Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 HOME T̀M HIỂU  NHẬP MÔN  sách  TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN  BÀI VỞ  THƠ   gifts  TẾT 2006  NỮ THẦN ISIS

Tủ sách Adyar                               Tập sách số 40

Thực tại của cơi Vô h́nh và tính Thực hữu của các Thế giới Vô h́nh.

(The Reality of the Invisible and the Actuality of the Useen Worlds)

Tác gỉả :  Annie Besant

Bản dịch www.thongthienhoc.com

Nhà xuất bản Thông Thiên Học, Adyar Ấn Độ.

In tháng 4 năm 1914. In lại tháng 7 năm 1921

 và được in lại từ Tạp chí Thông Thiên Học quyển 36 số 216 tháng 8 năm 1905.

 

Đa số những người văn minh ngày nay ở khắp mọi nước đều tuyên bố ḿnh tin vào sự tồn tại của các thế giới khác hơn những bầu hành tinh vật lư rải rác trong không gian, mặt trời và các hành tinh của Thái Dương Hệ ta cùng với các Thái Dương Hệ khác. Tuy nhiên ư tưởng của họ về bản chất của những thế giới ấy có thể là mơ hồ v́ chúng vốn vô h́nh, siêu vật lư, siêu giác quan; cho dù những ư tưởng ấy thay đổi rất nhiều tùy theo tôn giáo mà tín đồ chọn theo; thế nhưng họ vẫn bám lấy niềm tin rằng không phải tất cả những ǵ của tôi đều chết hết, sự chết không chấm dứt kiếp sinh tồn cá thể, có một điều ǵ đó ở ngoài phạm vi của ngôi mộ. Nhưng nếu ta ước lượng giá trị của đức tin theo tiêu chuẩn mà Giáo sư        Bain gợi ư, theo đó sức mạnh của đức tin có thể được trắc nghiệm qua ảnh hưởng mà nó tác động lên cách ứng xử th́ ta ắt thấy rằng, mặc dù sự chính thức nói trên đầu môi chót lưỡi, bản thân đức tin ấy có tính cách mong manh nhất. Cách ứng xử của thiên hạ bị chi phối bởi việc họ tin vào thế giới hữu h́nh hơn là những thế giới vô hinh; tư tưởng, sự quan tâm, sự yêu thương của họ đều tập trung ở đây; trường hợp nầy rơ rệt đến nỗi ai mà có cách ứng xử thật sự chịu ảnh hưởng của suy tư về các thế giới siêu vật lư th́ lạị bị coi là quái đản và bệnh hoạn. Cơ thể của bệnh nhân có thể bị ṃn mỏi do hết sức già yếu hoặc bị hành hạ bởi một bệnh tật chẳng bao lâu nữa ắt kết liểu qua sự chết; bác sĩ, điều dưỡng, thân bằng quyến thuộc cứ căng thẳng thần kinh thúc đẩy ư chí bám lấy cái thể xác vô dụng ắt tống cho nó mớ thuốc và thuốc kích thích để tŕ hoản sự tan ră của nó trong ṿng vài ngày hoặc vài tuần, dường như thể sự sống vượt quá thế giới nầy chỉ là một ảo ảnh, hoặc một điều mà ta phải tránh né càng lâu càng tốt bằng bất cứ phương tiện nào. Việc thiếu cảm thức về tánh thực hữu của các thế giới siêu vật lư thông thường hơn về thời hiện đại so với thời xưa, ở phương Tây so với phương Đông. Việc nó thịnh hành rộng răi là do quan niệm con người là một thực thể hiện nay không có quan hệ nào với những thế giới ấy và không có quyền năng giúp cho ḿnh nhận biết được chúng. Con người bị coi như chỉ sinh hoạt trong một thế giới duy nhứt, thế giới của ư thức tỉnh táo, thế giới mà các giác quan và các trí năng đắc thắng thay v́ coi y là sinh hoạt trong nhiều thế giới, mà trong tất cả những thế giới ấy tâm thức của y vẫn đang hoạt động ít nhiều xác định. Người ta không c̣n giả định rằng y có những quyền năng mà mọi tôn giáo đều gán cho y, những quyền năng nầy ưu việt được các hạn chế của thể xác. Thuyết Bất khả tri tích cực của nhà khoa học, của các lănh tụ tư duy được phản chiếu nơi thuyết Bất khả tri tiêu cực của đại khối trí thức khi niềm tin trên đầu môi chót lưỡi vào thế giới siêu vật lư bị chế nhạo bởi niềm tin vào cách ứng xử trong sinh hoạt đời thường.

Nếu ta nghĩ rằng các thế giới siêu vật lư là những thế giới mà ta có thể hoặc thậm chí sẽ chuyển vào sau khi chết th́ điều nầy là chưa đủ; nếu những thế giới nầy có ảnh hưởng tới cách ứng xử của ta th́ việc thực chứng chúng phải là một sự kiện thường xuyên trong tâm thức, và con người phải sống hữu thức trong ba thế giới: cơi vật lư, cơi trung giới, cơi trời. Ấy là v́ điều ǵ chỉ có thực hữu đối với con người khi tâm thức của y đáp ứng; nếu tâm thức của con người không đáp ứng với điều ǵ th́ điều đó không tồn tại đối với y; biên giới khả năng đáp ứng của y là biên giới việc y nhận thức được điều đang tồn tại. Một người có thể bị vây quanh bởi tác động của màu sắc, nhưng nếu nó không tác động lên mắt y th́ đối với y màu sắc ấy không tồn tại; các làn sóng hài âm có thể tác động xung quanh y, nhưng nếu không nghe thấy th́ y cho rằng chỉ có sự yên lặng. Và thế là thế giới vô h́nh có thể tác động lên con người, nhưng trong khi y không có ư thức về sự tồn tại của chúng th́ đối với y chúng không tồn tại. Chừng nào mà tính không đáp ứng ấy c̣n tiếp tục th́ không một số lượng miêu tả nào có thể biến chúng thành ra sống động, thực hữu; đối với y chúng ắt vẫn c̣n là một giấc mơ của thi sĩ, linh ảnh của họa sĩ, niềm hy vọng của kẻ lạc quan, biết đâu cực kỳ đẹp đẽ nhưng không có bằng chứng, không có thực chất, không có thực tại. Nhưng liệu các thế giới vô h́nh có thể hiện diện trong tâm thức ta chăng, liệu ta có thể đáp ứng với chúng và chia xẻ sinh hoạt của chúng chăng? Liệu nơi con người có tồn tại những quyền năng chưa được bộc lộ, nhưng khi tiến hóa sẽ bộc lộ ra sao cho ta có thể ví y như một đóa hoa chưa nở, những quyền năng vẫn ẩn tàng như nhụy hoa, các cánh hoa bên trong nụ hoa. Liệu các Đạo sư, các bậc Thánh, các Thần bí gia, các nhà Thấu thị, những người mà các khả năng nầy đă đâm hoa kết trái. Liệu những phương pháp cầu nguyện hoặc tham thiền của họ có phải là những phương tiện trau dồi theo khoa học để đẩy nhanh sự nở ra của nụ hoa chăng?

Khi t́m cách giải đáp câu hỏi nầy, ta có thể nh́n về quá khứ hoặc phân tích hiện tại, ta có thể nghiên cứu những tôn giáo thời xưa hoặc ta có thể ḍ xét tỉ mỉ thành phần cấu tạo của chính ḿnh và t́m hiểu cách cấu tạo của nó cũng như mối quan hệ của chúng với môi trường xung quanh ta. Có thể là ta đạt được một số kết quả theo đường lối nầy. Khi nh́n trở lại các tôn giáo trong quá khứ, ta thấy có một ư tưởng duy nhất khống chế tất cả tôn giáo, đó là vũ trụ hữu h́nh phản chiếu vũ trụ vô h́nh. Ai Cập coi thế giới hiện tượng là h́nh ảnh của thế giới thực. Đối với Ấn Độ, vũ trụ chẳng qua chỉ là sự biểu hiện thoáng qua của Ư tưởng  Thượng Đế, chỉ có một Thực tại duy nhứt và vũ trụ là h́nh bóng của nó. Trong các tác phẩm triết lư, người cổ Do Thái khẳng định rằng Thượng Đế tạo ra vũ trụ Ư tưởng trước khi tạo ra vũ trụ h́nh tướng; thiên nhân tức Adam Kadmon là con người nguyên thủy và con người trần tục là bản sao của con người nguyên thủy ấy; Philo bảo rằng khi có ư định tạo ra vũ trụ hữu h́nh th́ Thượng Đế trước hết tạo ra vũ trụ vô h́nh; trong kinh Talmud, người ta coi như một công lư tiên đề theo đó nếu con người muốn biết thế giới vô h́nh th́ y nên nghiên cứu thế giới hữu h́nh; c̣n Paul, người cổ Do thái tuyên bố rằng các sự vật vô h́nh được thấy rơ bởi những kẻ thụ tạo có năng khiếu. Pythagoras nói tới thế giới những Ư tưởng và có những h́nh tướng thực tồn tại trong thế giới có thể hiểu được vốn là thế giới những Ư tưởng trong Trí tuệ Vũ trụ trước khi những Ư tưởng nầy được biểu lộ thành vũ trụ vật lư. Plato và những người tin theo ông cũng như vậy. Ở đâu đâu th́ tư tưởng chủ đạo nầy cũng cho rằng có một thế giới vô h́nh có thực, c̣n thế giới hữu h́nh th́ không thực, chỉ là một bản sao, một sự phản chiếu của thế giới vô h́nh. Chỉ có Thực tại là vĩnh hằng, chỉ có hằng hữu là thỏa măn được v́ Ngươi là Cái Đó. Thực tại biểu lộ thành cái không thực, điều Vĩnh hằng được hóa trang thành điều phù du; nghịch lư kỳ lạ xiết bao, sự đảo ngược hoàn chỉnh xiết bao khi cái không thực lại được coi là thực tại duy nhất, c̣n cái phù du là thực hữu duy nhất.

Trong khoảng thời gian bao la mà những thứ nầy và các tôn giáo khác chiếm ưu thế, con người được coi là một tâm thức bất tử bị che giấu trong vật chất; tâm thức trở nên càng ngày càng bị hạn chế khi những bức màn vật chất càng ngày càng dày hơn; mối quan hệ sâu sắc nhất của con người là đối với thế giới các Ư tưởng, và mỗi thế giới trở nên càng ngày càng không thưc, hư ảo khi vật chất hợp thành nó càng ngày càng dày đặc và thô trược hơn. Theo đúng tên gọi th́ các thế giới hiện tượng là thế giới của h́nh tướng bên ngoài chứ không phải của các thực tại và con người phải xuyên suốt qua những h́nh tướng bên ngoài nầy để đạt tới cái lơi Thực tại. Tinh thần khoác lấy lớp vỏ tâm trí, rồi tâm trí khoác lấy lớp vỏ giác quan để bước vào quan hệ với các thế giới trí thức và giác quan; con người là thành quả của hợp thể ấy phải vươn lên trên các giác quan, phải siêu việt được tâm trí để trở thành Tinh thần tự ư thức. Cũng giống như khi bản thân Tinh thần là Tinh thần th́ nó biết được thế giới tinh thần; cũng vậy trong lớp vỏ tâm trí nó biết được thế giới trí thức, c̣n trong lớp vỏ giác quan nó biết được thế giới giác quan. 

Lớp vỏ giác quan gồm có ba phần, mỗi lớp khiến cho con người quan hệ với một thế giới chất: cơi trời, cơi trung giới và cơi vật lư. Mọi cơi nầy đều quả thật là hữu h́nh, mỗi cơi đều có thể được nhận biết qua những giác quan được hợp thành bởi trạng thái chất của riêng nó, nhưng có điều là con người b́nh thường chỉ thấy được lớp thô nhất, bởi v́ nơi con người chỉ lớp thô nhất của lớp vỏ giác quan mới hoạt động rốt ráo. Khi các lớp tinh vi hơn của lớp vỏ giác quan dần dần tiến hóa theo thứ tự hoạt động giống như vậy, th́ các thế giới hiện tượng tinh vi hơn ắt trở nên rành rành ra đối với các giác quan tinh vi của y. Thời xưa dạy như vậy và thời nay Thông Thiên Học cũng dạy như thế. Cái ngụy vô h́nh – cái có thể nh́n thấy được mặc dù mắt thịt không nh́n thấy được - sẽ trở nên hữu h́nh khi cơ tiến hóa tiến triển, khiến cho các lớp tinh vi hơn của lớp vỏ giác quan bước vào hoạt động; lúc bấy giờ ba thế giới ắt trở nên vũ trụ hữu h́nh. Ngay cả trong giai đoạn tiến hóa hiện nay, hoạt động theo thứ tự ấy có thể được tạo ra bằng những phương pháp đặc biệt và con người có thể sinh hoạt hữu thức trong cả ba thế giới cùng một lúc. Đối với những người ấy, tính thực hữu của các thế giới vô h́nh thấp được xác lập dựa trên cái gọi là bằng chứng không chối căi được, bằng chứng của các giác quan và nhiều người, có lẽ hầu hết mọi người đều nghĩ tới sự tiến hóa của giác quan ấy khi họ nói tới việc thu đoạt được bằng chứng về sự trường tồn của tâm thức cá thể bên kia cửa tử. Tuy nhiên trong một thời gian đáng kể nữa, bằng chứng như vậy ắt phải vẫn c̣n ở ngoài tầm với của đa số mọi người, mặc dù thiểu số có thể