Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 HOME  sách   TIỂU SỬ    BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN    BÀI VỞ   THƠ   gifts   TẾT 2006  BOOKS  MAGAZINES

 

HỒI KƯ  H.S. OLCOTT

Bản Dịch Nguyễn Hữu Kiệt

Đánh Máy Như Khuê Tiểu Hoa Nhi 2010

 

CHƯƠNG MỘT

CUỘC GẶP GỠ ĐẦU TIÊN GIỮA HAI NHÀ SÁNG LẬP

  quyển  Hồi  kư’’  này    liên  quan đến  lịch  sử  Hội  Thông  Thiên  Học  Thế  Giới,  nên  tôi  phải  kể  lại  từ  đầu,    tường  thuật  cuộc  gặp  gỡ  giữa  hai  nhà  sang  lập  hội.

Câu  chuyện  cũng  rất  b́nh  thường;  tôi  nói  mở  lời: “Xin    cho  phép,’’    quẹt  một  cây  diêm  cho    hút  thuốc  để  mượn  dịp  làm  quen. Cuộc  gặp  gỡ  của  chúng  tôi  bắt  đầu  bằng  một  làn  khói  thuốc,  nhưng    đă  bùng  cháy  lên  thành  một  ngọn  Lửa  Thiêng  trường  cửu  muôn  đời.Những  sự  việc  đưa  đến  cuộc  gặp  gỡ  này  cũng  khá  ly  kỳ,  như  tôi  sẽ  tŕnh  bày  sau  đây.


        Một  ngày  nọ, vào  tháng  7  năm  1874, ngồi  tại  văn  pḥng  Luật,  tôi  đang  nghiên  cứu  một  vụ  kiện  quan  trọng,  liên  quan  đến  ṭa  Đô  Chính  thành  phố  Nữu  Ước,  tự  nhiên  tôi  lại  nghĩ  rằng  từ  nhiều  năm  nay  tôi  không  chú  ư  đến  phong  trào  Thần  Linh  Học.  tôi  không  hiểu  tại  sao  trí  óc  tôi  lại  liên  tưởng  từ  vụ  kiện  nọ  đến  phong  trào  này.    sao,  tôi  cũng  đă  bước  ra  phố  để  mua  một  tờ  nhật  báo  “Banner  of  Light’’,  trong  đó  tôi  thấy    bài  tường  thuật  về  một  hiện  tượng  hồn  ma  hiện  h́nh  xảy  ra  tại  một  nông  trại    thị  trấn  Chittenden,  thuộc  tiểu  bang  Vermont,  cách  Nữu  Ước  độ  vài  trăm  dặm.  Tôi  liền  nghĩ  rằng  nếu  quả  thật  đúng    người  ta    thể  nh́n  thấy,  sờ  mó,    nói  chuyện  được  với  những  thân  nhân  đă  chết  nhưng  đă  t́m  cách  hiện  nguyên  h́nh  để  tạm  thời  xuất  hiện  trở  lại  thế  gian,  th́  đây    một  sự  kiện  tối  quan  trọng  về  khoa  học  vật    hiện  đại. Tôi bèn  quyết  định  đi  quan  sát  ngay  tại  chỗ.


Tôi
  đến  tận  nơi  xem  xét  các  hiện  tượng,    thấy  rằng  câu  chuyện  quả    thật,  tôi  bèn
 ở  lại  đó  thêm  ba  ngày.  Khi  trở  về  Nữu  Ước,  tôi  viết  một  bài  tường  thuật  những  điều  tôi  đă  nhận  xét  cho  tờ  báo  New  York  Sun.

Bài  báo  của  tôi  được  các  báo  trên  thế  giới  in  lại    phổ  biến  khắp  nơi,    tính  cách  hấp  dẫn    quan  trọng  của  những  việc  đă  xảy  ra.  Kế  đó,  vị  chủ  nhiệm  báo  Daily  Graphic  đề  nghị  vối  tôi  hăy  trở  lại  Chittenden  để  viết  phóng  sự  với  một  họa    cùng  đi  theo  tôi  để  vẽ  h́nh  ảnh,    để  mở  cuộc  điều  tra  quan sát  tường  tận  về  vấn  đề  này.

Việc  ấy  làm  cho  tôi  thích  thú  đến  mức  tôi  phải  thu  xếp  mọi  việc  của  văn  pḥng,    ngày  17  tháng  9  năm  đó  tôi  trở  lại  nông  trại  của  gia  đ́nh  Eddy  một  lần  nữa.  Tôi  lưu  trú  tại  ngôi  nhà    mật  đó  trong  mười  hai  tuần,    hằng  ngày  tôi  đă  thu  nhập  được  những  kinh  nghiệm    cùng  kỳ  dị.  Trong  thời  gian  đó,  tôi  viết  bài  đăng  trên  báo  Daily  Graphic  mỗi  tuần  hai  lần,    kèm  theo  những  bức  vẽ  các  hồn  ma  hiện  h́nh  do  tôi    người  họa  sĩ,  ông  Kappes  đă  nh́n  thấy  tận  cùng  với  độ  bốn  mươi  quan  khách  đến  viếng. Chính  những  bài  tường  thuật  của  tôi  trên  mặt  báo  đă  làm  cho    Blavatsky  đến  Chittenden,    do  đó  chúng  tôi  mới  quen  biết  nhau.

 

Tôi  c̣n  nhớ    cái  ngày  đầu  tiên    chúng  tôi  gặp  nhau  dường  như  chỉ  mới  ngày  hôm  qua.  Đến  bữa  ăn  trưa  tại  nông  trại  Eddy,  tôi    họa    Kappes  vừa  bước  vào  pḥng  ăn  th́  thấy  nơi  bàn  ăn  đă    hai  người  phụ  nữ.  Đó      Blavatsky    một  người  bạn  người  Gia    Đại.  Hôm  ấy    mặc  một  cái  áo  màu  đỏ,  nổi  bật  giữa  những  y  phục  tầm  thường của  người  chung  quanh.  Gương  mặt  vuông,    bề  ngang,  đôi  mắt  tinh  anh  biểu  lộ  một  tinh  thần  cương  dũng,  đầy  hào  khí,  trội  phần  nam  tính  hơn  nữ  tính,  cũng  làm  cho      một  phong  độ,  cốt  cách  khác  thường  so  với  những  gương  mặt  b́nh  dị  của  số  đông  du  khách  đến  viếng.  Những  người  thuộc  đủ  mọi  thành  phần  luôn  luôn  văng  lai  không  ngớt  để  xem  các  hiện  tượng  dị  kỳ.  Đứng  trước  ngưỡng  cửa,  tôi  nói  nhỏ  vào  tai  ông  Kappes:
     “Này,  anh  hăy  nh́n  xem  cái    kia,    lạ  không?’’

Kế  đó,tôi  bèn  đi  thẳng  lại  chỗ  bàn  ăn,  chọn  một  ghế  ngồi  đối  diện  với    để    dịp  thực  tập  về  khoa  tướng  pháp,  như  tôi  vẫn    thói  quen  nh́n  xem  tướng  diện  khi  gặp  những  nhân  vật    tôi  chú  ư.

Hai    khách  lạ  nói  chuyện  với  nhau  bằng  tiếng  Pháp.  Nghe  giọng  nói  sành  âm  điệu    ngôn  ngữ  lưu  loát  trôi  chảy  của  bà,  tôi  đoán  ngay  rằng  nếu    không  phải    một  người  Pháp  chính  cống    Paris,  th́  ít  nhất    cũng  phải    một  học  giả  uyên  thâm  về  môn  pháp  ngữ.

Buổi  ăn  trưa  vừa  xong, hai    bước  ra  ngoài.    Blavatsky  vấn  một  điếu  thuốc  lá,  tôi  bèn  bật  diêm  quẹt  cho    đốt  thuốc  để  lấy  cớ  mở  đầu  câu  chuyện.    tôi  mở  lời  bằng  một  câu  tiếng  Pháp: “Vous permettez,  Madame,’’  nên  chúng  tôi  liền  nói  chuyện  với  nhau  bằng  tiếng  Pháp  luôn.    hỏi  tôi  đến  đây  từ  bao  giờ,    tôi    cảm  tưởng  ra  sao  về  việc  này?    nói  chính    cũng  rất  thích  thú  về  những  hiện  tượng  đó    đă  đến  Chittenden  do  những  bài  báo    đă  đọc  trong  tờ  Daily  Graphic.  Dân  chúng  thích  những  loạt  bài  phóng  sự  đó  đến  nỗi  chỉ  một  giờ  sau  khi  phát  hành,  báo  đă  bán  hết  sạch,      đă  phải  trả  một  đô  la  để  mua  một  tờ  với  giá  chợ  đen.    nói:
  “Tôi  rất  do  dự  trước  khi  đến  đây,    tôi  sợ  sẽ  gặp  Đại    Olcott.’’

Tôi hỏi

“Thưa  Bà,  tại  sao    lại  sợ  gặp  ông  ta?’’

“Bởi    tôi  sợ  ông  ta  sẽ  viết  về  tôi  trên  mặt  báo!’’

Tôi   mới  nói  rằng    hăy  yên  ḷng  về  việc  đó,    tôi  chắc  rằng  Đại    Olcott  sẽ  không  nói    đến    trong  các  bài  báo  nếu    không  muốn  như  vậy.  Tôi bèn tự giới  thiệu.  Ngay  tức  khắc  chúng  tôi  đă  trở  nên  hai  người  bạn  thân.  Mỗi  người  trong  chúng  tôi  đều  cảm  thấy  dường  như  chúng  tôi  vẫn  cùng  chung  một  thành  phần    hội,  thuộc  về  giới  tự  do    tưởng    gần  gũi  với  nhau  hơn  so  với  những  người  khác  trong  nhóm  quan  khách.  Đó    sự  đồng  thanh  đồng  khí  về  phương  diện  tâm  linh,  một  sự  thông  cảm  giữa  hai  linh  hồn,  chứ  không  phải    sự  hấp  dẫn  giữa  nam  nữ  tính.  Kể  từ  lúc  mới  quen  cho  đến  măi  về  sau,  không  một  người  nào  trong  chúng  tôi    cái  ư  nghĩ  rằng  người  bạn  của  ḿnh    người  khác  phái.  Chúng  tôi  chỉ  coi  nhau  như  bạn,    chỉ    thế  thôi,  không  hơn  không  kém.  Thảng  một  đôi  khi  cũng    kẻ  xấu  miệng  nói  rằng  giữa  chúng  tôi  chắc    một  cảm  t́nh  sâu  đậm  hơn,  cũng  như  họ  đă  từng  vu  khống    HPB    t́nh  nhân  của  những  người  đàn  ông  khác,  nhưng  không  một  người  quang  minh  chính  đại  nào    thể  nghĩ  như  thế  sau  khi  đă  được  gần  gũi  quen  biết    một  thời  gian  để    dịp  nhận  xét  tính  chất    tác  phong  đặc  biệt    nữ  tính  của  bà.

Sau  cuộc  gặp  gỡ    làm  quen,  chúng  tôi  nói  chuyện  về  những  hiện  tượng  quái  gở    nông  trại  Eddy      những  xứ  khác.  Tôi  được  biết    đă  từng  đi  du  lịch  nhiều  nơi,  thấy  biết  nhiều  điều    ẩn,  diệu  hiền    nhiều  bậc  danh    trong  giới huyền  môn,  nhưng  lúc  đầu    không  nói    đến  các  Chân    bên  Tây  Tạng    những  quyền  năng  của  bà.

  nói  về  khuynh  hướng  duy  vật  của  phong  trào  Thần  Linh  Học  bên  Mỹ,  vốn  quá  chú  trọng  đến  những  hiện  tượng  vật  chất  hữu  h́nh    không  biết  đến  những  khía  cạnh  triết    siêu  h́nh.      một  phong  độ,    cách  rất  duyên  dáng    hấp  dăn,  những  sự  b́nh  phẩm  chỉ  trích  của    về  người    vật  rất  độc  đáo    linh  hoạt.    t́m  cách  biết  những  ư  nghĩ,  quan  niệm  của  tôi  về  các  vấn  đề  tâm  linh,    lấy  làm  thích  thú    nhận  thấy  rằng  tôi    những    tưởng  phù  hợp  theo  đường  lối  của  Huyền  Môn      vẫn  theo  đuổi.    nói  chuyện  không  phải  với    cách  một  đạo  gia  thấm  nhuần   đạo    Đông  Phương,    với    cách  một  nhà  Thần  Linh  Học  uyên  bác.  Về  phần  tôi,  hồi  ấy  tôi  chưa  biết  hay  hầu  như  không  biết    cả  về  triết  học  Đông  Phương,    lúc  đầu    giữ  im  lặng  không  nói    đến  vấn  đề  ấy.

Những  buổi  họp  đàn  của  William  Eddy,  nhà  đồng  tử  chính  của  gia  đ́nh  này,  diễn  ra  mỗi  đêm   trong  một  gian  pḥng  rộng    trên  lầu.  Ông  William    người  em  trai    Horatia,  đều    những  nông  dân  siêng  năng  cần    làm  việc;  người  em  lo  việc  đồng  áng,  c̣n  người  anh  lo  việc  bếp  núc,  dọn  bữa  ăn  cho  các  quan  khách  hàng  ngày  tấp  nập  đến  từ  khắp  nơi  trong  xứ  Hoa  Kỳ.  Họ    những  nông  dân  nghèo,  thất  học,      nhiều  thành  kiến,  đôi  khi  lại  cau  có,  gắt  gỏng  đối  với  những  du  khách  tự  nhiên  không  mời    đến.  Mỗi  buổi  chiều,  đồng  tử  William  Eddy  ngồi  trong  pḥng  tối  để  đợi  cho  các  hiện  tượng  xảy  ra.  Khi  y  vừa  bước  vào  pḥng,  người  ta  kéo  tấm  màn  che  qua  một  bên,  th́  từ  bên  trong  bước  ra  một  bóng  ma  hiện  h́nh  một  người  đàn  ông,  đàn    hoặc  trẻ  con,  coi  như  một  pho  tượng  biết  cử  động,  tạm  thời  đông  đặc    chắc  nịch,  nhưng  trong  giây  phút  liền  tan  biến  mất  dạng  trước  mắt  của  mọi  người.

Trước  ngày    Blavatsky  đến  đây , những  bóng  ma  hiện  h́nh  đều    những  người  Da  Đỏ,  người  Mỹ  hay  người  Âu,  họ  hàng  thân  thuộc  của  những  khach  đến  viếng.  Nhưng  kể  từ  buổi  đầu  tiên  khi    vừa  đến,  th́  những  bóng  ma  thuộc  những  quốc  tịch  khác  đă  xuất  hiện  trước  mắt  chúng  tôi.  Trong  số  đó,    một  thanh  niên  người  xứ  Causase;  một  người  lái  buôn  Hồi  Giáo    Tiflis;  một    thôn  nữ  Nga,    những  h́nh  bóng  khác.  Tối  hôm  nọ ,  hiện  h́nh  một  người  kỵ    Thổ  Nhĩ  Kỳ  đeo  gương  cong,  súng  đoản    cầm  giáo  dài;  một  nhà  phù  thủy  Phi  Châu  h́nh  thù  dị  hợm,  gớm  ghiếc,  đầu  đội    miện  cắm  bốn  cái  sừng      gắn  lục  lạc  đồng;    một  người  Âu  ḍng  quư  tộc  mặc  triều  phục  với  phù  hiệu  Nữ  Thánh  Anna,      Blavatsky  nhận  ra    người  chú  của  bà.

Sự  hiện  h́nh  của  những  vong  linh  ấy  trong  pḥng  họp  đàn  của  những  người  nông  dân  nhèo    thất  học,  không  hề    đủ  tiền  bạc   để  mua  sắm  những  đồ  y  trang  sân  khấu,  cũng  không    sự  hiểu  biết,  kinh  nghiệm  để  sử  dụng  những  thứ  y  trang  đó  dẫu  cho  họ    thể  sắm  được,    một  bằng  chứng    rệt  trước  mắt  ngưới  đi  xem,  rằng  những  hiện  tượng  ấy      thật,  đồng  thời,  những  buổi  họp  đàn  này  cho  thấy  rằng  sự    mặt  của    Blavatsky  toát  ra  một  sức  hấp  dẫn  lạ  lùng  làm  cho  những  nhân  vật  kỳ  lạ  xuất  hiện  từ  cơi  giới    h́nh.  Măi  rất  lâu  về  sau,  tôi  mới  được  cho  biết  rằng    đă  sử  dụng  quyền  năng  phương  thuật  sai  khiến  tinh  linh  ngũ  hành  để  tạo  nên  những  hiện  tượng  đó.

Trong  thời  gian    Chittenden,    Blavatsky    kể  cho  tôi  nghe  nhiều  chuyện  vế  cuộc  đời    văng  của  bà, trong      việc    đă  từng  gia  nhập  nhóm  phụ  nữ  chí  nguyện  tùng  chinh  theo  Garibaldi [1] trong  trận  đánh  lưu  huyết    Mentana[2] .

Để  chứng  minh  chuyện  này,    cho  tôi  xem  cánh  tay  trái  của    bị  những  vết  gươm  chém  gẫy  xương    hai  chỗ,  vai  bên  hữu    một  viên  đạn  vẫn  c̣n  nằm  nguyên  trong  thớ  thịt,    một  viên  đạn  nữa  trong  bắp  chân.    cũng  chỉ  cho  tôi  xem  một  cái  thẹo  ngay  phía  dưới  trái  tim,  do  một  nhát  đâm  bằng    khí  nhọn.  Vết  thương  này  hơi  nứt  ra  một  ít  trong  khi      tại  Chitenden    sở      cho  tôi  xem    để  hỏi  ư  kiến  tôi  về  cách  chữa  trị  sao  cho  mau  lành.    c̣n  kể  cho  tôi  nghe  nhiều  chuyện  phiêu  lưu  mạo  hiểm  đầy  thú  vị  khác  nữa,  trong  số  đó    chuyện  nhà  phù  thủy  Phi  Châu  đội    cắm  sừng      gấn  lục  lạc  đồng,      đă  từng  gặp  khi  ông  ta  trổ  tài  nghệ    miền  thượng  du  Ai  Cập  đă  nhiều  năm  về  trước.

  Blavatsky  cố  gắng  giải  thích  cho  tôi  hiểu  rằng  những  hiện  tượng  vừa  kể  không  phải    bằng  chứng  về  sự  kiểm  chế  đồng  tử  bởi  các  vong  linh  người  chết.    nói  rằng  nếu  những  hiện  tượng  đó    thật,  th́  đó  phải    cái  Thể  Vía  của  người  đồng  tử  xuất  ra  ngoài  thể  xác    khoác  lấy  mọi  h́nh  thể  đa  h́nh  đa  dạng,  nhưng  tôi  không  tin  như  thế.  Tôi    luận  rằng  những  h́nh  bóng  xuất  hiện  ra  đó  thật  khác  biệt  nhau  quá  xa  về  vóc  hạc,  bề  cao,  tác  phong    dáng  điệu,  để    thể  nói  đó    cái  Thể  Vía  người  đồng  tử,    như  vậy  đó  phải    những  vong  linh  người  chết  hiện  h́nh  thật  sự  như  mọi  người  đều  thấy.  Sự  tranh  luận  của  chúng  tôi  đôi  khi  rất  sôi  nổi,    hồi  đó,  tôi  chưa  được  biết  nhiều  về  tính  chất  co  giăn  của  Thể  Vía  con  người  để  nhận  thấy    luận  điệu  chính  xác  của  bà,c̣n  về    thuyết  Ảo  Ảnh  Ảo  Giác  (Maya)  của  phương  Đông,  th́  hồi  đó  tôi  không  biết    cả.  Tuy  nhiên,  nhờ  vậy      mới  biết    bản  chất  của  tôi    không  chấp  nhận  bất  cứ  điều    nếu  chỉ  căn  cứ   trên  niềm  tin    không    đủ    do  vững  chắc.  Chúng  tôi  càng  hiểu  nhau  hơn  với  thời  gian  qua,    đến  lúc  chia  tay,  chúng  tôi  tạm  biệt  nhau  như  hai  người  bạn  tốt  sẵn  sang  tiếp  tục  t́nh  quen  biết  thân  hữu  đă  bắt  đầu  một  cách  vui  vẻ  tốt  đẹp  trong  những  ngày  vừa  qua.

 

II

 

Tháng  11 năm 1874, sau  khi  đă  hoàn  tất  cuộc  khảo  sát  về  những  hiện  tượng  thần  linh    nông  trại  Eddy,  tôi  trở  về  New  York    đến  viếng    Blavatsky  tại  địa  chỉ      đă  cho  tôi  trước  khi  chia  tay  tạm  biệt.  Tại  đây,    đă  biểu  diễn  cho  tơi  xem  vài  hiện  tượng    bút,    nhịp,  xoay  bàn,  phần  nhiều    do  tác  động  của  một  vong  linh  khuất  mặt  tự  xưng  danh    ‘’Jonh  King’’.

Đó    một  cái  tên  quen  thuộc  đối  với  những  người  thường  đi  tham  dự  những  buổi  họp  đàn  hồi  giữa  thế  kỷ  trước     khắp  nơi  trên  thế  giới.  Vong  linh  ấy  tự  giới  thiệu    vong  hồn  của  Sir  Henry  Mogan,  một  nhà  hiệp    kiêm  hải  tặc  sống  bên  Anh  Quốc  cách  đây  vài  thế  kỷ.  Y  đă  hiện  h́nh  một  phần  cho  tôi  xem  mặt    đầu    quấn  khăn,  trong  khi  tôi  xúc  tiến  một  cuộc  điều  tra  về  những  đồng  tử  Holmes    Philadelphia  cùng  với    Blavatsky    vài  nhân  vật  khác  ít  lâu  sau  đó.  Y    một  lối  viết  dị  kỳ,    sử  dụng  lối  văn  Anh  cổ  xưa  cũng  rất  lạ.  Hồi  đó,  tôi  không  tin  chắc  đó    Jonh  King  thật,    mọi  sự  đă  được  chứng  minh    ràng  về  thành  tích    con  người  của  y.  Nhưng  bây  giờ,  sau  khi  đă  thấy    quyền  năng  của    Blavatsky  trong  việc  tạo  nên  ảo  giác    sai  khiến  âm  binh,  tôi  mới  biết  rằng “John  King’’  chỉ    một  tinh  linh  mạo  danh    phỉnh  lừa,      sử  dụng  như  một  h́nh  nộm  để  sai  khiến    dung  làm  một  khí  cụ  để  chỉ  dẫn  cho  tôi  học  hỏi  thêm  về  khoa  Huyền  Môn.  Nói  tóm  lại,  các  hiện  tượng  đều    thật,  nhưng  không  phải  do  một  vong  linh  người  chết  thực  hiện,    chỉ    do  sự  trợ  giúp  của  một  tinh  linh  ngũ  hành[3] .

  vẫn  duy  tŕ  cái  ảo  tưởng  đó  đối  với  tôi  trong  vài  tháng,    tôi  đă  chứng  kiến  nhiều  hiện  tượng  huyền  linh  khác  mệnh  danh    do  tác  động  cùa  John  King,  chẳng  hạn  như  toàn  bộ  một  loạt  các  hiện  tượng  biểu  diễn  tại    gia  của  các  đồng  tử  Holmes    của  chính    HPB  như  đă  kể  trên.  Trước  hết  y    một    tính  riêng  biệt  tên  J. King,  kế  đó  y    John  King  thư  tín  viên    thừa  sai  của  các  Chân    c̣n  sống  trên  thế  gian,    sau  cùng,  đó  chỉ    một  tinh  linh  do    HPB  sử  dụng  để  làm  các  phép  thuật  lạ  kỳ.

Không  ai  phủ  nhận  rằng  trong  thời  gian  đầu  tiên    Mỹ,    HPB  tự  xưng    một  nhà  Thần  Linh  Học,  nhiệt  liệt  bênh  vực  khoa  Thần  Linh  Học    các  đồng  tử  chống  lại  những  kẻ  đả  kích  gồm  các  giới  độc  giả  nông  cạn,  nửa  mùa.  Những  thư  từ    bài  vở  của    đăng  trên  các  báo  chí  Anh    Mỹ    chứa  đựng  nhiều  bằng  chứng  về  việc  ấy.  Trong  một  bức  thư  gởi  đăng  trên  tạp  chí  Spiriualist  ngày  13  tháng  12  năm  1874,    viết  như  sau:

“Như  t́nh  trạng  hiện  nay,  tôi  chỉ    làm  việc  bổn  phận,  trước  hết  đối  với  khoa  Thần  Linh  Học,    tôi  bênh  vực  đến  mức  tối  đa  chống  lại  những  đ̣n  công  kích xuyên tạc  của  các  giới  thiển  cận  đội  lốt  khoa  học;    kế  đó  đối  với  hai  nhà  đồng  tử    thế  bị  vu  khống…

Nhưng  tôi  phải  thú  nhận  rằng  thật  sự  tôi  không  tin    ḿnh  đă  giúp  ích  được    cho  khoa  Thần  Linh  Học…  Tôi  cảm  thấy  một  nỗi  buồn  thấm  thía    nh́n  nhận  điều  ấy,    tôi  bắt  đầu  nghĩ  rằng    thật      phương  cứu  văn.  Tôi  đă  chiến  đấu  cho  chân  lư từ  trên  mười  lăm  năm  nay;    mục  đích  sưu  tầm    phổ  biến  chân  lư,  tôi  đă  đi  ngao  du  sơn  thủy  từ  các  vùng  núi  non  tuyết  phủ  của  xứ  Caucase  đến  những  vùng  đồng  cát    lưu  vực  sông  Nil.    mục  đích  đó,  tôi  đă  rời  khỏi  gia  đ́nh,  từ  bỏ  cuộc  đời  ấm  êm  nhung  lụa  trong  một    hội  văn  minh  để  đi  ta    khắp  nơi  trên  mặt  Trái  Đất, v.v…

“Hai  nhà  đồng  tử    thế’’      nói  trong  thư  tức    hai  ông    Holmes,    tôi  vẫn  đánh  giá  rất  thấp  về  hạnh  kiểm  cũng  như  về  thành  tích  bất  hảo.  tuy  nhiên,  trước  sự    mặt  của    Blavatsky,    dưới  những  điều  kiện  thử  thách  gắt  gao  do  tôi  thực  hiện  tại  nhà  ông    Holmes,  tôi  đă  chứng  kiến  tận  mắt  một  loạt  những  hiện  tượng  đồng  tử  thỏa  đáng    chân  thật  nhất  không  thể  chối  căi.  Hồi  đó,  tôi  đă  ngờ  rằng  cái  quyền  năng  tạo  ra  những  hiện  tượng  đó    của    HPH,  chứ  nếu  chỉ    hai  ông    Holmes,  th́    lẽ  tôi  đă  thấy  những  tṛ  giả  mạo,  hoặc    không    ǵ.  Bây  giờ,  lục  soát  lại  những  tài  liệu  cũ,  tôi  t́m  thấy  bản  văn  kiện  sau  đây  do  chính  tay    viết    hiển  nhiên    với  ư  định  sẽ  được  công  bố  sau  khi    từ  trần:

THÔNG ĐIỆP  QUAN  TRỌNG

Tôi  rất  tiếc    nói  rằng  tôi  phải  đứng  về  phe  các  nhà  Thần  Linh  Học  trong  vụ  tố  giác  hai  nhà  dồng  tử  Holmes.  Tôi  phải  cứu  văn  t́nh  thế,    tôi  được  biệt  phái  từ  Paris  sang  Mỹ  để  chứng  minh  sự  thật  của  những  hiện  tượng  thông  linh,    vạch    sự  sai  lầm  của  giả  thuyết  cho  rằng  tất  cả  những  hiện  tượng  thông  linh  chỉ    do  tác  động  của  vong  hồn  người  chết.  Nhưng tôi có thể làm    tốt  nhất?  Tôi  không  muốn  cho  người  ta  biết  rằng  tôi    thể  tạo  ra  các  hiện  tượng  tùy  ư  muốn.  Tôi  được  lịnh  phải  làm  trái  lại,  tuy  nhiên  tôi  phải  duy  tŕ  đức  tin  nơi  các  hiện  tượng  đó  trong  ḷng  của  những  người  từ  óc  duy  vật để  trở  thành  duy  linh,  nhưng  nay      sự  tố  giác  nhiều  nhà  đồng  tử,  nên  họ  đă  quay  trở  về  với  thái  độ  hoài  nghi  của  họ  trước  kia.

Bởi  vậy,  tôi  đă  chọn  lựa  vài  tín  hữu  cùng  đi  với  tôi  đến  nhà  ông    Holmes,    vối  sự  trợ  giúp  của  Chân    M.    quyền  năng  của  ngài,  tôi  đă  làm  cho  những  tinh  linh  John  King    Katie  King  xuất  hiện  từ  cơi    h́nh,  tạo  nên  những  hiện  tượng “hiện  h́nh’’, và  làm  cho  các  giới  thông  linh    khắp  nơi  tưởng  rằng  đó    do  khả  năng  đồng  tử  của    Holmes  tạo  nên.    này  đă  trải  qua  một  cơn  hoảng  sợ  khủng  khiếp, v́    biết  rằng  lần  này  các  vong  linh  đă  hiện  h́nh  thật  sự!

Tôi đă làm đúng hay sai?  Thế  gian  chưa  đủ  chuẩn  bị để  hiểu    triết    của  khoa  Huyền  Môn; trước hết họ hăy nhận định rằng có những sinh vật trong cơi giới vô h́nh, dù đó là tinh linh ngũ hành hay vong linh người chết; và con người có những quyền năng  ẩn  tang  khả    làm  cho  họ  trở  thành  một  đấng  thần  tiên  bất  tử.

Sau  khi  tôi  qua  đời,    lẽ  người  ta  sẽ  nhận  thức  tấm  ḷng      của  tôi.  Tôi  đă  phát  nguyện  nêu  cao  Chân    để  giúp  đỡ  người  đời  trên  đường  t́m  đạo,    tôi  sẽ  giữ  vẹn  lời  nguyền.  Mặc  cho  người  thế  gian  vu  khống    phỉ  bang  tôi,  họ    thể  gọi  tôi    đồng  bóng,  phù  thủy,  bịp  bợm,  hay      tùy  ư.  Một  ngày  kia, hậu  thế  sẽ    dịp  biết    tôi  hơn.  “Ôi!  Thế  gian  đau  khổ    tội  lỗi,  tôi  biết  làm  sao  hơn!’’

Toàn  thể  vấn  đề  đă  được  giải  bày  một  cách    ràng:  khoa  Pháp  Môn      được  lịnh  đem  truyền    sang  Mỹ  để  thay  thế  khoa  Thần  Linh  Học  Tây  Phương  vốn  nặng  nề  phần  hiện  tượng    bút,    khoa  Huyền  Môn  của  Đông  Phương  tức    nền  Minh  Triết  Thiêng  liêng  hay  Brahma  Vidya.    Tây  Phương  chưa  sẵn  sang  chấp  nhận  khoa  này,  nên  công  việc  đầu  tiên  được  giao  phó  cho      bênh  vực  sự  thật  về  các  hiện  tượng  thông  linh  chống  lại  những  thành  kiến  của  khoa  học  duy  vật    các   giới  liên  hệ.  Vấn  đề  cần  thiết  duy  nhất  của  thời  đại    chặn  đứng  đánh  đổ  óc  hoài  nghi  duy  vật    củng  cố  nền  tảng  tâm  linh  của  mọi  sinh  hoạt  tinh  thần.  Bởi  vậy,  khi  bước  vào  ṿng  chiến,    đứng  về  phe  các  nhà  Thần  Linh  Học  Mỹ,    tạm  thời  hăy  cất  ngọn  cờ  duy  linh    nêu  cao  một    tưởng  chung  với  họ.  Phải,  hậu  thế  sẽ  xét  đoán    một  cách  công  b́nh.

 

III

Tôi  c̣n  nhớ    phép  thuật  đầu  tiên      đă  làm  bằng  cách  sử  dụng  ư  chí,  ngay  sau  khi    bắt  đầu  viết  bộ  sách “Vén  Màn  Isis [4]’’.  Trong  số  những  quan  khách  đến  viếng  nhà  bà,    một  nghệ    người  Ư,  tạm  gọi    ông  B (Signor B).  Tôi  đang  ngồi  với    nơi  pḥng  khách  th́  ông  B. đến viếng.  Trong  câu  chuyện  trao  đổi  qua  lại  về  các  vấn  đề  của  nước  Ư,  th́nh  ĺnh  y  thốt  ra  tên  của  một  vị  Chân    trong  số  những  đấng  Cao  Cả  nhất.    HPB  giật  ḿnh  dường  như  bị  điện  giật,  nh́n  thẳng  vào  đôi  mắt  người  khách  lạ    nói  bằng  tiếng  Ư:

“Có việc ǵ vậy?  Tôi sẵn sàng.’’

Người kia  thản  nhiên  nói  qua  chuyện  khác, và  thảo  luận  về  các  vấn  đề  Phương  Thuật,  các  nhà  Thuật      các  đấng  Chân  Sư.

Khi ấy, ông B.  đứng dậy  mở  cửa  sổ, đưa  tay  khoát  vài  cái  trên  không  khí  bên  ngoài,  th́  một  con  bướm  trắng  liền  bay  vào  pḥng    bay  lượn  trên  trần  nhà.  Bà HPB cười thoải  mái  vui  vẻ    nói:

“Khá đấy, nhưng tôi cũng làm  được  như  vậy!’’

  cũng  đến  chỗ  cửa  sổ,  khoát  tay  vài  cái  tương  tự,  th́  một  con  bướm  trắng  thứ  nh́  cũng  liền  bay  vào  pḥng.    bay  lên  trần  nhà,  đuổi  theo  con  bướm  kia  khắp  chung  quanh  pḥng,  thỉnh  thoảng  hai  con  bướm  lại  đùa  giỡn  với  nhau,  rồi  cùng  bay  đến  một  góc  pḥng  th́  cả  hai  đều  biến  mất  ngay  trước  mắt  chúng  tôi.

Tôi hỏi việc ấy nghĩa là thế   nào, th́ bà đáp:

“Nó có nghĩa là ông B. có  thể  làm  cho  một  tinh  linh  biến  thành  một  con  bướm,    tôi  cũng    thể  làm  y  như  vậy. Chỉ có thế thôi.’’

Th́  ra,  hai  con  bướm  chỉ    những  vật  giả  tạo  chứ  vốn  không    thật.

Tôi  cũng  nhớ  những  hiện  tượng  thần  thông  khác  của  bà,  do  việc  sử  dụng  khả  năng  sai  khiến  âm  binh.  Một  đêm  nọ  chúng  tôi  làm  việc  soạn  quyển  sách  của    măi  đến  khuya.  Bữa  cơm  chiều  hôm  đó,  tôi  đă  ăn  vài  món  mặn,  nên  lúc  một  giờ  khuya  cảm  thấy  rất  khát  nước,  tôi  nói:

“ Chà! Bây  giờ  nếu    một  chum  nho  tươi    ăn  th́  hay  quá,  hả?

“ À, phải đấy.  Ta hăy ăn nho đi.’’

“Nhưng  các  tiệm  đă  đóng  cửa  từ  lâu,  làm  sao  mua  được  vào  giờ  này?

Không sao.  Chúng ta vẫn có nho ăn như  thường’’

“Làm sao có, và lấy đâu ra?’’

“Rồi ông sẽ thấy. Bây giờ ông hăy vặn bấc đèn thấp xuống.’’

Tôi  vặn  thấp  ngọn  đèn  hơi,  nhưng  lỡ  tay  vặn  quá  trớn  làm  đèn  tắt.  Bà nói:

“Ông  không  cần  làm  vậy.Tôi  chỉ  muốn  ông  vặn  nhỏ  lại  thôi!  Ông hăy thắp lại  đi.’’

Tôi  thắp  đèn  sáng  trở  lại    hạ  bấc  đèn  thấp  xuống  chỉ  c̣n  ánh  sang  lờ  mờ.  Bà kêu lên:

“Kia ḱa!  Ông hăy  nh́n  xem!’’

  đưa  tay  chỉ  cái  kệ  đựng  sách  trên  vách  trước  mặt  chúng  tôi.  Tôi    cùng  ngạc  nhiên    thấy  treo  lủng  lẳng  nơi  hai  đầu  cái  kệ    hai  chum  nho  tươi  lớn,  loại  nho  đen    chin,    chúng  tôi  lấy  xuống  ăn.  Tôi  hỏi    đă  dung  phương  pháp  nào,  th́    nói  đó    do  tác  động  của  vài  loại  tinh  linh  dưới  quền  sai  khiến  của  bà.

Về  sau,    đă    dịp  tái  diễn  phép  thuật  ấy  hai  lần  khác  nữa  để  đem  trái  cây  về  cho chúng  tôi  ăn  giải  khát  giữa  đêm  khuya  trong  khi  chúng  tôi  soạn  bộ  sách “Vén  Màn  Isis.’’

 

IV


           Lần  lần,  Bavatsky  nói  cho  tôi  biết  về  sự  hiện  diện  của  các  Chân    cùng  những  quyền  năng  của  các  ngài,    bằng    số  các  hiện  tượng  huyền  linh,    cho  tôi  thấy  bằng  chứng  về  quyền  năng  của    đối  với  những  mănh  lực  huyền    trong  thiên  nhiên.  Trước  hết,  như  đă nói    trên,    gán  cho  âm  bing  “John  King”  vai  tṛ  tác  động  nên  các  hiện  tượng  ấy,    chính  nhờ  sự  trợ  giúp  của  y    lần  đầu  tiên  tôi  được  tiếp  xúc  bằng  thư  từ  với  các  Chân  Sư.  Tôi  đă  ǵn  giữ  nhiều  bức  thư  cũa  các  ngài,    ghi    ngày  tháng  nhận  được  những  bức  thư  ấy.


        Trong  nhiều  năm,  cho  đến  ngày  tôi  rời  Nữu  Ước  để  sang  Ấn  Độ,  tôi  được  kết  nạp  vào  hang  đệ  tử  đặt  dưới  quyền  chỉ  đạo  của  phân  bộ  Phi  Châu  trong  QUẦN  TIÊN  HỘI.  Về  sau,  khi    HPB    một  sự  biến  đổi  huyền  diệu  về  tâm  linh    thể  chất mà  tôi  không  tiện  nói  ra,    cho  đến  nay  vẫn  không  ai  ngờ  mặc    họ  được  đối  xử  thân  mật    hoàn  toàn  tin  cẩn  của  bà ( như  họ  vẫn  tưởng ),  tôi  được  thuyên  chuyển  sang  phân  chi  Ấn  Độ,  dưới  sự  chăm  sóc  điều  hành  của  một  nhóm Chân sư khác.


         Từ  bao  giờ,  khắp  trên  thế  giới luôn  luôn  vẫn    một  tổ  chức    đại  gồm  một  TẬP  ĐOÀN  TIÊN  THÁNH  chăm  lo  d́u  dắt  sự  tiến  hóa  của  nhân  loại.  Tổ  chức  ấy  dược  chia  làm  nhiều  phân  chi  tùy  theo  những  nhu  cầu của  nhân  loại  trong  những  giai đoạn  tuần  tự  tiến  hóa  khác  nhau.  Trong  một  thế  hệ,  trung  tâm  điều  hành  của  TẬP  ĐOÀN  TIÊN  THÁNH,  tức  QUẦN  TIÊN  HỘI,  được  đặt    một  nơi  nhất  định;  vào  một  thế  hệ  khác,  trung  tâm  ấy  lại  được  đặt    một  nơi  khác.  Tuy    h́nh    ảnh  nhưng  cần  thiết  cho  sự  tiến  bộ  tâm  linh  của  nhân  loại,  quyền  năng  phối  hợp  của  TẬP  ĐOÀN  TIÊN  THÁNH  được  duy  tŕ  từ  thế  hệ  này  sang  thế  hệ  khác  để  trợ  giúp  người  hành  giả  chiến  đấu  không  ngừng  trên  con  đường  Đạo  xa  xôi  diệu  vợi  đưa  đến  Chân    thiêng  liêng. Kẻ  hoài  nghi  phủ  nhận  sự  hiện  diện  của  các  đấng  Tiên  Thánh  bởi    họ  không  nh́n  thấy  hay  nói  chuyện  với  các  ngài,  cũng  không  hề  thấy  lịch  sử  nói  về  sự  can  thiệp  hữu  vi  của  các  ngài  trong  những  biến  cố  của  các  quốc  gia.  Nhưng  sự  hiện  diện  của  các  ngài  đă  được  nh́n  nhận  bởi  hang  ngh́n  những  bậc  đạo  gia  chân  tu  của  nhiều  thế  hệ  lien  tục,  đă  giải  thoát  khỏi  sự  ô  nhiễm  của  cuộc  đời  thế  gian  để  bước  vào  cơi  giới  tâm  linh  huyền  diệu.  Trong  nhiều  thời  kỳ,  các  ngài  đă  từng  giao  tiếp  thân  mật  với  những  người  chỉ  nguyện    thân  cầu  Đạo,  hoặc  dành  trọn  cuộc  đời  phụng  sự  hiến  dâng  để  đem  lại  hạnh  phúc    t́nh  thương  trong  muôn  loài.
         Vài  người  trong  số  đó,  rất  mực  khiêm  tốn    bề  ngoài    vẻ  kém  hèn  như  chúng  tôi    những  người  lănh  đạo  phong  trào  THÔNG  THIÊN  HỌC,  đă    diễm  phúc  được  sự  ưu  ái    chỉ  giáo  của  các  ngài.  Vài  người  như    Blavatsky      đệ  Damodar  đă  được  nh́n  thấy  ngài  trong  những  cơn  linh  ảnh  từ  khi  c̣n  nhỏ.  Những  người  khác  đă  gặp  các  ngài  dưới  những  h́nh  dáng  ngụy  trang  lạ  lùng    những  nơi  thật  bất  ngờ.  Tôi  được    Blatsky  giới  thiệu  cho  các  ngài  xuyên  qua  nhân  vật  trung  gian  quen  thuộc  trong  những  kinh  nghiệm  trước  đây:  đó    vong  linh  mệnh  danh “John  King”.  Y  giúp  tôi  giao  tiếp  bằng  phương  tiện    Vi  với  bốn  vị  Chân  Sư,  trong  số  đó    một  vị  Chân    Ai  Cập,