HOME sách   TIỂU SỬ   BẢN TIN   H̀NH ẢNH  thIỀN HỌC  BÀI VỞ   THƠ  ẢNH TẾT 2006 ENGLISH BOOKS MAGAZINES 

 

CÙNG AI ĐAU KHỔ

À CEUX QUI SOUFFRENT

 Tác giả: AIMÉE BLECH

“Hăy để ḷng lắng nghe mọi tiếng kêu than, tựa như đóa sen nọ phơi trần ḷng nhụy uống ánh sáng ban mai.

“Bạn hăy đừng để một giọt lệ nào bốc khô dưới ánh nắng cháy, trước khi bạn chưa tự ḿnh chặm ráo những khóe mắt ưu phiền.

“Bạn hăy để nước mắt nóng hổi của thế gian rơi lên tim bạn và đọng lại đó. Và, bạn đừng chặm nó, trước khi niềm đau gây ra nó chưa phai mờ.”

H.P. BLAVATSKY
(Tiếng nói vô thinh)

CÙNG AI ĐAU KHỔ  

mục lục đầu sách cuối sách

GIỚI HẠN

NHỮNG NỖI KHỔ

VẤN ĐỀ ĐAU KHỔ

THÔNG THIÊN HỌC VÀ TÔN GIÁO

TIẾN HÓA VÀ LUÂN HỒI

THƯỢNG ĐẾ ẨN TÀNG

LỢI ÍCH CỦA ĐAU KHỔ

VẤN ĐỀ THIỆN ÁC

SỰ B̀NH ĐẲNG VÀ T̀NH HUYNH ĐỆ

LUẬT HY SINH

LUẬT NHƠN QUẢ

VÀI BIỆN BÁC VỀ LUẬT NHÂN QUẢ

NHỚ LẠI TIỀN KIẾP

SỰ CẦU NGUYỆN

VAI TR̉ CỦA TƯ TƯỞNG

SỰ CHẾT

 

SỰ CẤU TẠO HUYỀN BÍ CON NGƯỜI

CƠI TRUNG GIỚI

THẦN LINH HỌC

NHỮNG ĐẤNG CỨU TRỢ VÔ H̀NH

ĐỪNG BUỒN RẦU

T̀NH XƯA NGHĨA CŨ

CƠI THIÊN ĐÀNG

HẠNH PHÚC CÓ PHẢI LÀ ẢO GIÁC

HAI CON ĐƯỜNG

ĐỨC KY TÔ

TÔN GIÁO ĐẠI ĐỒNG

CUỘC HÀNH HƯƠNG ĐAU KHỔ VÀ CON ĐƯỜNG THỬ THÁCH

CÁC ĐẤNG CHƠN SƯ

B̀NH AN CHO NHỮNG TÂM HỒN ĐAU KHỔ

 

 

Hỡi quư bạn, quư anh chị đang đau khổ, dầu quư bạn bị thử thách và đau khổ như thế nào, tôi, một linh hồn đau khổ, cũng xin gởi đến quư bạn những trang giấy nầy, với niềm hoài vọng nồng nàn làm vơi bớt nỗi ưu tư của quư bạn, và làm lóe lên một tia sáng vỗ về trong chuỗi ngày hắc ám của quư bạn.

GIỚI HẠN
mục lục đầu sách cuối sách chú thích

Tuy nhiên tôi phải đặt một giới hạn. Trong quư bạn có những người xem thường, hoặc không cần những lời của chúng tôi, v́ các bạn ấy được hộ tŕ bởi tôn giáo hay đức tin dũng mănh của ḿnh. Những người nầy được an ủi dưới chơn Thập Tự Giá, hay dưới một biểu tượng tôn giáo khác. Đối với các bạn ấy, tôi chỉ biết nói: “Các bạn nên trung kiên với những điều bạn tin tưởng, nếu bạn tin một cách chân thành; các bạn hăy trung kiên với niềm tin ấy nếu nó đủ sức đem lại bạn sự an tĩnh. Như thế, tôi không có ǵ để hiến thêm cho quư bạn.

Ở đây, tôi chỉ ngỏ lời với những ai không có tôn giáo hay đă rời bỏ tôn giáo ḿnh, với những người hoài nghi đă dần dần hay đột ngột mất cả đức tin, hoặc với những ai, tuy tin tưởng nhưng ḷng tin không đủ sức giúp họ chịu đựng các nỗi bất công ở đời.

Với các bạn ấy, trong quyển sách nhỏ nầy, tôi cố giải thích sự đau khổ, nguồn gốc và mục đích của nó để t́m phương thuốc chữa trị. Trong khoa học linh hồn, trong sự minh triết thiêng liêng mà chúng tôi gọi là Thông Thiên Học, tôi c̣n ở bước đầu và chỉ có thể nêu ra một vài chỉ dẫn nghèo nàn. Ước vọng thúc giục tôi là giúp đỡ một vài huynh đệ. Nếu tôi không thành công, quư bạn nên qui lỗi ở tôi, ở sự dốt nát của tôi và xin chớ trách Thông Thiên Học.

NHỮNG NỖI KHỔ
mục lục đầu sách cuối sách chú thích

 Hỡi các bạn đau khổ, các bạn đừng quên, không phải chỉ có một ḿnh bạn khổ. Chung quanh bạn c̣n có biết bao người đau khổ. Bạn nên nghĩ đến họ và an ủi họ, chớ đừng giam nhốt ḿnh trong nỗi khổ riêng biệt một cách ích kỷ và vô bổ. Đau khổ há không phải là số phận chung của nhơn loại hay sao ? Chúng ta gặp đau khổ trên mỗi bước đi, khi th́ thầm lặng, kín đáo, khi th́ bộc lộ bằng những lời oán than tuyệt vọng. Trong các đô thị, nếu lắng nghe, bạn sẽ nhận ra vô số đau khổ vật chất và tinh thần. Ôi ! nhơn loại khổ nàn và bạc phước làm sao ! Nhưng đồng thời cũng vinh quang cho nhơn loại làm sao ! Là v́, các đau khổ của nhơn loại là những niềm đau khổ sinh sôi; là v́: nhơn loại đang sáng tạo Đấng Siêu Linh ! (Theo Giáo lư Minh triết Cổ truyền th́: Toàn thể nhơn loại đều lần theo một con đường Tiến Hóa Vĩ Đại. Và như Đức Thích Ca đă nói: Chúng sinh đang thành Phật, tức là thành Đấng Giác Ngộ, trọn lành).

Đây cũng chưa đúng lúc để tôi đề cập đến mục đích của sự khổ. V́ trước khi đề cập đến toàn diện vấn đề, tưởng chúng ta cũng nên biết qua ít niềm đau khổ riêng rẽ trên thế gian nầy.

 *
     *   *

Hỡi bạn, anh của tôi, bạn rất nghèo khó túng cùng. Đă từ bao lâu rồi, bạn phải lâm cảnh khốn cùng: không nhà, không cửa, bữa đói bữa no. Bạn phải tủi cực vô cùng, chịu đựng một cuộc sống thật là bấp bênh ! Ngày nào cũng thế, bạn sống ngày lại ngày trong lo âu phiền muộn. Tương lai bạn thật là đen tối ! Biết mấy đêm dài bạn sống cảnh màn trời chiếu đất, lạnh lẽo dưới sương gió. Biết bao đơn xin việc làm, tŕnh hết hăng nầy đến sở nọ. Biết mấy cuộc tranh đấu gay go và, đủ điều thiếu thốn đă dày ṿ bạn ! Số phần bạn quả vô cùng đau khổ !

Hỡi bạn, anh của tôi ơi ! hạnh phúc của bạn đă tiêu tan rồi ! Bạn đă mất người bạn gái mến yêu mà bạn quư hơn chính bạn. Cuộc đời chỉ c̣n là một gánh rất nặng nề đối với bạn. Bạn đă nếm qua những ngày dằn vặc, rỗng không, những đêm dài trắng mắt ảm đạm, những cơn tỉnh giấc bồn chồn nặng nhọc sau những giấc ngủ chập chờn.

Và bạn, một bà mẹ đau khổ, mới vài tuần nay, bạn c̣n siết chặt trong tay để ru ngủ một đứa con xinh xắn tợ thiên thần, bạn c̣n hôn đôi bàn chơn bé nhỏ của nó như điên như dại. Rồi, bỗng nhiên một nấm mộ mở ra, để lạnh lùng khép lại trên tấm h́nh hài cưng quư ấy, mảnh huyết nhục của bạn ! Vấn đề tử vong, từ nay, đối với bạn là một mối sầu triền miên.

Hỡi bạn, anh của tôi, v́ một chứng bịnh kinh niên vô phương chữa trị, bạn không sao rời khỏi giường bịnh, bạn không thể ĺa chiếc ghế phế nhân của bạn. Thật không một ngày nào mà bạn chẳng đau đớn vừa thể xác, vừa linh hồn, v́ bạn hoàn toàn bất lực, không đi đứng được, và, phải khổ tâm nhờ vả mọi người trong mọi việc.

Hỡi bạn, đứa em gái đáng thương, em đă yêu với tất cả tấm ḷng trinh bạch và em đă bị lường gạt bởi một gă Sở Khanh. Em đau khổ vô cùng. Nhữnng chi trước kia em gọi là t́nh yêu, hạnh phúc, là lời ca tiếng nhạc, nay đă trở thành oán ghét, rẻ khinh và thù hận. Do đó, cuộc đời em trở thành đen tối, nặng nề như địa ngục.

C̣n bạn, đứa em gái của tôi ơi, bạn có làm chi nên tội mà người ta luôn luôn bêu riếu nói hành em, khiến kế hoạch em bị trở ngại, hạnh phúc em bị lung lay, hành động em bị nghi ngờ. Em phải ngậm ngùi chịu mất dần bao bạn bè thân yêu. Đấy là một bất công và là một thử thách to lớn cho em, một tâm hồn đa cảm.

C̣n anh, anh ước mong danh vọng, tiếng tăm, anh mơ trở thành một nghệ sĩ trứ danh. Nhưng mỉa may thay, số phận cứ măi d́m anh vào im lặng và bóng tối, trong những công việc ti tiện, những phận sự quá tầm thường ! Sự khao khát một lư tưởng cao cả và những hành động hào hùng của anh bị khinh miệt.

Từng giờ, anh gặp toàn chế giễu và bực dọc. Từng giờ, anh phải cúi đầu trước cái định mệnh tầm thường ấy khiến anh vừa căm hờn vừa chán nản.

*** ***

C̣n phần của bạn, bà chị của tôi ơi ! Chị hằng khóc trong cảnh cô đơn. Chị thấy ḷng tràn ngập t́nh cảm mến thương. Thế mà chị phải đè nén nó tận đáy tim. Chị cam chịu cảnh đơn côi, không mẹ, không chồng, cũng không con, để được chăm nom, thương mến và vỗ về. Chị khao khát t́nh thương. Sự khao khát ấy ṿ xé chị đêm ngày. Và ngày lại ngày, sự cô đơn ấy càng nặng nề hơn măi !

******

C̣n anh, anh thương mến của tôi ! Tại sao anh chán nản thế ? Thôi ! tôi đă hiểu rồi ! Anh tưởng đă từ bỏ được cái quá khứ tội lỗi, bẩn thỉu của anh ! Sau những cuộc chiến đấu gay go, anh ngỡ ḿnh đă chủ trị được những bản năng bồng bột; anh tưởng đă t́m được sự bằng an, với một tâm hồn trong trắng vui tươi, với những ước vọng tâm linh cao cả mà anh đang ôm ấp. Nhưng rồi, một cám dỗ bất ngờ đột nhiên đến với anh, và trớ trêu thay, cái quá khứ tưởng đă chết kia lại bừng dậy ! Những địch thủ chiến bại xưa, đứng lên, hùng hổ và thô bạo hơn lúc nào cả ! Cái bản chất đê tiện lại hiện ra, hăm dọa anh ! Thôi rồi ! anh đă thua trận, đă kiệt sức và không dám nh́n thẳng tương lai, anh sợ hăi nhiều đổ vỡ mới.

******

C̣n chị, chị yêu mến của tôi, chị đang khổ v́ đức tin của chị. Đức tin ấy, trước kia chưa được kiên cố nay lại bị khuynh đảo bởi những danh từ mâu thuẫn, những tín điều cạn hẹp, những kẻ giả nhân, giả nghĩa. Chị muốn trở lại với ḷng tin xưa, nhưng không được. Chị mến tiếc vị Thượng Đế của thời thơ ấu, nhưng chị không biết cầu nguyện làm sao ! Than ôi ! chị không thể cầu nguyện nữa ! Đối với chị, cơi trời nầy đă vắng tanh, không c̣n đẹp đẽ huy hoàng nữa ! Chị đă gơ cửa khắp nơi để t́m Chơn Lư, nhưng ở đâu chị cũng gặp toàn là hoài nghị và đen tối !

 ****** 

C̣n anh, nỗi khổ của anh cao thượng hơn v́ tính cách vô ngă của nó. Anh đang khổ tâm v́ mảng lo cho nhơn loại. Dưới mắt anh, nhơn loại thật là bệnh hoạn ! Anh đào sâu vấn đề nghèo đói. Anh t́m hiểu các khủng hoảng xă hội và đạo đức vô vùng trầm trọng đang đến hồi bế tắc. Anh lưu tâm đến các nỗi khốn khổ vô phương cứu chữa, đến các tội lỗi xảy ra trong bóng tối, đến sự khao khát lạc thú đang biến con người ích kỷ thành những con ác thú. Anh nghĩ đến các cuộc ăn chơi quá độ với những tai họa có thể ngừa được, nếu nhơn loại tốt đẹp và trong sạch, ngay thẳng và công b́nh hơn. Anh đau khổ v́ anh thấy ḿnh bất lực trước các hoàn cảnh nan giải đó. Anh sẵn sàng hy sinh cho nhơn loại đam mê, dốt nát và đáng thương. Và tận chốn sâu thẳm của tâm hồn anh, măi vang lên những tiếng kêu thương khó hiểu của: tai nàn, đau khổ, bất công ! Than ôi ! anh tự nói: “Tại sao có những bài tính nguy hiểm ấy ? Và tại sao thế ?”

 ******

Tôi đă kể nhiều nỗi khổ ở thế gian nầy, nhưng chắc chắn, tôi cũng bỏ sót một số không ít. Nhiều độc giả sẽ nói với tôi: “Bà ấy không đoán được nỗi thống khổ cùng với những thử thách nặng nề khốc liệt của tôi đâu v. v. . . !” Hỡi các bạn, đại để các bạn đừng quên rằng: “Cảnh khổ của chúng ta luôn luôn như có vẻ trầm trọng hơn cảnh khổ của người khác, và chúng ta thường có thói quen xem thường tất cả các thử thách nào không phải là của ḿnh. Đó là tâm lư thường t́nh của con người.

VẤN ĐỀ ĐAU KHỔ
mục lục đầu sách cuối sách chú thích

Song le, thưa chư huynh tỷ, tôi đến với quư bạn không phải để giảng giải khoa tâm lư hay phân tách các thứ đau khổ ở quư bạn. Tôi chỉ có thể đề cập sự đau khổ qua khía cạnh THÔNG THIÊN HỌC mà thôi. Như vậy, tôi sẽ tŕnh bày theo quan điểm của chúng tôi, thế nào là nguyên nhân, là lợi ích, là mục đích của đau khổ. Và như thế, tôi bắt buộc phải nêu ra một ít giáo lư Thông Thên Học. Ước chúng nó soi sáng quư bạn như đă soi sáng tôi.

****** 

Bàn về vấn đề đau khổ, quả thật là khó khăn ! Nhưng nó rất quan trọng v́ nó liên quan trực tiếp đến mỗi người chúng ta. Hằng ngày, đau khổ xảy ra trong mọi đời sống, cho mọi sự tiến bộ trên mọi bước của khách hành hương [1], trước khi đến tột đỉnh vinh quang của con đường tiến hóa.

Có lẽ bạn hỏi: “Phải chăng đau khổ là một định luật ? Không, nó không phải là một định luật. Nếu nó là một định luật th́ định luật ấy do con người tạo ra chớ không phải do trời. Đau khổ chỉ là kết quả hiển nhiên của mọi sự vi phạm luật trời. Con người sở dĩ bị đau khổ là v́ đă hành động trái luật trời, trong kiếp nầy hay các kiếp trước. Và v́ vậy, người không thể không đau khổ, y như một con trẻ không sao tránh khỏi phỏng tay khi đă trót đùa với lửa. Như vậy, đau khổ của chúng ta là hậu quả của các hành động, ngôn ngữ và tư tưởng của chúng ta trong hiện tại hay quá khứ.

Sự nhận định nầy đặt chúng ta trước hai định luật quan trọng: nền tảng của giáo lư Thông Thêin Học, cũng như của nhiều tôn giáo khác từ ngàn xưa. Ấy là luật Tiến Hóa bao hàm cả luật Luân Hồi và Nhơn Quả, mà giáo lư Thông Thiên Học cố gắng tŕnh bày lại cho nhơn loại cận đại, hầu giúp cho họ hiểu nguyên nhân và lợi ích của đau khổ.

THÔNG THIÊN HỌC VÀ TÔN GIÁO
    mục lục đầu sách cuối sách chú thích

Nhưng đến đây, có lẽ câu hỏi đầu tiên của bạn sẽ là: “Cái tôn giáo mới nào, đột ngột ra đời, mà có thể tiết lộ Chơn lư cho thế gian đây ?”

Tôi xin đáp: “Thông Thiên Học không phải là một tôn giáo mới. Nó cũng không phải là một tôn giáo. Nó đă có từ ngàn xưa và được xem như là nền móng và sự tổng hợp các tôn giáo cùng học thuyết đạo đức. Nó là khoa học của linh hồn. Nó là Minh Triết cổ truyền được tŕnh bày lại trong thời buổi hiện kim. Nền Minh Triết cổ truyền nầy không cố ư đánh đổ các tôn giáo hiện tại, cũng không cố ư xem ḿnh là một đối thủ của chúng. Trái lại, nó có mục đích liên minh với các tôn giáo để chống lại thuyết duy vật và đồng thời liên kết các tôn giáo lại, v́ mỗi tôn giáo đều có khuynh hướng cho ḿnh nắm giữ Chơn lư, và cũng không nhận ra Chơn lư ấy dưới một h́nh thức khác, trong bất cứ một tôn giáo khác nào !”

Thông Thiên Học ước mong giúp đỡ được các tôn giáo mở rộng chơn trời lắm khi bị giới hạn của chúng, ḥa giải chúng với khoa học, làm tỏ rạng các biểu tượng bị quên lảng của chúng và đem lại cho giáo lư chúng một sinh lực mới. Nó đến với các tôn giáo, hai tay rộng mở, với những kiến thức dồi dào, và mỗi ngày một phong phú hơn. Đại để, Thông Thiên Học và chức vụ của nó là thế.

TIẾN HÓA VÀ LUÂN HỒI
    mục lục đầu sách cuối sách chú thích

Bây giờ, chúng ta hăy trở lại hai Đại Luật mà tôi đă nói với các bạn khi năy, trước hết là luật Tiến Hóa hay đúng hơn là luật Luân Hồi.

Sự tin tưởng ở các đời sống kế tiếp của linh hồn đă có từ ngàn xưa. Các tôn giáo cổ của Ấn Độ đă dạy như thế; Pythagore, Platon và các môn phái Néo-Platonisme xác nhận lại, vài linh mục Thiên Chúa Giáo cũng chấp nhận niềm tin ấy, và theo nhiều đoạn kinh Phúc Âm, th́ Đức Jésus cũng có dạy qua.

Trên b́nh diện đạo đức, nếu quư bạn quan sát quan niệm linh hồn tái sinh trong nhiều kiếp quư bạn sẽ thấy rằng quan niệm ấy hữu lư, công b́nh và thỏa đáng hơn bất kỳ lư thuyết chính thống hay học thuyết nào. Cao cả tuyệt vời và công minh tột bực, luật Luân Hồi vượt xa thuyết tiền định nguy hại. Thuyết nầy biến Thượng Đế nhơn từ thành một đao phủ thủ. Đâu có thể nào Thượng Đế lại đào tạo linh hồn nầy thanh cao, linh hồn kia hèn hạ ! Đâu có thể nào Ngài tạo một linh hồn ưu tú, rồi đặt linh hồn đó trong một hoàn cảnh tốt đẹp, để rồi đưa nó lên Thiên Đàng. Đồng thời, Ngài tạo một linh hồn khác hạ tiện, rồi đem đặt nó vào một hoàn cảnh bỉ ổi, khiến nó không tránh được những tội lỗi nặng nề ! Nếu Thượng Đế hành động như thế, th́ quả Ngài là một tội nhơn không hơn không kém ! Ai lại có thể chấp nhận một giáo lư bất công, quái đản như thế ! Trước giáo lư ấy, nhiều người công phẩn thốt lên, không chút ngần ngại: “Nếu Thượng Đế của anh như thế, th́ tôi chẳng thích chút nào; thà là tôi sống một nơi hoang liêu, c̣n hơn sống trên cơi trời do một người không tốt điều khiển !”

Than ôi ! Đức Chúa cao cả đă sáng lập tôn giáo của T́nh Thương và của Hy Sinh là: Thiên Chúa Giáo, cao đẹp thế nào mà nay lại thất chân do những tín đồ hẹp ḥi, chỉ mang danh nghĩa, mà không tuân giữ giáo lư của vị Giáo chủ thiêng liêng.

Không, Thượng Đế không sinh linh hồn nầy xấu xa, linh hồn kia tốt lành. Xin đừng gán hành động độc ác, bất công ấy cho Đại Từ Phụ của tất cả sinh linh. Linh hồn như thế nào là tùy nó tự đào tạo lấy nó xuyên qua nhiều kiếp làm người kế tiếp. Những linh hồn cao thượng là những linh hồn đă tiến xa, đă trải qua nhiều bài học kinh nghiệm trong cả ngàn kiếp người. Ấy là những linh hồn đă chiến đấu trong nhiều thế kỷ, và đă chế ngự được bản chất thấp hèn, rèn luyện được những đức tánh có được ngày nay.

C̣n những người xấu xa, hung dữ và yếu hèn, chẳng qua là những linh hồn thơ ấu, chưa ư thức được điều lành, điều dữ và tâm thức (kết quả của vô số kinh nghiệm) chưa được mở mang. Các linh hồn non nớt ấy c̣n phải học hỏi nhiều ở trường đời đắng cay, đau khổ.

 ****** 

Người Thông Thiên Học chúng tôi xác nhận điều nầy, mà tôi, xin quư bạn chấp nhận như một giả thuyết và đừng vội bác bỏ trước khi nghiên cứu kỹ càng. Điều đó là các điểm dị đồng giữa các linh hồn, chẳng qua là sự khác biệt về tuổi kiếp, nghĩa là tŕnh độ tiến hóa. Linh hồn càng trẻ nó càng dốt nát, xung động, dễ nô lệ cho dục vọng. Khi tâm thức c̣n cạn hẹp, nó chưa biết được điều phải lẽ quấy, và chưa biết suy luận. Nhưng trên con đường tiến hóa rất dài, rất chậm, và cũng dễ chán ở quăng đầu, linh hồn càng tiến th́ càng biến chuyển, càng tăng trưởng, càng cải thiện. Các xác thân mà nó đă nương trụ, các cái Ngă mà nó đă mang (và đă vứt như những chiếc áo cũ) để thể hiện nó ở cơi trần, mỗi lần chúng tan ră là mỗi lần chúng lưu lại ở nó một ít di sản kinh nghiệm. Di sản nầy khá nghèo nàn trong đoạn đầu, dồi dào thêm măi, và như thế, linh hồn tăng trưởng lần lần. Và tất cả kinh nghiệm ấy – đa số là đau khổ - lần hồi cấu thành Tâm Thức.

Các bạn hăy nghĩ đến vô số kiếp cần thiết để tạo một tâm thức tế nhị. Các bạn hăy nghĩ đến bao nhiêu đau khổ mà linh hồn phải chịu để học một bài học. Và như ta đă thấy ở trên, nếu đau khổ là hậu quả của điều ác, th́ điều ác là hậu quả của vô minh. Linh hồn vô minh làm quấy v́ nó bị lôi cuốn bởi những xúc động thấp hèn, những cuồng vọng gớm ghiết, và nó làm quấy măi, cho đến một khi kia, v́ quá đau khổ, v́ quá đau khổ, nó lưu ư và trực ngộ ra rằng: “Cái khổ luôn luôn phát sinh từ điều ác, chừng ấy nó bắt đầu suy luận, rút tỉa kinh nghiệm và xa lánh điều quấy”. Đó là giai đoạn đầu của sự xây đắp mầm móng của tâm thức.

Lúc đầu tâm thức rất thô sơ. Con người tránh điều quấy không phải v́ điều nầy xấu xa mà v́ muốn tránh đau khổ do điều quấy gây ra. Tuy nhiên, nhờ các kinh nghiệm kế tiếp, tâm thức một ngày một trở nên phung phí, đồng thời trí thông minh cũng mở mang. Nhờ vậy con người tiến hóa mau hơn. Các bản năng xấu xa, các xúc động thô bạo nhường chỗ cho cảm t́nh thanh cao, cho t́nh thương nồng thắm, khiến anh có thể quên ḿnh và biết trọng nhân phẩm ḿnh. Lần lần anh trở thành con người của bổn phận.

 ****** 

Chúng ta hăy trở lại Cơ Tiến hóa của nhơn loại. Sau nhiều kiếp tiến hóa nữa, con người của bổn phận trở thành ân nhân của loài người. Trí tuệ anh mở rộng, nguyện vọng anh cao cả.. T́nh thương và công lư hướng dẫn anh đến chỗ quên ḿnh: từ bỏ thị hiếu và quên hạnh phúc tư riêng. Anh tiến đến đức hy sinh. Rồi một ngày kia, anh rời bỏ các t́nh luyến ái chật hẹp, để hợp nhất với Đại Ngă và ḥa đồng với nhơn loại, với Thượng Đế. Bản ngă anh tiến hóa trong biển cả của t́nh thương. Bây giờ anh chỉ muốn sống cho mọi người mà anh xem như huynh đệ, chỉ muốn nhập thế để hiến ḿnh cho công cuộc giúp đời. Nguyện vọng của anh là soi sáng, an ủi và ban rải sự an lạc đă có ở ḷng anh. Nhờ được hợp nhất với Đấng Tối Cao, mà anh cảm thấy tràn đầy phúc lạc, và không c̣n quyến luyến các thú vui vô vị của cơi trần. Anh đă được một sự bằng an trong tâm hồn mà không ai có thể tranh giành và cũng không có một biến cố nào có thể làm phai nhạt. Đó là vầng Thái Dương chói rạng muôn đời trên các nơi phong ba băo tố.

Anh tiến măi lên cao, lên tận đỉnh vinh quang của con đường dốc. Sau cùng, anh trở thành một Đấng Chơn Sư Minh Triết. Nhưng tuy đă thành một bậc Siêu nhơn, anh vẫn tiếp tục tiến từ Vinh Quang nầy đến Vinh Quang khác. Khi anh hoàn thành sự tiến hóa của loài người, anh sẽ sang qua con đường tiến hóa siêu nhơn loại, ở các cơi giới khác trong các vũ trụ khác nữa. Cuộc tiến hóa vĩ đại nầy khiến ta hoa mắt. V́ quả thật chúng ta c̣n nhỏ bé quá, trí óc ta cạn hẹp quá, làm sao chúng ta có thể thực hiện sự vinh quang nầy ? Tốt hơn là chúng ta đừng nghĩ tới. Nếu chúng ta hiểu được chút nào, chúng ta có hưởng chút đó. Sau nầy, chúng ta sẽ tiến cao và sẽ hiểu nhiều hơn.

 ******

Quư bạn chắc sẽ hỏi tôi: “Sự tiến hóa huy hoàng nầy phát sinh từ đâu ? Đâu là nguồn gốc nó ?”

- Nguồn gốc nó vốn có từ vô thỉ, rất xa, thật xa chúng ta. Và tôi sẽ trả lời bạn như Đức KRISHNA: “Bản nguyên của vạn hữu không sao hiểu biết được !”

THƯỢNG ĐẾ ẨN TÀNG 
    mục lục đầu sách cuối sách chú thích

Tuy nhiên, Thông Thiên Học dạy chúng ta điều nầy.

Mỗi linh hồn là một điểm Linh Quang của Thượng Đế, hay của Đại Hồn. Vậy, mỗi linh hồn là Thượng Đế trong trạng thái tiềm tàng. V́ Thượng Đế đó chưa ư thức được bản thể thiêng liêng của ḿnh. Và chính để khai mở ư thức nầy mà linh hồn phải trải qua các kinh nghiệm của kim thạch, thảo mộc, cầm thú, nhơn loại, đến Thánh, Thần, Tiên, Phật. Bắt đầu nó hạ sâu xuống vật chất trên con đường nhập thế. Và sau đó, nó tiến lên quả vị siêu linh trên con đường xuất thế, trong một thời gian vô số kiếp.

Khi nhập thế, Chơn Thần bắt đầu nhập vào các loài tinh chất. Kế đó, nó sang loài kim thạch, thảo mộc rồi đến thú cầm, để tiến lần đến sự cá thể hóa mà thành người. Như vậy, cầm thú là đàn em của chúng ta.

Ở đây, tôi không tiện tŕnh bày diễn tŕnh tiến hóa của linh hồn ở các giai đoạn chuẩn bị thành người, v́ như thế chúng ta sẽ đi xa đề. Chúng ta chỉ cần suy diễn một vài điều liên hệ đến thuyết luân hồi mà chúng ta đang t́m hiểu.

LỢI ÍCH CỦA ĐAU KHỔ
    mục lục đầu sách cuối sách chú thích

  Chúng ta đă biết đau khổ là hậu quả của điều ác, của sự vi phạm luật trời, và điều ác phát sinh từ sự vô minh. Vậy, cội rễ của đau khổ là vô minh. Như thế, muốn diệt khổ phải bứng cái rễ đó, nghĩa là phải phá vô minh. Và, phá bằng cách nào ? Phải làm cách nào để thay nó bằng minh triết ? Chúng ta phải nhờ kinh nghiệm. Và kinh nghiệm như tôi đă nói, thường là những điều khổ. Thế là ta phải kết luận: đau khổ thật là hữu ích, nó là ân huệ. Đau khổ là một điều kiện thuận lợi, một yếu tố cần thiết cho sự tiến hóa của con người. Nó mở mang tâm thức, rèn luyện linh hồn. Không có nó, cuộc tiến hóa sẽ tŕ huỡn khôn cùng. Là v́ tâm thức chỉ phát triển mau trong băo tố, khi tâm hồn bị khích động bởi những xúc cảm ồ ạt, dục vọng bạo tàn, đời sống khắt khe. Như vậy, đau khổ rất cần ở giai đoạn đầu và hữu ích suốt thời gian tiến hóa. Linh hồn càng trưởng thành, nỗi khổ càng da diết, càng tinh tế. Đau khổ là ḷ lửa đốt tan các ham muốn đê hèn và ích kỷ. Nó c̣n là trường học của thiện cảm, và t́nh thương. Đôi khi, nó ray rứt, nhưng lúc nào nó cũng bồi dưỡng ḷng từ ái trong ta, khiến ta dễ thông cảm với mọi nỗi đau khổ quanh ta. Nếu không đau khổ làm sao ta có thể mở rộng ṿng tay để đón những người bạc phước, làm sao ta có thể t́m những lời lẽ dịu dàng, thích hợp để xoa dịu những vết thương ḷng ?

Như vậy, tại sao ta quá sợ đau khổ ? Tại sao ta cố tránh nó ? Dấu hiệu của thời đại chúng ta là tránh mọi đau khổ. Trong mục đích này, chúng ta sáng chế đủ thứ thuốc. Ta không thể chịu nổi một cơn đau nhức nhẹ. Ta không dám nh́n sự nghèo đói, những khu nhà tồi tàn. Ta không dám xem những trang sách mô tả sự mổ xẻ sinh vật, hay cảnh nô lệ của biết bao nhiêu phụ nữ đáng thương. Như thế, là v́ ta muốn tránh cho ḷng khỏi rung động, hay xao xuyến, đau khổ.

VẤN ĐỀ THIỆN ÁC 
    mục lục đầu sách cuối sách chú thích

Không có điều quấy th́ không có đau khổ. Và, bởi đau khổ cần thiết, bởi nó giúp vào sự tiến hóa của linh hồn, nên điều quấy cũng có sự hữu ích của nó. Quư bạn đừng nên vội nói : “Ư nghĩ nầy thật là vô luân !” Tại sao vô luân ? Nếu chúng ta lănh hội được luật tiến hóa, th́ ta sẽ thấy những chi cản trở bước tiến của con người mới thực là vô đạo, vô luân. Đối với chúng tôi, người Thông Thiên Học, đạo đức là sống hợp với luật trời, là nương theo ḍng triều đi lên ấy, tức là ḍng tiến hóa. Điều ác, theo chúng tôi là những chi làm trễ nải, những chi ngăn chặn ḍng tiến vĩ đại ấy, những chi trái với bước tiến của toàn thể hay của cá nhơn. Quả thật không có chi tương đối những điều quấy. Dục t́nh ích kỷ rất cần để kích thích các linh hồn thơ ấu, chúng thúc đẩy các linh hồn ấy chiến đấu để gia tăng sức mạnh. Chúng c̣n mở mang trí tuệ. Như thế, chúng đâu gây nhiều tai hại. Nhưng đối với chúng ta, sáng suốt hơn và tiến hóa hơn, dục t́nh, ích kỷ và tham vọng là điều quấy v́ chúng ngăn cản bước tiến hóa của chúng ta và xui chúng ta chống lại Thiên Luật. Tất nhiên, nếu chúng ta khăng khăng hành động theo các điều quấy ấy, đời sống của chúng ta sẽ đổ vỡ và đau khổ.

Thường thường, linh hồn ấu trĩ cần trải qua điều quấy gây đau khổ, linh hồn mới ư thức được các hành động trái luật trời. Làm sao có thể khuyên dạy một linh hồn chế ngự dục t́nh, và bản chất đê tiện, nếu nó không bị đau khổ v́ chúng ? Lại nữa làm sao một linh hồn thơ ấu có thể hoạt động nếu không được kích thích bởi ḷng ích kỷ và tham vọng ? Làm sao chúng ta có thể thuyết phục nó bằng ư niệm bổn phận, bằng lư tưởng hay bằng hạnh hy sinh, v́ nó chưa biết thế nào là phải, thế nào là quấy ? Điều nó cần là những chi vừa tầm hiểu biết của nó. Một đứa trẻ phải là xấu xa, mà rất hữu ích, v́ chúng thúc giục sự tiến hóa của linh hồn. Ở tŕnh độ tiến hóa của những linh hồn non trẻ ấy, v́ trí tuệ c̣n kém cỏi, nên con người tuy thô bạo, chớ không làm sao có thể đọc những sách khoa học, có thể dùng những dụng cụ giải phẫu ? Trong một tác phẩm sau cùng của bà A. Besant, bà viết : “Làm sao bạn biết lẽ công b́nh, nếu bạn chưa thấu triệt sự bất công ? Làm sao bạn có thể chọn điều lành, nếu bạn chưa biết việc ác ? Làm sao bạn nhận ra ánh sáng nếu không có bóng tối ? Sức mạnh chỉ có thể nảy nở bằng đấu vật, bằng nỗ lực, bằng thao dượt. Cũng thế, sức mạnh nội tâm không bao giờ phát hiện và gia tăng, nếu linh hồn không thất vọng, đau buồn”.

Tóm lại, đối với chúng ta, người Thông Thiên Học, quấy và ác là: những chi ngăn cản sự tiến hóa của con người. Khi một điều quấy giúp vào sự tiến hóa, nó không c̣n là một điều quấy mà là một việc cần ích. Vậy chúng ta nên khoan dung đối với linh hồn thơ dại và nghiêm khắc đối với ḿnh. Những linh hồn ấy đang học bài học của họ, như chúng ta đang học bài học khó hơn của chúng ta. Và, một ngày kia, họ cũng sẽ học đến những bài học khó nầy. Khi các ư nghĩ nầy được hiểu rơ, bạn sẽ lănh hội được thế nào là điều ác.

Khi đọc những ḍng chữ nầy, chắc có bạn sẽ thắc mắc như vầy : “V́ điều quấy cũng tốt, th́ tôi sẽ thỏa măn ḷng dục của tôi, tha hồ, cần ǵ thận trong !”. Bạn ấy đă hiều lầm tôi. Các độc giả hăy tin chắc rằng, đối với các bạn, điều quấy không c̣n là một sự lợi ích, tốt lành nữa, khi mà bạn cố ư làm quấy, nghĩa là bạn làm ác một cách có ư thức; tất nhiên nó phải hại bạn và ngăn cản bước tiến của bạn.

SỰ B̀NH ĐẲNG VÀ T̀NH HUYNH ĐỆ 
    mục lục đầu sách cuối sách chú thích

Thế là trong nhơn loại, có đủ hạng linh hồn, khác nhau về tuổi tác, khác nhau về tŕnh độ tiến hóa. Có những linh hồn ấu trĩ và cũng có những bậc siêu nhân đă tiến đến tột đỉnh tiến hóa của nhơn loại. Ấy là những bậc mà chúng ta gọi là các Đấng Chơn Sư Minh Triết với một ḷng tôn kính chơn thành. V́ vậy, mà không sao có sự b́nh đẳng trên thế gian nầy được. Làm sao ta có thể thiết lập sự b́nh đẳng trong xă hội khi nó không có trong thiên nhiên, trong vũ trụ ? Trong gia đ́nh nhơn loại, luôn luôn có kẻ nhỏ, người lớn, kẻ thanh, người trược, kẻ ngu khờ, người lỗi lạc.

Nhưng nếu luật tiến hóa quả quyết không sao có sự b́nh đẳng giữa loài người, th́ nó dạy ta một bài học quan trọng về t́nh huynh đệ, về sự liên đới giữa con người.

Trên chiếc thang tiến hóa, chúng ta đă trải qua các nấc thấp. Ở một thuở nào, chúng ta đừng lạm dụng sức lực chúng, mà phải thương yêu và d́u dắt chúng. Những ai thương thú vật và sống gần gũi chúng, đều biết rằng t́nh thương giúp chúng tiến mau; chúng tỏ ra hiền lành, thông minh và biết suy nghĩ; chúng có trí khôn gần giống con người. Thật hết sức đúng mà nhận rằng: “Chúng nó là những đứa em thấp kém của chúng ta, chúng quả là những thí sinh sắp sửa vào hàng nhơn loại. Và, cái quyền mà chúng ta tự phụ đối xử với chúng, chẳng qua là quyền của kẻ mạnh”.

Tiến lên một vài nấc nữa, chúng sẽ ở vào thời kỳ cổ lổ của nhơn loại. Ở giai đoạn nầy, tất cả chúng ta đều có làm ác, đều có gieo đau khổ để mưu lợi cho ḿnh, bằng tư dục ích kỷ. Có thể chúng ta là kẻ sát nhơn hay ít nhứt cũng là người hung ác, ngu đần, bởi vậy, bổn phận của chúng ta là giúp đỡ các linh hồn thơ ấu, đàn em trẻ dại của chúng ta, bằng các nâng cao tâm t́nh chúng và đánh tan sự vô minh đang bao bọc chúng.

Trên tất cả nấc thang tiến hóa, chúng ta đều có bổn phận đối với đàn em thơ dại, đối với các bạn ngang hàng cũng như đối với các bậc lăo thành.

T́nh huynh đệ và liên đới thay thế sự b́nh đẳng một cách tốt đẹp. Là v́, nơi nào b́nh đẳng duy tŕ sự oán ghét, ngờ vực và hoài nghi, th́ nơi ấy t́nh huynh đệ nới rộng ṿng tay kết hợp và thương mến. Điều nầy là một ưu điểm và là một sức mạnh của Hội Thông Thiên Học được truyền bá trên khắp thế giới. Nó đặt nhẹ sự giúp đỡ vật chất mà nhiều công cuộc từ thiện đă đảm trách. Nó chuyên chú vào sự giúp đỡ đạo đức, trí thức và tâm linh [2].

Các bạn hăy tưởng tượng các kiếp sống ở cơi trần như một cuộc đăng sơn vĩ đại và khó khăn đến đỗi có vẻ như không thể nào thực hiện. Nhưng ngọn núi trắng tuyết đă hiện ra cho các bậc huynh trưởng nhanh chơn và cương quyết. C̣n đàn em thơ ấu c̣n lần ḍ từ bước trong thung lũng âm u và vấp chơn vào đủ thứ chướng ngại, v́ chưa ư thức được lộ tŕnh. Trước các em nầy, trên khắp quăng đường, nhơn loại trung b́nh, nửa tin, nửa ngờ, cũng đang tiến theo chơn các huynh trưởng, trên con đường hành hương diệu vợi, mà họ chưa hiểu được nguyên lai và mục đích.

Trong cuộc đăng sơn nầy, t́nh huynh đệ phải được xem như một dây xích vô tận, mà mỗi cá nhơn là một khoen con. Chúng ta không thể đơn độc tiến lên một ḿnh: chúng ta cần theo chơn một người, đồng thời dẫn dắt thêm một người. Bạn đă được một người giúp bạn nhảy qua khe núi, th́ bạn cũng phải đưa tay d́u dắt một người khác đang kiệt sức phía sau. Đó là cách bạn tỏ ḷng tri ơn, v́ nhơn loại là Một, khi bạn giúp một người là bạn giúp tất cả, kể cả ân nhân bạn đó, v́ trên đời, đâu phải luôn luôn bạn được dịp trả ơn ngay cho người đă thi ơn cho bạn.

Chúng ta hăy cố gắng thực hiện t́nh huynh đệ đại đồng ấy. Chúng ta hăy cảm nghe sự sống chung quanh rung động ở tâm ta. Chúng ta hăy xem các huynh đệ của ta là chính ta. Những điều ta biết dù ít oi, chúng ta hăy chia sớt cho họ. Nếu ta thấy một tia sáng Chơn lư huy hoàng hiện trên con đường, hăy hưởng cái hạnh phục tuyệt vời khi hạnh phúc ấy được đem chia cho bạn cùng đường. Chính khi làm những công việc phụng sự nầy, chúng ta sẽ tiến lần lần đến mục đích xa xăm, mà hiện nay chúng ta chưa ư thức được rơ ràng sự vinh quang kỳ diệu.

 ******

Trước khi sang qua luật Nhơn Quả kỳ diệu, liên quan mật thiết với luật Tiến hóa và luật Luân Hồi, tôi tưởng nên giải đáp một câu hỏi có thể làm cho một vài bạn thắc mắc.

Các bạn sẽ hỏi: “Tại sao muốn tiến đến quả vị Tiên Thánh, con người phải trải qua nhiều kinh nghiệm, phải đắm ḿnh trong tội lỗi, phải chịu đau khổ đủ điều như thế ?

Đành rằng Thượng Đế có thể sáng tạo một con người hoàn toàn. Nhưng Ngài không muốn làm thế, v́ tạo một con người trọn lành là tạo một con người máy. Ngài muốn con người được tự do. Ngài muốn con người tiến đến sự toàn tri, đến Chơn ngă, đến quả vị thánh hiền bằng chính kinh nghiệm của ḿnh. Ngài muốn con người nếm mùi tội lỗi và trải qua nhiều gian lao cần thiết cho sự mở mang tâm thức. Ngài muốn trên con đường tiến hóa, con người biết thế nào là yếu hèn, đau khổ, để thông cảm với các bạn đường. Có thể, hoa từ bi mới nở ở ḷng anh, để chuẩn bị anh trong sứ mạng cao quư cứu đời. Ngài “muốn” thế, là v́, đó là một điều “cần thiết”.

LUẬT HY SINH 
    mục lục đầu sách cuối sách chú thích

Đến đây, tôi bắt buộc phải nói đến luật Hy Sinh thiêng liêng trong việc sáng tạo vũ trụ.

Theo giáo lư Thông Thiên Học, luật Hy Sinh thiêng liêng (mà sự chuộc tội ở Thiên Chúa Giáo chỉ là một phản ảnh nhỏ) là Công Đức vô lượng của Đức THƯỢNG ĐẾ, là công nghiệp của Đấng Tối Cao. Trong t́nh thương bát ngát, trong niềm lạc phúc tràn đầy, trong sự vinh quang khôn tả. Ngài tự giới hạn ḿnh, tự giam hăm ḿnh trong h́nh hài sắc tướng do Ngài sáng tạo. Mục đích của Ngài là hóa sinh vô số sinh linh, và các sinh linh nầy, khi đang tuần tự tiến lên, lần hồi ư thức được ḿnh là những tiểu trung tâm trong đại trung tâm, là những tiểu ngă trong đại ngă, là những Thánh linh trong Thượng Đế vô biên. Ngài quả thật là Đại Từ Phụ, v́ sự sống của Ngài lan tràn khắp nơi, ở ḷng ta cũng như ở trong ḷng vạn vật, v́ tâm thức Ngài bao trùm tâm thức của chúng ta và rung động cùng chúng nó. Ngài ở trong ta và ta ở trong Ngài.

Để giải rơ điều nầy, tôi xin nêu một so sánh. Thân thể ta có một sự sống duy nhứt, nhưng nó được tạo thành do nhiều tế bào, và các tế bào nầy lại có những sự sống riêng, trong sự sống duy nhứt của thân thể. Thân thể ư thức được các cảm giác của tế bào và xem như là cảm giác của ḿnh.

Cũng thế ấy, tâm thức vô biên của Thượng Đế bao trùm các tâm thức nhỏ bé của chúng ta. Cũng thế ấy, tâm trí toàn tri và cùng khắp của Ngài thu nhận các cảm giác của chúng ta là những nguyên tử nhỏ bé so với Ngài. Những cảm giác của mỗi hột nguyên tử trong cơ thể ta, để so sánh th́ cũng như chúng ta đối với Đức Thượng Đế vậy – “Tóc trên đầu con cũng đă được đếm”, Đức Chúa dạy như thế !

Dù nhỏ bé, hèn mọn hay bất toàn, nếu chúng ta ư thức được sự hy sinh thiêng liêng nầy th́ sự hiến dâng bừng dậy ở ḷng ta: chúng ta muốn đáp lại tiếng gọi của t́nh thương, chúng ta hoài băo được giúp vào công cuộc tế độ cao cả, và sẵn sàng hiến dâng thân thể, trí tuệ, linh hồn ta để giúp Ngài cùng những vị pḥ tá Ngài.

Nhưng than ôi ! chúng ta c̣n hèn mọn nên không thể bay lượn lâu trên trời cao, chúng ta chỉ vươn lên đó trong những phút giây ngắn ngủi. Rồi khi ngọn lửa thiêng tắt lịm v́ thiếu sức tư dưỡng, chúng ta cũng lại rơi về cơi đời ích kỷ, tầm thường.

Bây giờ, nếu chúng ta hiểu vũ trụ được sáng tạo và duy tŕ do sự hy sinh thiêng liêng; nghĩa là, do sự giới hạn của vô biên, do ân huệ của Thượng Đế hằng ban rải khắp nơi, chúng ta sẽ hiểu sự giới hạn nhứt thời nầy [3], tạo sự bất toàn nhứt thời. Trong những điều kiện mà Ngài tự đặt ḿnh vào v́ t́nh thương chúng ta, Ngài không thể hành động trái với luật Tiến Hóa. Ngài không thể tạo một con người hoàn toàn thánh thiện. Nhưng Ngài có thể chuyền cho mọi người sự sống của Ngài với những tiềm lực thiêng liêng.

Con người là một v́ Thượng Đế chưa ư thức được bản ngă thiêng liêng của ḿnh. Và chỉ ư thức được, khi nào trải qua các giai đoạn tiến hóa như tôi đă tŕnh bày ở phần trước., nghĩa là, sau khi nếm qua quả “thiện”, quả “ác”. Và hơn nữa, sau khi các tiềm năng thiêng liêng của trí tuệ, ư chí và t́nh thương được biến chuyển thành những đức tính cá nhơn.

LUẬT NHƠN QUẢ 
    mục lục đầu sách cuối sách chú thích

Chúng ta đă thấy, đau khổ là một đ̣n bẫy cất chúng ta lên khỏi bùn nhơ của dục vọng, một điều kiện thuận tiện, cần thiết cho sự tiến hóa và một yếu tố giáo hóa rất quư báu. Chúng ta cũng đă thấy: tội ác bắt nguồn trong vô minh, và đau khổ phát nguyên từ tội lỗi. Quy tắc nầy bao trùm tất cả, kể cả các trường hợp cá nhơn và đặc biệt. Tất cả các đau khổ của chúng ta là kết quả của những tư tưởng, lời nói, hành động xấu xa mà chúng ta đă tạo ra trong kiếp nầy hay các kiếp trước.

Thế là, chúng ta lại đứng trước một Đại Luật rất quan trọng mà triết lư Đông Phương gọi là KARMA (hành động). Luật nầy bổ sung luật Luân Hồi, và có thể gọi là luật Báo Ứng, luật Nhơn Quả, sự Công B́nh Nội Tại hoặc Công Lư Hằng Cửu.

Nếu quư bạn hiểu được chức vụ của luật Nhơn Quả trong đời sống cộng đồng của nhơn loại cũng như trong đời sống nhỏ bé của cá nhơn, quư bạn sẽ lănh hội rơ ràng hai vấn đề: đau khổ và định mệnh, sẽ thấy sự Công B́nh Thiêng Liêng chiếu rực rỡ ở nơi mà trước kia quư bạn chỉ thấy bất công và phiền năo [4].

Chơn lư nầy có vẻ quen thuộc với chúng ta. Quư bạn suy nghĩ kỹ xem. Quư bạn há không từng đọc lời của Thánh Paul: “Các ông đừng lầm, người ta không thể đùa cợt với Thượng Đế. Ai gieo cái chi th́ gặt cái nấy”. Đó là đại cương của luật Nhơn Quả: Đă có nhơn th́ có quả. Một nghiệp quả luôn luôn phát sinh từ một nguyên nhơn. Nguyên nhơn nào cũng tạo nghiệp quả. Và, nhơn với quả luôn luôn cân xứng.

Tất cả các đau khổ của chúng ta là những món nợ mà chúng ta trả cho xă hội hoặc cho Thiên Luật. Những người mà chúng ta gây đau khổ trong quá khứ, luật Nhơn Quả sẽ đặt họ trên bước đường của chúng ta như là những chướng ngại để phá hoại hạnh phúc của chúng ta một cách ư thức hay vô thức. Đó là những món nợ mà chúng ta trả trực tiếp cho người. Trái lại, nếu chúng ta làm hại ai, mà vi phạm Thiên Luật, th́ luật Nhơn Quả cũng trừng phạt chúng ta bằng biến cố và đau khổ.

Nhưng danh từ trừng phạt ở đây không đúng lắm, dù rằng đau khổ xảy ra dưới h́nh thức một h́nh phạt.

Là v́, nó gợi ở trí ta một Đấng Thiêng Liêng nắm quyền thưởng phạt và khiến chúng ta nghĩ đến Đấng Jéhovah [5] trừng phạt con cháu Ngài. Thật ra, Luật Trời nhơn từ, không bao giờ trừng phạt, mà chỉ thản nhiên điều chỉnh một sự quân b́nh đă mất, bằng cách đem lại cho kẻ bất cẩn một bài học hữu ích và công bằng. Cũng như quư bạn đâu thể gọi là “trừng phạt” khi một đứa trẻ bị phỏng tay v́ thọc tay ấy vào lửa. Đa số hành vi chúng ta đều giống như vậy.

Khi chúng ta làm quấy v́ vô minh th́ đau khổ xảy ra liền theo đó. Đó không phải là sự trừng phạt, mà chính là một bài học nhằm khuyên dạy chúng ta tránh mọi lỗi lầm. Nhờ các bài học bổ ích và nghiêm khắc ấy, nhờ các kinh nghiệm đau khổ ấy mà lần lần chúng ta thoát khỏi lưới vô minh.

Luật Tiến Hóa là luật Điều Ḥa. Khi mà sự quân b́nh đă mất do một tội lỗi, th́ sự quân b́nh ấy chỉ có thể tái lập bằng cách người phạm lỗi phải chịu đau khổ, y như khi một nhánh cây bị một trẻ em tŕ xuống, nhánh ấy vượt khỏi tay em, bật lên, và đập ngay vào mặt em. Luật Nhơn Quả chỉ có thế, thật là thực tế, thật là khoa học !

Có lẽ bạn nói: “Nếu vô t́nh làm quấy mà phải chịu tội th́ thật là bất công !” Nhưng làm thế nào tránh được tội bởi đó là hậu quả của nguyên nhân và không nhân nào không tạo quả cả. Khi ta đặt tay vào lửa th́ làm sao ta khỏi phỏng tay?

 Tuy nhiên, trên bàn cân nhân quả, động cơ và ư muốn nặng hơn hành động bội phần. Hành động chỉ thu hẹp ở cơi trần, cơi vật chất; c̣n động cơ và ư muốn th́ gây âm hưởng trong các cơi vô h́nh. Nơi đây, tác động của chúng tác động mạnh mẽ hơn ở cơi trần rất nhiều. Khi một hành động tốt đẹp và hữu ích, mà động cơ lại ích kỷ th́ hành động ấy chỉ có thể tạo một hạnh phúc cạn hẹp. Ví dụ: một người xây một bịnh viện với mục đích được ân thưởng huy chương hay được người đời ca tụng, hành động ấy tạo cho anh những hạnh phúc ở cơi trần trong một kiếp sau; những động cơ ích kỷ sẽ đem lại anh những đau khổ tinh thần.

Như thế, động cơ càng thanh cao th́ nghiệp quả càng tốt đẹp.

Khi con người tiến hóa cao, nghiệp quả trở nên phức tạp, v́ trong một thời gian ngắn, ta có thể có những hành động vừa cao thượng vừa thấp hèn, tạo những quả vừa tốt vừa xấu. V́ vậy, các Đấng Thiêng Liêng đảm trách luật Nhân Quả có một phận sự rất khó khăn v́ các nhân không thể cùng sanh quả trong một kiếp. Các Ngài phải chọn lọc nghiệp xấu tốt, và phân chia cho con người trả trong nhiều kiếp. Nhân nào không thể sanh quả ngay được th́ phải chờ đợi cơ hội thuận tiện ở một kiếp sau. Chính các nghiệp quả nầy dệt nên mệnh số của chúng ta. Chính nó tạo ra ta, đặt ta ở xứ nào, trong một hoàn cảnh nào và gây những biến cố vui buồn trong đời ta. Chúng ta đừng ngạc nhiên tại sao hạnh phúc của chúng ta hiếm hoi và ngắn ngủi, tại sao tai họa xảy đến cho chúng ta quá thường ! Đối với chúng ta tŕnh độ tiến hóa c̣n thấp, chúng ta há không làm quấy nhiều hơn hành thiện hay sao ? Nhứt là tư tưởng: động cơ thúc đẩy chúng ta hành động c̣n ô trược !

Tuy nhiên, khi kiến thức chúng ta mở rộng, chúng ta sẽ làm chủ được vận mệnh chúng ta phần nào. Người dốt nát nô lệ cho dục vọng và ham muốn, và như thế là nô lệ của số mạng ḿnh. Trái lại, nếu chúng ta biết Luật Trời, chúng ta có thể tạo nghiệp quả tốt bằng hành động và tư tưởng thanh khiết, từ bi [6]. Chúng ta không tránh các nghiệp quả đă tạo ở các kiếp trước – v́ thiếu nợ th́ phải trả - nhưng, chúng ta có thể “vô hiệu hóa” nghiệp quả hiện tiền. Tôi xin đơn cử một ví dụ: trong kiếp nầy, ta đă gây đau khổ cho ai, th́ có thể ngay bây giờ, chúng ta cố t́m cách để giúp đỡ người đó. Đó là một cách trả nợ. Các vị tu cao, biết được tiền kiếp của ḿnh, nên có thể dùng cách đó để chuộc những lỗi lầm xưa.

Đến đây, bạn có thể hỏi tôi: “loại nhân nào sẽ tạo ra quả nào ?” Về vấn đề nầy, người ta không thể đặt một qui tắc tổng quát. Đừng tưởng rằng kiếp nầy, trong một cuộc đi săn, bạn lỡ bắn một người nào đó găy chân; th́ trong một kiếp sau, người nầy sẽ bắn bạn găy chân lại. Đành rằng, khi bạn bất cẩn gây thiệt hại cho người, th́ bạn sẽ trả quả, nhưng bạn có thể trả một cách khác hơn là bị một phát súng bắn cũng găy chân y như thế. Nhân và quả có thể khác nhau về bản chất, nhưng bằng nhau về động lực.

Tuy nhiên, nhân và quả thường thường đồng bản chất, nếu cơ hội được thuận tiện. Chẳng hạn như, một án mạng: có thể sẽ gây một cái chết dữ dội; một cuộc đời trụy lạc: có thể gây một đời sống tật nguyền. Nếu sự trụy lạc đi đến mức độ đê hèn quá, nó sẽ tạo ra sự đần độn. Đại để, sự thỏa măn vô độ các ham muốn xấu xa, sẽ tạo nên đủ thứ thiếu thốn. Người ta thường nói: sự hung ác gây điên cuồng; lười biếng th́ si mê tŕ độn; ngạo mạn th́ phải chịu nhục nhă; người ích kỷ sẽ không có bạn và thiếu t́nh thương. Những ai đă bỏ qua cơ hội tiến hóa tâm linh sẽ không thể gặp những dịp tiến lên. Bà mẹ nào bỏ bê con cái cũng sẽ gặp lại nó, sẽ yêu mến nó, rồi nó sẽ chết sớm, để lại cho bà sự mến tiếc và đau khổ. Những trẻ bị hành hạ, có thể là những kẻ bạo tàn trong một tiền kiếp.

Đại khái, đó là một vài mẫu nhân và quả tương đồng đi kề nhau. Nhưng tôi xin lập lại là không nhứt định có một qui luật tổng quát, v́ tác động của nhân quả vô cùng phức tạp, ngoài tầm hiểu biết của chúng ta.

Và để cho bạn đọc ư thức tính cách phức tạp ấy của luật Nhân Quả, tôi xin nói thêm rằng, luật nầy chẳng những chi phối đời sống cá nhân mà cả vận mạng thế giới nữa. Mỗi nước có một nghiệp quả mà dân trong nước cùng tạo ra. Chiến tranh, tai trời, dịch bịnh v. v. . . ., tàn sát cả muôn cả ngàn người, ấy là những nghiệp quả chung. Quyển Ánh Sáng Trên Đường Đạo dạy: “Con hăy nhớ tội lỗi và ô nhục thế giới là tội lỗi và ô nhục của con, v́ con là một thành phần của thế giới. Nghiệp quả của con được kết liền vào nghiệp quả chung”.

VÀI BIỆN BÁC VỀ LUẬT NHÂN QUẢ    
   
mục lục đầu sách cuối sách chú thích

Bạn sẽ hỏi: “Các điều nói trên rất đẹp. Nhưng đâu là bằng chứng ? Chúng nó rất mới mẻ, khác hẵn những điều tôi biết và chúng làm tôi ngạc nhiên.”

Tôi nghĩ, khi bạn đến với tôi là bạn cần một vài an ủi. Nếu tôi tŕnh bày các bằng chứng Thông Thiên Học, tôi phải để nhiều th́ giờ và vượt xa vấn đề đau khổ mà không làm cho nó sáng tỏ thêm. Tuy nhiên nếu bạn thấy các ư kiến tôi vừa tŕnh bày có một ít giá trị, hay có thể an ủi bạn, bạn nên đọc sách Thông Thiên Học để t́m các bằng chứng nói trên. Bạn hăy cố đi sâu vào giáo lư của chúng tôi, rồi sau khi nghiên cứu tinh tường, rất có thể, những chi bây giờ chỉ là giả thuyết sẽ trở thành một Chơn lư sống động.

NHỚ LẠI TIỀN KIẾP 
    mục lục đầu sách cuối sách chú thích

Tuy nhiên, bạn có thể đưa ra một biện bác tự nhiên liên hệ đến vấn đề đau khổ, một lối bác bẻ mà tôi đă được nghe nhiều lần. Nó như thế nầy: “Bà nói rằng luật Nhân Quả rất công b́nh, nhưng phải chăng công b́nh, khi chúng ta đau khổ v́ những nhân mà ta đă tạo ra ở kiếp trước, và bây giờ không c̣n nhớ được một mảy may ǵ.”

Đó quả là một bác bẻ rất tự nhiên, tôi xin lập lại như thế. Song le hẵn quư bạn không nghĩ đến điều nầy: “đối với đa số nhân loại, có một vài sự kiện mà con người không thể thực hiện trong cơi hữu h́nh, nghĩa là chúng ta không thể nhớ được các tiền kiếp”.

Tại sao ta không nhớ các kiếp trước của ta ? Là v́ trong mỗi kiếp, chúng ta có một xác thân khác, một khối óc khác. Khối óc là một dụng cụ mà linh hồn chỉ dùng trong một kiếp người mà thôi. Vả lại, nếu bạn không thể nhớ tất cả kỷ niệm của thời thanh xuân hay thơ ấu, những kỷ niệm mà chính khối óc bạn đă ghi nhận, th́ làm sao bạn có thể nhớ các việc xảy ra trong tiền kiếp ? Tuy nhiên, đôi khi có những bộ óc tinh vi có thể ghi nhận được các rung động vi tế của Chơn Nhơn. Trong trường hợp nầy, người ta có thể nhớ ít nhiều các tiền kiếp. Hơn nữa, khi con người xuất khỏi thể xác trong giấc ngủ, th́ nhớ lại quá khứ; v́ thể Vía (cảm thể hay thể t́nh cảm) ghi nhận dễ dàng các rung động nói trên. Trong thể Trí, tinh vi hơn nữa, các kỷ niệm nầy c̣n rơ ràng và chân xác bội phần. Riêng về con người tiến hóa cao đă thực hiện được sự liên lạc giữa khối óc vật chất (Phàm Ngă) và Chơn Nhơn, người ấy có thể nhờ Chơn Thân mà nhớ lại rơ ràng tất cả kiếp trước (v́ thể nầy vốn trường tồn từ kiếp nầy sang kiếp khác).

Người ta thường sánh Chơn Nhơn với một xâu chuỗi ngọc trai mà mỗi hạt trai là một kiếp sống. Với sự so sánh nầy, bạn hiểu rằng, khi chúng ta đặt được chiếc cầu giữa tâm thức vật chất (Phàm Ngă) [7] và Tâm Thức siêu đẳng (Chơn Ngă), th́ chúng ta nhớ lại trọn vẹn quá khứ.

Ta thấy rằng kiếp trước của ta thế nào th́ bây giờ đời sống chúng ta thế ấy. Chúng ta hăy cổi bỏ những ǵ chúng ta đă hoạch đắc trong kiếp nầy và nhớ lại những khuynh hướng của chúng ta lúc nhỏ, những thói hư và nết tốt bẩm sinh, những sở đoản và sở trường, những điều ḿnh ưa hay ghét, th́ chúng ta biết được dễ dàng cá nhân của ḿnh trong kiếp chót, kế đây.

Bây giờ chúng ta đề cập lại vấn đề công bằng đặt ra như vầy: “Có công bằng chăng, khi ta phải chịu đau khổ v́ những lỗi lầm xảy ra trong các kiếp trước ?” Để trả lời câu hỏi nầy, tôi xin nhường lời lại cho một ng̣i bút hùng biện và có uy tín hơn tôi.

Sự lăng quên có xóa mất những lỗi lầm hay tiêu hủy các hậu quả của các lỗi lầm ấy chăng ? Một kẻ sát nhân quên mất vụ án mạng gây ra bữa trước, có thay đổi được hành động hay hậu quả việc làm đă rồi của anh chăng ? Các kiếp lai sinh chỉ là hậu nhựt của những tiền kiếp. Và nếu nước từ bi của sông Léthé [8] đă xóa mờ quá khứ, những năng lực tích tụ ở linh hồn từ đời nầy sang đời nọ, vẫn tác động ở tương lai.

Trái lại, nếu người ta có thể nhớ các kiếp trước, th́ sự bất công khắc khe sẽ hiện ra, v́ chúng ta sẽ đau khổ triền miên trước một quá khứ dẫy đầy tội lỗi xấu xa, một quá khứ có thể đă hoen ố v́ án mạng nữa.

Hơn nữa, nếu ta biết tại sao ta bị phạt, nghĩa là, nếu ta biết rơ lỗi nào của chúng ta đă làm, sẽ gây ra trừng phạt nào; và chừng nào h́nh phạt ấy sẽ xảy ra trong cuộc đời ta, th́ phải chăng trừng phạt ấy sẽ quá nặng nề, so với tội lỗi của chúng ta. Chừng ấy, người người đều nguyền rủa vị nào lại bắt chúng ta nhớ các kiếp trước, để biến đời sống thành một nguồn khốn khổ không nguôi, một nỗi kinh hoàng không dứt và làm tê liệt mọi hoạt động, mọi sáng kiến của chúng ta, trong một giấc mộng quá khứ hăi hùng.

Con người tuy thường bất công hay hung ác cũng không muốn cho kẻ tử tội đau khổ, v́ vậy, cho đến phút chót mới cho anh biết sự bác đơn ân xá của anh. Xem thế th́, Luật Trời chẳng là kém từ bi hơn luật đời chăng ?

Vô minh như chúng ta, thật sự là một sự táo bạo khi chúng ta phỉ báng những công tŕnh vĩ đại của các Đấng Minh Triết. Nếu chúng ta hiểu biết chút ít, nếu chúng ta cảm thông ít nhiều với Cơ Trời mầu nhiệm, chúng ta sẽ thấy rằng ơn Trời không bỏ quên một mảnh nhỏ nào của vũ trụ, hay một sinh vật nào, mà không chăm nom như một Đấng Cha Lành. Và chúng ta cũng ư thức được rằng: “Nơi nào v́ mù quáng, chúng ta thấy toàn sự rỗng không, sự bất toàn hay bất công, th́ một tia sáng rực rỡ chỉ cho chúng ta thấy sự sống lan tràn khắp nơi và ban rải t́nh thương cho vạn vật thân yêu, từ hột nguyên tử c̣n ngủ say, đến Chơn Linh Hành Tinh chói ḷa, mà Tâm Thức bao trùm toàn vũ trụ.

Thật ra, chính sau khi chết, một khi thoát ra khỏi các lớp vỏ hư ảo, linh hồn mới có thể soát lại một cách vô tư kiếp sống vừa qua và kiểm điểm tất cả hành động và hậu quả cùng với các lỗi lầm và sa ngă, với các động lực và nguyên nhân. Nhờ thế, linh hồn gia tăng kiến thức, khả năng và chiến đấu dễ dàng hơn với các chướng ngại đồng loại ở một kiếp sau. Như vậy, những chi nó học đều được lưu lại với nó. Những cái chi nó không biết th́ bây giờ biết được, và xuyên qua “Tiếng Nói Của Lương Tâm”, tiếng nói nầy bảo cho Phàm Nhơn biết đâu là bổn phận. Sự minh triết nầy là kư ức toàn hảo, v́ nó là tinh hoa của muôn ngàn kinh nghiệm trải qua. Trong những lúc cần phải quyết định khẩn cấp, con người nhờ nó chớ không sao ngồi ôn lại những sự việc liên hệ đă xảy ra trong quá khứ xa xăm, để t́m một lối xử sự tốt đẹp. Bài học đă được chiêm nghiệm và đồng hóa trong sự an lạc ở bên kia cửa tử. Do đó, linh hồn mới ứng đáp lanh lẹ, quả quyết và chắc chắn, như nó luôn luôn nghe tiếng gọi phân minh dường như ra lệnh cho nó: “Hăy làm điều nầy, hăy tránh điều nọ. . . .”

Dù sao trên đường tiến hóa, một ngày kia, những tư tưởng trong khối óc sẽ trở nên tinh vi, sau nhiều năm tinh luyện, và nhờ vậy mà con người nhớ được các kiếp trước. Nhưng, đến lúc nầy th́ các kư ức ấy không c̣n nguy hiểm, v́ linh hồn đă trả xong một phần lớn các nghiệp báo xấu, và cũng đủ dũng cảm để phù tŕ Phàm Nhơn, trước viễn ảnh đau khổ sắp xảy ra.

Trong Cơ Tiến Hóa thiêng liêng, mọi việc đều xảy ra đúng lúc, trong một phối hợp toàn mỹ, khiến người ta không sao không nh́n nhận sự toàn năng của Đấng Hóa Công.

SỰ CẦU NGUYỆN 
    mục lục đầu sách cuối sách chú thích

Đây là một phác họa vội vàng và tất nhiên là bất toàn về Đại Luật Công Bằng cao cả và bất biến, do đó mà cuộc đời của chúng ta diễn ra thành một chuỗi nhân quả kế tiếp. Hẵn nhiên, một phác họa vội vàng, đôi khi không khỏi mang nhiều bất lợi, có thể tạo nên hoài nghi và ít nhiều dị luận. Chẳng hạn như vài biện bác vừa được giải đáp ở đoạn trước. Bạn có thể hỏi: “Cần chi phải cầu nguyện, khi đă tin vào Luật Nhân Quả. Tin tưởng “nhân nào, quả nấy”, tức là phủ nhận quyền năng của mọi sự cầu nguyện rồi.”

Nếu bạn cho rằng: “cầu nguyện là một nhu cầu tinh thần th́ bạn nên cầu nguyện.” Lúc bấy giờ, sự cầu nguyện là một mănh lực tinh thần đem lại bạn nhiều phấn khởi và sự an tịnh. Cầu nguyện là mở rộng tâm hồn đón nhận ảnh hưởng thiêng liêng. Khi nguyện cầu, bạn tắm hồn trong cảnh giới thanh cao.

Nhưng coi chừng, bạn cần nên hiểu kỹ danh từ “cầu nguyện”. Thường th́ đa số người ta cầu nguyện để xin những lợi lộc vật chất; những ham muốn nhỏ nhen. Chẳng hạn: cầu an, cầu lợi, cầu danh, cầu phước, cầu lộc, cho thân nhân hoặc cho ḿnh. Sự cầu xin ấy chỉ là những mong ước ích kỷ tầm thường, để củng cố cho hạnh phúc riêng tư và bám níu ảo ảnh. Đó là những ước vọng vô minh.

Đối với chúng tôi, người Thông Thiên Học th́ cầu nguyện là: “cho ra”. Cầu xin là nguyện vọng nồng nàn dâng lên Thượng Đế, vị Thượng Đế ở trong ta và ở ngoài ta. Đó là sự hiến dâng ḿnh cho Thiên Ư, sự chiêm ngưỡng một lư tưởng cao siêu, một cử chỉ phục tùng, một niềm tin tưởng và tri ơn nồng nàn hướng về Thiên Luật Cao Cả. Cầu nguyện c̣n là lời kêu gọi tha thiết được phù trợ về tinh thần, trong những ngày đen tối đầy thử thách.

Cầu nguyện như thế khác xa với sự cầu nguyện ích kỷ, thiếu hẵn tâm từ, để van xin lợi lộc vật chất. Ở thế gian hằng ngày bạn cũng đă từng thấy diễn ra măi sự van xin lợi lộc của người đời, và người ta cũng được toại nguyện dễ dàng khi nhiệt thành mong muốn. Sự cầu xin lợi lộc vật chất không thể nào vượt lên các cơi cao. Nó phát từ cơi thấp (cơi trần) nên nó gây ảnh hưởng và đơm bông kết trái tại cơi ấy.

Đức Christ có nói: “Đức Cha trên Trời biết rơ nhu cầu của các Người, trước khi các Người cầu xin Ngài. . .” Vậy th́, chúng ta cần chi phải cầu xin ?

Nếu bạn chưa hiểu được Luật Trời, mù tịt về tương lai vận mệnh bạn, th́ chắc ǵ những điều cầu xin của bạn không đi ngược lại với quyền lợi và sự phát triển tinh thần của bạn ?

Phàm Ngă vốn sợ đau khổ, thích một cuộc đời không phiền toái, ưa sống an nhàn và êm ấm; trong khi Chơn Ngă, với những kinh nghiệm chưa thật vững vàng