Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 HOME  sách   TIỂU SỬ    BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN    BÀI VỞ   THƠ   gifts   TẾT 2006  BOOKS  MAGAZINES


ĐẠO LƯ THỰC HÀNH
(Phương Pháp Tập Luyện đặng thành một vị Thiện nhân)
 Đạo Học Tùng Thơ - In lần thứ hai - 1967
Tác giả: BẠCH LIÊN


MỤC LỤC

mục lục đầu sách cuối sách chương 1 chương 2 chương 3

 Vài lời nói đầu (Xuất bản kỳ I)

Vài lời nói đầu (Xuất bản kỳ II)

Bài tựa của quyển II

CHƯƠNG THỨ NHỨT

Con người là ai?

Con người xuống cơi trần làm chi?

Chung quanh ta là những Luật Trời

Những Luật Trời mà con người cần phải biết

Làm thế nào học hỏi những luật nầy

Những thể của con người hay là những dụng cụ để học hỏi cơ Trời

Bảy cơi của Thái dương hệ chúng ta

Bảy cơi của không gian

Phận sự của bảy thể

A.     Những thể hư hoại

B.     Ba thể trường tồn

Những thể của ta dùng thường ngày

Tại sao gọi con người là Tiểu Thiên Địa

Ba Ngôi của con người

Ai gây ra tội lỗi

1.- Tánh nết của xác thịt

2.- Tánh nết cái Vía

3.- Tánh nết cái Trí

Tam bành lục tặc là chi?

Tại sao con người phạm tội?

 

CHƯƠNG THỨ NH̀

Ta phải tự thức tỉnh cách nào?

Tại sao phải tinh luyện ba thể: Thân, Vía, Trí?

Phương pháp tinh luyện ba thể Thân, Vía, Trí

I.- Tinh luyện xác thân.

   a) Chọn lựa thực phẩm

       Những món ăn tinh khiết

       Những món ăn nên dùng

       Nên tránh

       V́ sao chúng ta phải tinh luyện xác thân

b)  Có tiết độ

                II.- Tinh luyện cái Vía

                III.- Tinh luyện cái Trí

                      Định trí

Nền tảng của sự định trí

Những cách định trí

Đề pḥng

Điều cần hơn hết là phải bền chí, thiếu can đảm th́ sẽ thất bại.

Sự chọn lựa tư tưởng

Hậu quả của một tư tưởng xấu

 

 

Hậu quả của một tư tưởng lành

Tư tưởng biến thành sự hành động

Tư tưởng trong 5 phút có thể phá hoại 5 năm công phu luyện tập.

Dầu gây dựng lại cũng đă mất thời giờ, hăy giữ ǵn cho lắm.

Cách diệt trừ tư tưởng xấu

Phải làm sao bây giờ?

Kiểm soát tư tưởng

Tai hại của sự mở trí mà không mở tâm

Tham thiền (Méditation)

Vấn đề tham thiền

Những sự hữu ích của sự tham thiền

Mục đích của sự tham thiền

Tham thiền mỗi ngày mấy lần

Cách ngồi tham thiền

Pḥng riêng để tham thiền

Phải tham thiền luôn luôn đừng gián đoạn

Đề pḥng

Hườn hư

Đại định (Contemplation)

Hai thứ đại định

Trạng thái của cái Trí trống không lúc nầy

Tiếng Nói Vô Thinh

Công phu hằng ngày

I.- Tham thiền đặng làm chủ ba thể: Thân, Vía, Trí

            1) Xác thân          

                     2) Cái Vía

                     3) Cái Trí

                     4) Tôi là Chơn Nhơn

II.- Tham thiền một tánh tốt

Cách luyện tập một tánh tốt

Phải kiên nhẫn, phải bền chí.

Đừng sợ thất bại

Thời gian tham thiền

Trong những giờ làm việc

Trưa đúng ngọ

Chiều hay tối

Tự tỉnh

Chí công mài sắt chầy ngày nên kim.

                              PHỤ TRƯƠNG

Những lời chứng minh về màu sắc của những h́nh tư tưởng

 

 

 

                    

CHƯƠNG THỨ BA

Lập hạnh là điều tối cần

1.- Chuyện Socrate thâu Xénophon làm đệ tử

 

NHỮNG ĐỨC TÁNH CẦN TẬP

 

Tháng thứ nhứt

  TỪ BI BÁC ÁI

Phải thực hành những điều đă suy nghĩ

NHỮNG GƯƠNG BÁC ÁI

1.- Chuyện Thái tử Điệc ga du

2.- Không yêu nhau mới loạn

 

Tháng thứ 2

BỐ THÍ

Tại sao ta không nên từ bỏ một sự bố thí nào

                       NHỮNG GƯƠNG BỐ THÍ

1.- Trọng nghĩa khinh tài

2.- Mua nghĩa

3.- Thác rồi mà c̣n làm việc phước thiện ở trần

4.- Ảnh hưởng của những việc từ thiện

 

Tháng thứ 3

  HY SANH

NHỮNG GƯƠNG HY SANH

1.-Chuyện vua Bắc ma ca

2.- Một gương hy sanh của bà Blavatsky

3.- Gương hy sanh của một gia đ́nh Bà la môn

4.- Gương hy sanh tại Thừa Thiên

 

Tháng thứ 4

CHƠN THẬT

NHỮNG GƯƠNG CHƠN THẬT

                       CHỮ TÍN

1.- Một cái đỉnh

2.- Chuyện thanh gươm

3.- Mẹ hiền dạy con

 

Tháng thứ 5

THĂNG BẰNG

NHỮNG GƯƠNG THĂNG BẰNG

1.- Đầy th́ đổ

2.- Tài và bất tài

3.- Trung dung

 

Tháng thứ 6

L̉NG KHOAN DUNG

NHỮNG GƯƠNG KHOAN DUNG

1.- Chuyện nàng tỳ nữ Bra ri ti

2.- Không nên câu nệ

 

 

 

Tháng thứ 7

CAN ĐẢM

NHỮNG GƯƠNG CAN ĐẢM

1.- Trí, trung, dũng

2.- Bọ ngựa chống xe

 

Tháng thứ 8

THANH KHIẾT

NHỮNG GƯƠNG THANH KHIẾT

1.-Chuyện những người không tu luyện,

          chỉ có làm tṛn bổn phận mà giác ngộ

2.- Chuyện nàng kỹ nữ và vị đạo sĩ  Sa ni da sen

3.- Không nên coi bề ngoài mà xét đoán

4.- Ông quan thanh bạch

5.- Của báu

 

Tháng thứ 9

KIÊN NHẪN

NHỮNG GƯƠNG KIÊN NHẪN

1.- Học bắn cung

2.- Phải bền chí

      Chuyện năm trăm cổ xe

3.- Ngu Công dọn núi

 

Tháng thứ 10

 KHÔN KHÉO

 NHỮNG GƯƠNG KHÔN KHÉO

1.- Câu nói của người đánh cá

2.- Vua tôi bàn việc

3.- Can ǵ mà phá đi

4.- Cách cư xử ở đời

5.- Người vợ hiền minh

6.- Cách trị dân

 

Tháng thứ 11

     TỰ TÍN

CHUYỆN NHỮNG NGƯỜI CÓ ĐỨC TIN

1.- Mất đức tin bỏ mạng

2.- Đi trên mặt nước

3.- Cầu ở ḿnh hơn cầu ở người

4.- Cậy ở người không bằng chắc ở ḿnh

 

Tháng thứ 12

MẶC (NÍN THINH)

NHỮNG GƯƠNG CẨN NGÔN

1.- Chuyện Phật dạy Ra hầu la

2.- Chuyện bảy cô vợ lẽ. 

 

 

VÀI LỜI NÓI ĐẦU

(Xuất bản kỳ nhứt)

 

CÙNG QUÍ BẠN HỘI VIÊN HỘI THÔNG THIÊN HỌC VIỆT NAM

 và NHỮNG BẠN ÁI MỘ CHƠN LƯ

 

QUÍ BẠN THÂN MẾN

 

Đức Phật tóm tắt giáo lư của Ngài trong ba câu nầy:

 

LÁNH DỮ,

 

LÀM LÀNH,

 

RỬA L̉NG CHO TRONG SẠCH

 

 

Mới nghe qua thật dễ quá, không có chi là lạ, là mới mẻ, không có chi là phi thường, ai ai cũng chắc ḿnh làm được. Nào dè khi đem ra thực hành th́ thấy không biết bao nhiêu sự khó khăn nổi dậy, đủ cả tứ phía, đàn áp con người làm cho phải thất bại. Chừng đó mới biết câu nầy rất đúng với sự thật: “Tôi không làm những điều tôi muốn, mà tôi lại làm những điều mà tôi không muốn”.

Từ ngàn xưa trong các bạn tu hành, những người thành công là những người có tánh cương quyết, có chí nhẫn nại, biết rơ cội rễ của “Tam bành lục tặc” và hành đúng những phương pháp để chặt đứt những dây chướng ngại, nên vén được bức màn vô minh bao phủ vạn vật.

Rút những sự học hỏi và kinh nghiệm của tôi trên ba mươi năm, tôi xin hiến cho quí bạn một phương pháp đă từng giúp những người tu hành mở mang ḷng từ bi bác ái và các đức tánh khác. Nhờ như thế chúng ta mới có thể thực hiện được mục đích thứ nhứt của Hội Thông Thiên Học là gầy dựng t́nh huynh đệ đại đồng giữa các dân tộc, không phân biệt sắc da, ṇi giống, nam nữ, đảng phái và giai cấp.

Quí bạn hành theo đó cho đúng công phu nghĩa là đúng giờ khắc, không bỏ qua ngày nào th́ nội trong sáu tháng đă khởi sự thấy kết quả, tức là thấy sự thay đổi chút đỉnh trong tâm trí theo chiều hướng cơ trời. Quí bạn sẽ mến cái lành, cái đẹp. Từ đó quí bạn sẽ có đức tin vững vàng mà bước tới. Mười lăm năm sau quí bạn sẽ thành một người mới, nếu quí bạn không ĺa đạo, không để cho cuộc đời lôi cuốn. Tôi nói như thế là v́ trên đường đạo, mỗi chặng đều có những chướng ngại vật dựng lên để cản trở, người ta gọi là những sự thử ḷng. Phải thắng chúng nó mới vững bước đi xa, đúng với câu “Trường đồ tri mă lực, sự cửu kiến nhơn tâm”. Không có lửa đỏ sao biết tuổi vàng.

Có những sự thử ḷng mới biết sức chịu đựng của ḿnh tới bực nào; mới biết chỗ hay chỗ dở của ḿnh đặng bồi bổ thêm. Có kinh nghiệm rồi mới có thể dắt dẫn kẻ khác tránh khỏi những bẫy cạm, mới biết thương những người c̣n yếu đuối chưa trèo được lên cao, mới hiểu rằng ta là một phần tử của nhân loại th́ những tội lỗi và những sự nhục nhă của nhơn loại là những tội lỗi và những sự nhục nhă của ta. Nghiệp quả của ta kết chặt với nghiệp quả của nhơn loại.

Thế nên thắng được các sự thử thách tức là tự chủ, thắng bản ngă, làm chủ phàm nhơn. Đây là bước đầu tiên rất cần yếu cho sự tu tập. Lần lần sẽ đi đến mức minh tâm kiến tánh.

Mười lăm năm ! mới nghe qua th́ thật là lâu lắm, nhưng nó đến bây giờ. Chúng ta hăy hồi tưởng lại hồi mới bảy tuổi cắp sách vào trường, tới nay mấy chục năm đă qua xem như chớp mắt. Ta hăy tính sổ lại những tội và phước của ta đă làm th́ hai dá cân, chắc chắn dá tội nặng hơn dá phước.

Quí bạn đă biết chúng sanh không thoát khỏi bốn vách: sanh, lăo, bịnh, tử. Bỏ xác rồi ai ai cũng nắm hai tay trắng mà xuống mồ. Chừng tái sanh lại cũng hai bàn tay trắng, ta chỉ đem theo ḿnh những mầm tánh tốt, tánh xấu với quả lành, quả ác của ta đă gây ra kiếp trước mà thôi.

V́ thế tốt hơn là chúng ta gieo giống tốt ngay bây giờ đặng ngày sau gặt lấy quả ngon lành. Sự thật là ta định số mạng cho ta, tốt hay xấu, nên hay hư, chớ Trời không có thưởng ai mà cũng không phạt ai cả. Chúng ta có bổn phận tiến mau tới khuôn mẫu của Đức Thượng Đế đă định sẵn cho vũ trụ nầy, tức là trở nên trọn sáng, trọn lành. Trái lại nếu chạy theo những cuộc phù hoa mộng ảo th́ gây ra không biết bao nhiêu nghiệp chướng buộc trói con người vào bánh xe luân hồi. Rồi từ đó không biết phải trải qua mấy muôn mấy triệu năm nữa mới t́m lại được con đường “Phản bổn Hườn Nguyên”.

Hỡi các bạn thanh niên và học sanh nam nữ !

Tôi viết cuốn nầy chẳng phải để riêng cho quí bạn mộ đạo tu hành, mà luôn luôn tôi vẫn nhớ tới quí bạn, v́ quí bạn là tương lai của đất nước, quí bạn là những yếu tố có thể định đoạt vận mạng Hưng vong của một quốc gia, của một dân tộc. Tài năng của quí bạn là một khí cụ rất nguy hiểm nếu quí bạn dùng mà không đúng chỗ. Quí bạn phải nhờ tánh t́nh tốt của quí bạn hướng dẫn cho đúng với nhịp điều ḥa của vũ trụ, tức là cơ trời. Tánh t́nh của quí bạn là cây kim chỉ nam cũng gọi là la bàn; mất nó quí bạn sẽ lạc vào nẻo tối tăm mà không ngờ. Chừng quí bạn sa hầm sụp hố th́ chuyện đă rồi, ăn năn không kịp.

Vậy th́ quí bạn thực hành những tời tôi chỉ bảo sau đây, chắc chắn nó sẽ đem lại cho quí bạn một cái kết quả rất tốt đẹp là tâm và trí của quí bạn lần lần trở nên sáng suốt hơn trước, mau hay chậm, ít hay nhiều, tùy theo sự cố gắng và sự nhẫn nại của quí bạn; nói tóm lại là công phu luyện tập. Dầu sao cũng có, tôi dám quả quyết như vậy. Trong khi nhiều người thành công th́ chẳng có lư do nào mà khi quí bạn thực hành in như vậy lại không thấy sự hiệu nghiệm nào cả.

Nhưng tôi yêu cầu tất cả quí bạn thân mến ba điều sau đây:

Một là: Nếu quí bạn có thất bại th́ chớ nên ngă ḷng. Vấp té rồi đừng ngồi đó than van rên siết, mất ngày giờ và vô ích. Hăy chổi dây, thoa bóp chơn tay rồi tiếp tục đi tới, lấy sự thất bại làm một bài học hay, một bài học khôn ngoan, sau khỏi lầm lạc nữa. Chỉ có thất bại là khi nào nửa chừng ta bỏ cuộc, tục gọi là “bán đồ nhi phế”.

Hai là: Nếu quí bạn thấy cuốn nầy chưa giúp ích cho quí bạn được bây giờ, th́ hăy trao cho người khác muốn xem coi hay là cất nó vào tủ. Tới một ngày kia sau khi quí bạn đă mỏi mệt trên con đường tranh đấu, quí bạn hăy giở nó ra xem lại, chừng đó quí bạn sẽ thấy nó là một người bằng hữu rất chân thành, chỉ lo mưu hạnh phúc cho quí bạn, một hạnh phúc chơn thật, vĩnh viễn, trường tồn, thoát khỏi tay tàn phá của thời gian.

Ba là: Nếu quí bạn có thắc mắc điều chi trong khi tu tập, xin hăy gởi thơ cho tôi, tôi sẽ giải lại; đừng ngại chi cả.

Xin chúc quí bạn mau thành công đắc quả, đặng d́u dắt nhơn sanh ra khỏi chốn trầm luân khổ hải.

 

VẠN VẬT THÁI B̀NH

Châu đốc, ngày 8 tháng 3  năm 1955

BẠCH LIÊN

PHẠM NGỌC ĐA11 Nguyễn đ́nh Chiểu, Châu Đốc.

 


VÀI LỜI NÓI ĐẦU

 

Xuất bản kỳ nh́

 

Cơ trời là sự tiến hóa không ngừng nghỉ và chia ra nhiều chu kỳ khác nhau.

Chín năm nữa, năm 1975, một chu kỳ mới gọi là kỷ nguyên Huyền bí học sẽ mở màn.

Thiên đ́nh sẽ cho vén lên một góc màn vô minh nữa đặng cho con người hiểu thêm một vài bí mật của Tạo công. Nhờ vậy con người mới trở nên sáng suốt hơn trước.

Nhưng từ ngàn xưa, Tiên Thánh đều dạy rằng muốn tiến mau th́ con người phải tự biết ḿnh và phải thực hành những phương pháp làm chủ vật chất đặng điều khiển nó và biến đổi nó ra những khí cụ tốt lành để sử dụng trong khi học hỏi các cơi Trời.

Các Ngài tiết lộ cho chúng ta biết rằng cả chục ngàn năm trước các Ngài vẫn ở trong giai đoạn tiến hóa mà chúng ta đương trải qua hiện thời. Nhưng nhờ kiên gan bền chí các Ngài ra công luyện tập cho nên mới mau thành Chánh quả và bước qua hàng Siêu Phàm Nhập Thánh. Các Ngài đă vạch rơ con đường của các Ngài đă đi cho chúng ta thấy đặng chúng ta nối gót theo các Ngài.

Thế nên năm 1955 tôi mới viết cuốn Đạo Lư Thực Hành không ngoài mục đích cung hiến cho quí bạn ái mộ chơn lư những tài liệu để khảo cứu khoa học của đời sống và cải thiện từ tư tưởng, ư muốn cho tới việc làm của ḿnh theo những lời bực Cao minh đă chỉ dạy. Nói cho đúng, tôi chỉ chia sớt sự học hỏi của tôi với quí bạn.

11 năm đă qua. Sau khi xem lại kỹ lưỡng quyển nầy tôi bèn thêm vô nhiều đoạn, nhứt là về cách Định Trí và Tham Thiền, đồng thời cũng loại ra những chi tiết nào tuy rằng hữu ích thật song chưa thấy cần thiết lắm cho những người mới tu tập.

Cầu xin quyển Đạo Lư Thực Hành mới sửa đổi kỳ nầy giúp thêm một chút ánh sáng cho khách lữ hành đi t́m cửa Đạo.

Đó là nguyện vọng của tôi mấy chục năm nay vậy.

“Trước kia tôi dự định in làm hai quyển, nay thấy hai quyển nhập lại làm một tiện hơn. Thế nên tôi để y nguyên bài tựa quyển II. Xin chư quí bạn lượng thứ”.

 

BẠCH LIÊN

Châu đốc, ngày mồng ba tháng bảy năm Bính Ngọ

(18-Août-1966)

 

Bài tỰa cỦa quyỂn II

 

Từ ngàn xưa, người hiền đức luôn luôn được thiên hạ tôn trọng và trên Thiên Đ́nh chọn lựa những người có ḷng từ bi, bác ái quên ḿnh, giúp đời, thâu nhận làm đệ tử và dạy dỗ đặng ngày sau trở nên những đấng cứu thế. Tại sao bực hiền nhơn vẫn được ưu đăi?  Bởi v́ người có tài mà không có đức th́ kiêu căng tự phụ coi người chẳng ra chi, lo thỏa thích ḷng ham muốn th́ gây ra tai hại cho đời chẳng nhỏ, có khi hậu quả lưu tới cả ngàn năm sau. Một lẽ nữa, con người càng tiến hóa th́ càng kiểm soát được những lực của vũ trụ ở chung quanh ḿnh và đem ra áp dụng vào đời sống của quần chúng. Tỷ như thuở xưa là hơi nước và điển, và ngày nay là nguyên tử lực [1]. Người ta mới biết có một phần nhỏ nhen của điển lực và nguyên tử lực mà sức mạnh của nó đă ghê gớm lắm rồi. C̣n nhiều lực khác dữ tợn phi thường không ai tưởng tượng nổi và hiện giờ người thế chưa khám phá ra được. Như lực của dĩ thái (éther) gọi là Wrill, đưa vô đá th́ đá tan ra tro bụi trong chớp mắt. Tuy vậy nó cũng có quyền năng làm mất sức nặng của mọi vật, tùy theo cách ta xử dụng. Một khối sắt mấy trăm tấn bị lực nầy rút mất sức nặng th́ nhẹ như bóng, người ta dời đi chỗ nào cũng được. Đem tới chỗ nhứt định rồi người ta cho lực nầy vô th́ sắt trở lại nặng như cũ. Trên hết các lực là Fohat, lực nầy có thể làm cho địa cầu tan ra tro mạt. 75025 năm trước Chúa giáng sanh, châu Át lăn tích (Atlantide) bị lực nầy nhận ch́m xuống biển và ngày nay c̣n để lại vài di tích là cù lao A-so (Açores) và Ca-na-ri (Canaries). Chỗ châu Át lăn tích nằm bây giờ là Đại Tây Dương (Océan Atlantique). Nguyên do là các vị đạo sĩ ỷ tài hiển lộng thần thông làm những điều tàn ác, làm cho Trời giận đất hờn mà họ không chịu hối cải. Chung cuộc cả bọn họ và những kẻ xu quyền phụ thế đều chôn thân vào bụng cá sau khi bị cảnh cáo nhiều lần mà không chừa thói dữ. Thấy như thế chúng ta hiểu rằng, người thế dầu tài ba lỗi lạc tới đâu cũng không qua Trời được. Nếu chúng ta chưa có thể làm một cái trứng gà ấp nở ra con và một cái hột giống gieo xuống đất mọc lên cây, nếu ta c̣n già, c̣n bịnh, c̣n chết và luân hồi th́ tự tỉnh lo tu đức trau ḿnh, sớm chừng nào tốt chừng nấy. Tài đức cân phân th́ rất tốt, đức thắng tài càng hay. Trái lại nếu tài thắng đức th́ nguy cơ thấy trước mắt, con người sẽ làm hại hơn là làm lợi cho đời. Nếu ỷ tài th́ mắc họa chẳng sai.

Cụ Nguyễn Du kết luận truyện Kiều rất đúng với Đạo Đức:

 

“Có tài mà cậy chi tài,

Chữ tài liền với chữ tai một vần.

Đă mang lấy nghiệp vào thân,

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

Thiện căn ở tại ḷng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

 

Thật ra ít ai nghĩ tới điều nầy lắm. Người ta chỉ lo sung sướng trước mắt, chớ không lo hậu quả về sau. Không bao nhiêu người chịu nghe chơn lư. Mặc dầu trong t́nh thế hiện tại, tiếng nói đạo đức dường như tiếng nói trong sa mạc, chúng tôi vẫn đinh ninh rằng: cái chi thuận với ḷng Trời, cái chi là Chơn Lư đều được vĩnh viễn trường tồn và có tiếng dội trong chơn tâm của con người, và luôn luôn cái chi chơn thật th́ c̣n, cái chi không chơn thật th́ mất. Chung cuộc Chơn Lư bao giờ cũng thắng.

Cho hay, muôn việc đều tại ḷng người, nếu con người muốn th́ nội trong năm phút thế gian biến thành cảnh Thiên Đường hay cũng nội trong năm phút nó sẽ hóa ra cơi Địa ngục.

V́ vậy chúng tôi hằng cầu nguyện cho ai nấy đều thực hiện được Chơn Tánh, diệt trừ ḷng tham dục, bủa khắp bốn phương Đức Từ Bi Bác Ái đặng cho bốn biển thái b́nh, nhà nhà no ấm.

Ấy là chỗ chí nguyện của chúng tôi từ bấy lâu nay vậy.
 

BẠCH LIÊN


CHƯƠNG THỨ NHỨT

mục lục đầu sách cuối sách chương 1 chương 2 chương 3

CON NGƯỜI LÀ AI?

 

Con người có phải là xác thân hữu h́nh, hữu hoại, chịu bốn cái khổ: sanh, lăo, bịnh, tử nầy chăng?

Không, không phải thế. Tục thường nói: “Hồn ĺa khỏi xác” tức là cái xác nầy không phải thật là con người rồi.

Cũng có người nói “Tôi có một linh hồn”. Cũng không phải nữa.

Phải nói: “Tôi là linh hồn” c̣n có ư đúng hơn một chút. Sự thật con người là Chơn thần. Nói một cách khác dễ hiểu hơn, con người là Con của Đức Thượng Đế. Nhưng mà đứa con nầy ở trong thời kỳ ấu xuân chưa đến lúc trưởng thành, chưa vận dụng được hết quyền năng c̣n tiềm tàng trong ḿnh như Đức Thượng Đế vậy.

 

CON NGƯỜI XUỐNG CƠI TRẦN LÀM CHI?

 

Con người xuống cơi trần làm chi đây để mang đủ thứ bịnh tật và các điều phiền năo?

Con người xuống cơi trần đặng học hỏi những luật trời hầu ngày sau khi toàn năng toàn thiện rồi th́ sanh hóa một bầu Vũ trụ khác, tức là một Thái dương hệ khác cũng như bầu Vũ trụ ḿnh đương ở hiện giờ.

Những sự đau khổ, các thứ bịnh tật vốn của con người tự gây ra, v́ nhân nào sanh quả nấy [2]. Đó là những bài học dạy con người khôn ngoan hơn trước. Tới chừng nào con người chịu hành động theo thiên ư th́ chừng ấy các vụ khó khăn đều dứt tuyệt. MỤC ĐÍCH CUỘC ĐỜI LÀ SỰ TIẾN HÓA KHÔNG NGHỈ KHÔNG NGỪNG, TỪ CHỖ CHƯA TRỌN LÀNH ĐẾN CHỖ TRỌN LÀNH, TỪ CHỖ PHÂN CHIA ĐẾN CHỖ HIỆP NHẤT [3].

Con người không phải chỉ sanh ra cơi đời đặng lớn lên lập thân danh, gầy dựng gia đ́nh, nối ḍng giống rồi chờ ngày đem thân bảy thước vùi sâu dưới ba tấc đất. Nếu quả thật chỉ bao nhiêu mà thôi th́ cuộc đời rất vô vị, không có mục đích chi cả.

TẠI CON NGƯỜI CHƯA BIẾT M̀NH LÀ AI? XUỐNG CƠI TRẦN LÀM CHI? Cho nên mới nuôi tánh ích kỷ, xâu xé lẫn nhau, chém giết lẫn nhau, đánh đập lẫn nhau cũng chẳng qua chỉ v́ miếng ăn, đất ở, chỗ đứng, nơi ngồi. Dường như con người quên phức rằng: TỚI MỘT NGÀY KIA M̀NH PHẢI BỎ XÁC, MẶC DẦU LUÔN LUÔN THẤY TRƯỚC MẮT VẠN VẬT ĐẾU THAY H̀NH ĐỔI DẠNG. Chừng tới số phần rồi th́ phủi sạch công danh, sự nghiệp, nắm hai tay trắng mà xuống mồ. Tới kiếp sau đi đầu thai lại cũng hai tay trắng mà thôi.

 

CHUNG QUANH TA LÀ NHỮNG LUẬT TRỜI

 

Ta sanh ra trên một cơi đời chịu ảnh hưởng không biết bao nhiêu là luật mà ta không thấy được và cũng chưa biết được nhiều. Ta chỉ thấy một điều là khi ta vi phạm th́ có sự phản động lại làm cho ta đau khổ hoặc về tinh thần hoặc về thể chất, có khi cũng bỏ mạng nữa.

Cái điều mà ta gọi là “Khoa học” là những luật trời mà các nhà bác học khám phá ra rồi sắp đặt lại cho có hệ thống. Dường như người ta quên rằng những luật đó đă có sẵn từ thuở Tạo thiên lập địa, chớ không phải mới có hai thế kỷ nay, và cũng không phải các nhà bác học bày ra những luật đó rồi bắt buộc Tạo vật phải tuân theo mạng lịnh của mấy ổng. Có một điều chắc chắn là nếu mấy ổng làm sái luật trời th́ sẽ thất bại trong công cuộc thí nghiệm chẳng sai.  Nhưng c̣n biết bao nhiêu điều bí ẩn khác của Tạo công mà con người chưa t́m ra. Lần hồi con người sẽ vén được nhiều góc của bức màn vô minh, chừng đó cái quan niệm của con người về Đức Thượng Đế sẽ đổi hẳn và con người sẽ kính cẩn nói rằng “Cái chi của Trời làm đều tốt đẹp cả”.

 

NHỮNG LUẬT TRỜI MÀ CON NGƯỜI CẦN PHẢI BIẾT

 

Những luật trời mà con người cần phải học cho rành rẽ đặng áp dụng vào đời sống của ḿnh mới tiến mau là Luật Nhân quả, Luật Luân hồi, Luật Hi sinh, Luật Sanh hóa, Luật Tiến hóa, Luật Phong hóa v.v. . .

Trước hết phải biết luật Nhân quả chi phối vạn vật trong vũ trụ và kiếp sống của ta là một xâu chuỗi Nhân và Quả nối tiếp với nhau và liên lạc với nhau như bóng với h́nh.

Đây là những việc nhỏ mọn mà ta thấy hằng ngày, trước mắt. Ta ăn uống, đồ ăn uống làm ra máu huyết xương thịt. Đồ ăn là Nhân, máu huyết xương thịt là Quả. Cố gắng học hỏi th́ trí hóa mở mang. Trí hóa mở mang là Quả của cái Nhân cố gắng học hỏi. Té lỗ đầu, té là Nhân, lỗ đầu là Quả. Uống rượu say nằm đường. Nằm đường là cái Quả của Nhân uống rượu say. Kiếp này là kết quả của kiếp trước, kiếp sau là kết quả của kiếp nầy. Nghĩa là kiếp trước ta gieo Nhân nào, ngày nay ta gặt quả nấy, rồi kiếp sau gặt hái cái Quả của Nhân ta gieo kiếp nầy. Trồng dưa đặng dưa, trồng đậu đặng đậu. Không hề khi nào gieo lúa mà ớt mọc lên bao giờ. Nhưng gieo nhân lành hay nhân dữ cũng phải đầu thai lại đặng hưởng quả tốt hay quả xấu của ḿnh đă tạo ra. Đó là Luật Luân hồi theo Luật Nhân quả. Muốn thoát đọa luân hồi th́ phải hy sinh v́ thương đời, không c̣n lo mưu hạnh phúc riêng cho ḿnh nữa. Những quả lành của ḿnh tạo ra sẽ nhập vô kho thần lực của Đức Thượng Đế dùng cứu vớt những người c̣n lặn hụp trong chốn trầm luân khổ hải. Tới chừng đó ta đă thoát ra khỏi ṿng sanh tử dưới phàm gian và bước vào cơi siêu phàm nhập Thánh.

Ba Luật Nhân quả, Luân hồi, Hy sinh đều liên quan mật thiết với nhau, mới nghe qua rất dễ, nhưng chúng nó rất vô cùng phức tạp, học từ kiếp nầy qua kiếp kia chưa rồi, v́ Luật Tiến hóa, Luật Sanh hóa phải phục tùng Luật Nhân quả.

 

LÀM THẾ NÀO HỌC HỎI NHỮNG LUẬT NẦY

 

Mấy luật nầy thuộc về những luật vô h́nh, ta không thấy được, không mó được th́ phải làm sao bây giờ. Thật vậy, ta chỉ thấy những hậu quả rồi suy ra nguyên nhân, chớ kỳ thật có nhiều việc ta không biết nguyên nhân xảy ra hồi nào mà cái hậu quả ngày nay như thế đó. Nhưng quí bạn chớ lo. Tạo công vô cùng khéo léo. Ngài sanh ra xác thân có ngũ quan đặng tiếp xúc với những việc xảy ra ở cơi trần th́ Ngài cũng cho ta những quan khác để học hỏi những luật đó. Những quan nầy ở trong những thể khác hơn xác thân.

 

NHỮNG THỂ CỦA CON NGƯỜI

hay là

NHỮNG DỤNG CỤ ĐỂ HỌC HỎI CƠ TRỜI

 

Những thể đó là:

1.- Xác thân (Corps physique),

2.- Phách (Corps éthérique),

3.- Vía (Corps astral),

4.- Hạ trí (Corps mental inférieur),

5.- Thượng trí hay là Nhân thể

      (Corps mental supérieur ou corps causal),

6.- Kim thân (Corps bouddhique),

7.- Tiên thể (Corps atmique),

                 Bảy thể nầy xỏ rế với nhau.    

Cái phách ở trong ḿnh ló ra ngoài xác thân lối năm ly và chiếu ra những làn sáng lối một tấc.

Cái vía cũng ở trong ḿnh và ló ra ngoài xác thân, bực trung lối bốn tấc rưởi, v.v. . .

Càng tiến hóa th́ trừ Xác thân và cái Phách ra, cái Vía, Hạ trí, Thượng trí, Kim thân, Tiên thể cáng ngày càng nở lớn ra. Người ta nói hào quang của Đức Phật khi xưa tủa ra tới tám ngàn thước và hiện giờ hào quang của Đức Ngọc Đế bao trùm quả Địa cầu nầy.

Trong chu kỳ tiến hóa nầy, ngoại trừ một số rất ít đệ tử được ba lần điểm đạo dùng được Thượng trí trọn vẹn th́ hết thảy bốn ngàn triệu linh hồn mới dùng được một phần của Hạ trí và Thượng trí, c̣n Kim thân và Tiên thể chỉ là một đám sương mù chưa có h́nh dạng.

 

BẢY CƠI CỦA THÁI DƯƠNG HỆ CHÚNG TA

 

Tại sao con người có tới bảy thể? Bởi v́ chung quanh ta c̣n nhiều cơi mà ta không thấy và không biết ra sao. Không có mấy thể đó th́ ta không thể nào học hỏi mấy cơi nầy được.

Mấy cơi nầy là:

1.- Cơi Hạ giới hay Phàm trần (Plan Physique) là Thế giới hoạt động,

2.- Cơi Trung giới (Plan Astral) là Thế giới t́nh cảm hay là Dục giới,

3.- Cơi Thượng giới (Plan Mental) là Thế giới tư tưởng hay là cơi Trí tuệ,

4.- Cơi Bồ Đề (Plan Bouddhique) là Thế giới Trực giác,

5.- Cơi Niết Bàn (Plan Atmique ou Nirvana) hay là Thế giới Thiêng liêng,

6.- Cơi Đại Niết Bàn (Plan Anupadaka ou Paranirvana) là Thế giới Đại Thiêng liêng,

7.- Cơi Tối Đại Niết Bàn (Plan Adi ou Mahaparanirvana) là Thế giới Tối Đại Thiêng liêng.

Bảy cơi nầy đều ở một chỗ với nhau và trước mắt ta đây, nhưng ta không thấy là tại ta chưa mở được những quan gọi là Thần nhăn, Thiên nhăn, Huệ nhăn [4].

Muốn hiểu rơ tại sao bảy cơi ở chung một chỗ với nhau được, xin quí bạn đọc kỹ mấy lời giải sau đây:

Mỗi cơi đều làm bằng một khí căn bản, bảy cơi th́ có bảy chất.

Xin gọi tên bảy chất khí căn bản đó như sau:

1.- Chất khí làm cơi Hạ giới là Hồng trần.

2.- Chất khí làm cơi Trung giới là Thanh khí.

3.- Chất khí làm cơi Thượng giới là Thượng Thanh khí.

4.- Chất khí làm cơi Bồ Đề là Thái Thanh khí.

5.- Chất khí làm cơi Niết Bàn là Âm Dương khí.

6.- Chất khí làm cơi Đại Niết Bàn là Linh khí.

7.- Chất khí làm cơi Tối Đại Niết Bàn là Nguơn khí.

Bảy chất khi căn bản ấy do một gốc mà ra, gốc đó là Hỗn Nguơn Nhất khí (Mulaprakriti).

Nguyên tắc chung là như thế nầy: Chất khí ở cảnh cao chừng nào th́ màu sắc đẹp đẽ, mịn màng và rung động mau lẹ hơn những chất khí ở mấy cảnh thấp hơn nó chừng nấy và chun ngang qua mấy chất khí nầy nữa. Chất khí ở mấy cảnh thấp hơn rung động chậm chạp và màu sắc rất tối. V́ mấy lẽ trên đây chất Thanh khí chun qua chất Hồng trần. Chất Thượng Thanh khí chun qua chất Thanh khí và chất Hồng trần. Chất Thái Thanh khí, chất Thanh khí và Hồng trần v.v. . .

Thế nên nhân vật ở Trung giới cũng như hồn ma đi qua đi lại ngang ḿnh chúng ta luôn luôn ngày đêm mà chúng ta không hay biết, mà họ cũng không thấy chúng ta ra sao. Họ cũng không ngờ có chúng ta nữa.

Tôi tưởng cũng phải nói thêm, mỗi cơi chia ra bảy cảnh. Như tại cơi Trần ḿnh đây chất đặc, như cát; chất lỏng, như nước và chất hơi, như không khí; mỗi cảnh đều ở riêng. C̣n bốn cảnh nữa, làm bằng bốn chất tinh khí hay là dĩ thái (éther).

Cơi Thượng giới chia ra làm hai:

Bốn cảnh thấp: Cảnh thứ bảy, cảnh thứ sáu, cảnh thứ năm, cảnh thứ tư gọi là cơi Hạ thiên (Ciel Inférieur ou Monde Roupa).

Nơi đây tư tưởng c̣n có h́nh dạng.

Ba cảnh cao: Cảnh thứ ba, cảnh thứ nh́, cảnh thứ nhứt gọi là cơi Thượng thiên (Ciel Supérieur ou Monde Aroupa).

Nơi đây tư tưởng xẹt ra từng lằn chớ không có h́nh dạng nữa.

Tại sao cơi thứ năm bắt trên kể xuống gọi là Thượng giới?

Bởi v́ bảy cơi trời chia ra làm khu vực:

A.- Khu vực thứ nhứt gồm:

1.- Cơi Tối Đại Niết Bàn

2.- Cơi Đại Niết Bàn (là chỗ Thượng Đế ngự. Nó cũng là trường tấn hóa của các vị được từ sáu lần điểm đạo sắp lên).

B.- Khu vực thứ nh́ gồm:

3.- Cơi Niết Bàn

4.- Cơi Bồ Đề

5.- Cơi Thượng thiên (3 cảnh cao) cơi Thượng giới là trường tấn hóa của những vị được danh đề Tiên tịch (từ một lần điểm đạo cho tới năm lần).

C. – Khu vực thứ ba gồm:

6.- Cơi Hạ thiên (4 cảnh thấp) cơi Thượng giới,

7.- Cơi Trung giới,

8.- Cơi Hạ giới là trường tấn hóa của người thường và các loài thú vật, thảo mộc, kim thạch và các tinh chất. Tôi gọi cơi thứ năm là Thượng giới v́ nó là cơi cao hơn hết mà người phàm lên được.

 

BẢY CƠI CỦA KHÔNG GIAN

 

Trên không gian cũng có bảy cơi:

Tối Đại Niết Bàn – Đại Niết Bàn – Niết Bàn – Bồ Đề - Thượng giới – Trung giới và Hạ giới hay Hồng trần như bảy cơi của Thái dương hệ của ḿnh đây, nhưng chúng nó cao hơn nhiều và mặc dầu có liên lạc với bảy cơi trời của ḿnh.

 

PHẬN SỰ CỦA BẢY THỂ

 

Bây giờ ta phải biết phận sự của bảy thể th́ mới thấy sự ích lợi của chúng nó là thế nào.

1.- Xác thân làm bằng ba chất khí thấp của cơi trần: chất đặc, chất lỏng và chất hơi. Nó để giúp ta hành động trên mặt địa cầu. Nó có một quan là mắt để xem xét.

2.- Phách làm bằng bốn chất dĩ thái. Nó có hai phận sự:

(a) Rút sanh lực vô ḿnh [5] đặng nuôi các tế bào và làm tiêu hóa vật thực. Nó màu xám xanh hay màu xám tím.

(b) Nó làm một cái cầu bắc cho cái Vía thông đồng với xác thịt. Nó đem cho cái Vía những sự nhận thức của ngũ quan xác thịt đặng cái Vía làm ra những cảm giác, và truyền qua cho cái óc và bộ thần kinh hệ những sự nhận thức của cái Vía, cái Trí, Thượng trí v.v. . .

Nó dính với xác thịt nhờ một sợi từ điển. Khi con người thác, sợi dây từ điển nầy đứt, nó ĺa khỏi xác, sanh lực vô ḿnh không đặng nữa. Các tế bào khởi sự ră ra lần lần, và một ít lâu nó cũng tan ra dĩ thái. Nó có một luân xa, mở ra rồi th́ thấy được bốn cảnh dĩ thái; ấy là Minh nhăn.

3.- Cái Vía làm bằng bảy chất Thanh khí nên có thể biểu lộ đủ hết các thứ t́nh cảm, từ thứ thật cao thượng cho đến thứ thật đê hèn.

Nó có một luân xa khi mở ra trọn vẹn th́ thấy được cơi Trung giới và dân sự tại đó. Quan nầy gọi là Thần nhăn.

4.- Hạ trí làm bằng bốn chất Thượng Thanh khí thấp, chất thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy. Nó để sanh những tư tưởng cụ thể, hữu h́nh và để ghi nhớ, tưởng tượng, phân biệt, xét đoán, học hỏi. Nó có một luân xa mở ra rồi th́ thấy được cơi Hạ thiên. Ấy là Hạ thiên nhăn.

5.- Thượng trí làm bằng ba chất Thương Thanh khí cao: chất thứ ba, chất thứ nh́ và chất thứ nhứt. Nó để sanh ra những tư tưởng trừu tượng, vô h́nh. Gọi nó là Nhân thể, v́ nó chứa đựng tinh hoa những sự học hỏi và kinh nghiệm của con người từ đời nầy qua đời kia bằng những lằn rung động ghi vào hột nguyên tử trường tồn, cũng như đĩa hát máy, và những tinh hoa nầy là những nguyên nhân sẽ sanh ra những hậu quả.

Nó có một luân xa, mở ra rồi thấy được cơi Thượng thiên. Ấy là Thượng thiên nhăn.

6.- Kim thân làm bằng bảy chất Thái Thanh khí. Nó là thể Bác ái và Trực giác một lượt.

Nó có một luân xa, mở ra được th́ thấy được cơi Bồ Đề. Ấy là Huệ nhăn.

7.- Tiên thể làm bằng bảy chất Âm Dương khí. Nó là thể Thiêng liêng và Hiệp đồng. Dùng nó được mới biết “Vạn vật nhứt thể”, ḿnh với vạn vật là một. Nó có một luân xa, mở ra rồi th́ thấy cơi Niết Bàn. Xin gọi là Huệ nhăn luôn thể.  

C̣n hai thể dùng ở cơi Tối Đại Niết Bàn và Đại Niết Bàn phải tới bực La Hán sắp lên mới hiểu rơ.

Nói tóm lại:

Các Xác và cái Phách thuộc về cơi Trần, cái Vía thuộc về cơi Trung giới.

Hạ trí và Thượng trí thuộc về cơi Thượng giới. Kim thân thuộc về cơi Bồ Đề. Tiên thể thuộc về cơi Niết Bàn.

Không có cái Phách sanh lực vô ḿnh không được, xác thân tan ră.

Không có cái Vía, con người không biết cảm xúc và không thể đi đứng và học hỏi ở cơi Trung giới.

Không có Hạ trí, con người không thể suy nghĩ, tưởng tượng, phân biện, xét đoán, nhớ nhung và không thể vô ra cơi Hạ thiên đặng học hỏi.

Không có Thượng trí, con người không thể suy nghĩ những việc siêu phàm, những việc cao xa, trừu tượng và không thể ghi nhớ những sự đă học và kinh nghiệm mấy kiếp trước mà cũng không vào ra cơi Thượng thiên đặng học hỏi.

Không có Kim thân, con người không thể mở ḷng bác ái, không dùng được trực giác và cũng không biết cơi Bồ Đề ra sao.

Không có Tiên thể, con người không thể nào nhập vào cơi Niết Bàn được.

Bảy thể nầy chia ra làm hai loại:

a)    Những thể hư hoại và

b)    Những thể trường tồn.

 

A.- NHỮNG THỂ HƯ HOẠI

 

Bốn thể thấp:

Xác

Phách

Vía

Trí

là những thể hư hoại. Chúng nó để dùng trong một kiếp mà thôi. Sau khi con người thác rồi một ít lâu th́ chúng nó đều tan ră. Kiếp sau khi trở xuống cơi trần đầu thai lại một lần nữa th́ con người có bốn thể mới khác; nhưng chúng nó đồng bản tánh với bốn thể nầy, hoặc tinh vi hơn hoặc thô kịch hơn đây là tùy theo luật “Nhân quả báo ứng” chớ không có chi là lạ.

 

B.- BA THỂ TRƯỜNG TỒN

 

Ba thể Trường tồn là: Thượng trí, Kim thân và Tiên thể. Chúng nó c̣n măi và theo con người từ đời nầy qua đời kia không mắc vào ṿng sanh tử luân hồi.

 

NHỮNG THỂ CỦA TA DÙNG THƯỜNG NGÀY

 

Những thể là những kẻ tùy tùng trời ban cho ta để giúp ta trong công việc hằng ngày.

Có bốn thể mà ta thường dùng trong mỗi giờ, mỗi phút ấy là:

a)    Xác thân

b)    Phách

c)     Vía

d)    Hạ trí

C̣n Thượng trí và Kim thân th́ ít khi dùng tới. Mỗi lần ta tư tưởng th́ ta dùng cái Trí, cảm xúc th́ dùng cái Vía, hoạt động th́ dùng cái Xác. Nhưng cách nầy khác hơn cách dùng cái Vía hay cái Trí làm một thể riêng, đi đứng, chuyện văn hoặc làm công việc trên cơi Trung giới hay cơi Thượng giới cũng như ḿnh đương sống ở đây vậy.

Thí dụ: Lúc ḿnh ngủ, ḿnh bỏ cái Phách ở trên giường với xác thịt, rồi ở trong cái Vía qua cơi Trung giới, chừng về nhập xác th́ thức dậy.

Có phương pháp luyện tập, lúc thức dậy muốn ĺa khỏi xác rồi ở trong cái Vía qua cơi Trung giới dạo chơi hay hoạt động giờ nào cũng được. Phép đó gọi là xuất thần hay xuất vía tiếng Pháp là Dédoublement personnel, sortie en astral, voyage en astral . . .

Nhưng chớ nên ham, nó nguy hiểm lắm, một khi tấm ḷng chưa được trong sạch và chưa được Chơn sư hay là một vị Cao đồ của Chơn sư d́u dắt.

 

TẠI SAO GỌI CON NGƯỜI LÀ TIỂU THIÊN ĐỊA

 

Bây giờ ḿnh mới rơ hồi xưa nói “Con người là Tiểu Thiên Địa” rất đúng, v́ lẽ trong thân ḿnh con người có đủ những chất khí tạo lập vũ trụ; nhưng con người c̣n giống Đức Thượng Đế v́ lẽ khác là con người cũng phân làm ba ngôi như Ngài vậy.

Ba ngôi của Đức Thượng Đế là:

1.- Ngôi thứ nhứt – Shiva – Dieu, le Père – Đức Chúa Cha.

2.- Ngôi thứ nh́ – Vishnou – Dieu, le Fils – Đức Chúa Con.

3.- Ngôi thứ ba – Brahma – Dieu, le Saint Esprit – Đức Chúa Thánh Thần

 

BA NGÔI CỦA CON NGƯỜI

 

1.- Ngôi thứ nhứt – Chơn thần – Monade – Esprit

2.- Ngôi thứ nh́ – Chơn nhơn – Ego-Individualité – Soi Supérieur

3.- Ngôi thứ ba – Phàm nhơn – Personnalité, Soi inférieur.

Tại sao con người chia làm ba ngôi?

Chơn thần ở tại cơi Đại Niết Bàn; càng xuống thấp, khí càng thấp Chơn thần hoạt động không được dễ dàng nên mới sanh ra Chơn nhơn thế cho ḿnh đặng kinh nghiệm từ cơi Niết Bàn, Bồ Đề cho tới Thượng thiên (ba cảnh cao Thượng giới). Những học hỏi của Chơn nhơn sau dâng cho Chơn thần.

Chơn nhơn cũng khó xuống thấp, nên sanh ra Phàm nhơn đặng hoạt động từ cơi Hạ thiên xuống tới cơi Trần. Tinh hoa những sự kinh nghiệm mỗi kiếp của Phàm nhơn đều giao lại cho Chơn nhơn. Chơn nhơn có sự sinh hoạt riêng. Giữa Chơn thần và Chơn nhơn, giữa Chơn nhơn và Phàm nhơn đều có dây liên lạc với nhau. Nhưng hầu hết trong nhơn loại hiện kim, đường thông thương giữa Chơn nhơn và Phàm nhơn bị bít hết chín phần mười bởi những tư tưởng và những ư muốn quấy quá, không khác nào một con đường bị gai góc mọc cao nghều nghệu, khó bề lui tới. Vậy ta có bổn phận mở đường thông thương giữa Chơn nhơn và Phàm nhơn đặng cho Chơn nhơn dễ bề điều khiển Phàm nhơn theo chiều hướng của cơ tiến hóa.

NÓI TÓM LẠI: Chơn thần là một điểm linh quang của Thượng Đế, Chơn nhơn là một phân thân của Chơn thần.

C̣n Phàm nhơn là một phân thân của Chơn nhơn. Trong ḿnh con người có đủ âm dương, tinh thần và vật chất, và cũng chia làm ba ngôi như Thượng Đế, nên gọi con người là Tiểu Thiên Địa rất đúng.

 

AI GÂY RA TỘI LỖI?

 

Con người sanh ra ở cơi trần th́ sự lầm lạc là lẽ tự nhiên. Nhưng đó là lúc đi đầu thai làm người mới có cả trăm kiếp. Tới ngày nay con người đă trải qua muôn kiếp luân hồi rồi, th́ đáng lẽ phải khô