rồi th́ y vui mừng vác nó trên vai. Và khi về nhà th́ y tụ tập bạn bè láng diềng lại nói với họ hăy góp vui với tôi, v́ tôi đă t́m ra con cừu bị thất lạc. Tôi xin nói với các bạn cũng vậy, niềm vui trên cơi trời sẽ đến với kẻ tội lỗi biết ăn năn c̣n hơn là đến với 99 người đúng đắn không cần tới sự ăn năn” [38] [Trong ṿng các ngươi, người nào có một trăm con chiên mà mất một con, th́ há chẳng để chín mươi chín con lại nơi đồng vắng, rồi đi t́m con đă mất cho kỳ được sao?]. “Đấng Chủ Chăn Phước Lành” là một trong những hồng danh được ưa dùng để chỉ Đấng Ki Tô trong khắp Giáo hội Ki Tô, bạn có thể thấy Ngài trong những bức tranh, bạn có thể thấy Ngài trong những cánh cửa sổ vẽ của các nhà thờ và nhà thờ chính; người ta vẽ “Đấng Chủ Chăn Phước Lành” khoác trên vai con chiên bị thất lạc mà Ngài đă t́m thấy, mang về nhà đem lại niềm vui cho băi rào thành cái chuồng chăn những con cừu khác. Giáo lư của Ngài về “Thiên giới” đă bị xuyên tạc rất nhiều, nhưng người ta hiểu rơ nó trong thời Giáo hội sơ khai. Đó là một cơi giới mà con người được mời gọi vào và người ta đă vạch rơ những giai đoạn trong đó. Con người phải trong sạch trước khi được phép nhập vào thiên giới; họ phải có đức tin; đó là một điều thiết yếu trước khi họ có thể đến với thiên giới; họ phải thêm tri thức vào cho đức tin bằng không th́ họ sẽ chẳng thể đạt tới cấp cao; minh triết phải nối tiếp tri thức bằng không th́ chúng vẫn chưa hoàn hảo; người ta hứa hẹn sự bất tử như thế cho mọi người, tức là việc chinh phục được sự chết, không c̣n đi ra ngoài nữa. Đó là v́ như ta thấy hiện nay, Ki Tô giáo thời sơ khai có dạy giáo lư cổ truyền Luân Hồi; v́ thế cho nên có một lúc người ta khắc phục được sự chết và con người không đi ra khỏi Đền Thờ của Thượng Đế nữa. Khi họ đă trở nên hoàn hảo, làm chủ được các điều bí mật của thiên giới. Như vậy là Chúa Giê su đă trải qua ba năm ngắn ngủi nhằm dạy dỗ, chữa bệnh và giúp đỡ cho mọi người nào đang cần tới. Thánh Peter tổng kết cuộc đời của Ngài như sau: “Ngài đi lang thang để làm phúc” [39]. [Thể nào Đức Chúa Trời lấy Thánh Linh và quyền năng xức dầu cho Jêsu ở Na xa rét, rồi Ngài trải khắp nơi làm lành và chữa mọi kẻ bị ma quỉ áp chế, v́ Đức Chúa Trời ở cùng Ngài] Cuộc đời Ngài rất ngắn ngủi, tại sao vậy?

Bởi v́ các dân tộc mà Ngài đến với họ để mang lại thông điệp về T́nh Huynh Đệ: Đi tới một dân tộc như thế, khốc liệt, cuồng tín, hà khắc và ngu tín về tôn giáo của chính ḿnh th́ ắt chỉ có thể có một kết quả duy nhất – luật phạm thượng khắc khe của họ được đưa vào tác động và Ngài bị hạ sát bởi sự oán thù và ác ư. Đôi khi ngày nay người ta thắc mắc: Tại sao các Chơn sư lại vẫn c̣n ẩn tàng, tại sao các Ngài lại đứng đằng sau bức màn và từ chối xuất hiện ở chốn văng lai của con người. Bởi v́ chừng nào con người c̣n chưa học trở lại được sự tôn kính thời xưa vốn tôn một bậc sứ giả của chư Thần linh lên thành một nhân vật thánh thiện, và vây quanh Ngài bằng t́nh thương, sự kính cẩn và sự tôn thờ, th́ các Chơn sư Minh triết không thể xuất hiện để kích động những cơn đam mê giận dữ của con người v́ ganh ghét với sự trong sạch của các Ngài, v́ thù địch với sinh hoạt tâm linh của các Ngài. Đấng Christ là đấng cuối cùng trong các sứ giả vĩ đại được biệt phái tới cho thế gian và những người được Ngài giáng lâm lại sát hại Ngài khi mới trải qua ba năm sinh hoạt giữa công chúng; họ ghét Ngài về một sự trong sạch, dường như đối với họ là một sự sỉ nhục cho sự không trong sạch của chính ḿnh, và họ ghét Ngài v́ một sự cao cả vốn là lời quở trách đối với sự nhỏ nhen của họ.

Giờ đây ta xét tới sự phấn đấu của Giáo hội thời sơ khai. Phúc âm của t́nh thương và ḷng từ bi nhanh chóng lan tỏa trong số người nghèo được truyền bá chậm hơn trong đám người có giáo dục cao nhờ vào giáo huấn bí truyền; và ta thấy Hội đoàn Huynh đệ đă nỗ lực lớn lao trong ba thế kỷ đầu tiên sau Công nguyên. Có một sự phấn đấu giữa học thức và sự dốt nát, một sự đấu tranh giữa tri thức và mê tín dị đoan. Nó diễn ra khốc liệt và cường bạo với trung tâm điểm chính là Alexandria, v́ các chiến sĩ của nó một đằng là môn đồ phái Ngộ đạo, một đằng là đại khối Ki Tô hữu. Khi bạn truy nguyên câu chuyện này th́ bạn ắt thấy các bậc đạo sư phái Ngộ đạo vĩ đại, cố gắng du nhập Minh triết của phương Đông bên dưới những tên gọi mới để đưa vào tôn giáo mới gần đây nhất này, dự tính mượn phương tiện hiện đại của nó. Valentinus vĩ đại đă viết sách khải huyền về minh triết tức Pistis Sophia, kho báu vĩ đại nhất về huyền bí học cổ truyền của Ki Tô giáo; giờ đây được phổ biến cho thế giới nói tiếng Anh qua bản dịch của ông G. R. S. Mead, thư kư của Chi bộ Âu châu thuộc Hội Thông Thiên Học. Trong phần dẫn nhập ông Mead có viết như sau: “Thế rồi ta hăy xét tới phong trào vào năm 150 sau Công nguyên. Vào thời đó Logia nguyên thủy tức Urevangelium của Ki Tô giáo đă biến mất, và Phúc âm yếu lư̖