trang nhà l trang sách l bản tin l thiền học l tiểu sử l trang thơ l h́nh ảnh l bài vở


Giảng Lư

 TIẾNG NÓI VÔ THINH


  

tác giả
         
 ANNIE  BESANT  và C. W. LEADBEATER    


Lời tựa   Chú Thích  Cuối Sách Đầu Sách Mục Lục
 

MỤC LỤC

   Phần Một
chương 1   2  3  4  5  6 7  8 9  10   11  12  13

   Phần Hai
chương 1  2   3  4    5   6   

   Phần Ba
 
chương 1  2 3   4   5 6  7  8    
 


          
PHẦN  THỨ  NHẤT
 

TIẾNG  NÓI  VÔ  THINH
 

CHƯƠNG THỨ NHỨT

 

LỜI TỰA

C. W. L. Dù đứng trên quan điểm thiển cận hay hoàn toàn hữu h́nh để khảo sát nội dung, bút pháp và nguồn gốc của  nó, quyển Tiếng Nói Vô Thinh [1] vẫn là một trong các tác phẩm  đặc sắc nhất của văn chương Thông Thiên Học, và khi nghiên cứu  cẩn thận hơn, căn cứ trên sự sưu  tầm sáng suốt hơn, chúng ta vẫn  giữ nguyên  niềm thán  phục đó. Chúng ta sẽ không phạm phải lỗi  lầm  khi xem nó như một bản Thánh Thư,  dù phải  chấp nhận một cách không đắn đo từng chữ. Trong chốc lát chúng ta sẽ thấy cũng chẳng phải v́ quyển sách nầy có nhiều sai lầm  nhỏ  nhặt,  hoặc những ngộ nhận không đáng kể bị bỏ qua. Trái lại, ai v́ lư do  trên xem tác phẩm nầy như không đáng tin cậy  và sai  lạc sẽ  phạm phải một lỗi lầm c̣n khó dung thứ hơn.

Bà Blavatsky bao giờ cũng sẵn sàng nh́n nhận và ngay cả nhấn mạnh đến sự  kiện có nhiều chỗ thiếu chính xác trong tất cả những tác phẩm của bà. Vào thời gian ban đầu, khi chúng tôi gặp vài  đoạn  văn  không  rơ  ràng  như  thế,  tự   nhiên chúng tôi kính cẩn gác qua một bên, v́ nghĩ rằng đây là một trong các điều không chính xác đó. Sự nghiên cứu sâu  xa hơn đă chứng tỏ cho chúng tôi thấy rằng một trong số những trường hợp lạ lùng, Bà Blavatsky đều có lư cả. Không bao lâu, nhờ kinh nghiệm trợ giúp, chúng tôi đă tỏ ra cẩn thận  nhiều hơn về phương diện nầy và tin  cậy vào kiến thức uyên bác phi thường và toàn diện của bà trong nhiều vấn đề khác nhau  và ít  ai biết.  Tuy nhiên không phải là nghi ngờ có một ư nghĩa ẩn tàng ( nào đó ) trong một  chữ  in  sai rơ rệt, như  nhiều sinh viên hời hợt. Nhưng chúng ta cũng không ngần ngại nh́n  nhận rằng bà là nhà sáng lập vĩ đại và uyên  thâm về Huyền Bí Học của chúng ta cũng có  thể viết sai một chữ  Tây Tạng hoặc dùng sai một thuật ngữ Anh Văn.

Bà nói về nguồn gốc quyển sách trong lời tựa. Ban đầu những lời giải thích nầy hơi khó chấp nhận, nhưng những sự sưu tầm mới đây làm cho chúng ta trở nên dễ hiểu hơn nhiều. Người ta thường gán cho những lời của bà một ư nghĩa vượt quá tư tưởng của bà ; do đó có những sự phán quyết lạ lùng sẵn sàng  nảy sinh, nhưng khi  kết hợp  lại những  lời  phê  phán trên, người ta mới thấy rằng những  sự phàn  nàn ấy đều vô căn cứ.

 

Bà nói : " Các trang sách đây  trích ở  Kim Huấn Thư  một trong  những tác phẩm phát cho những sinh  viên Huyền  Bí  Học  ở Đông phương. Kiến thức trong  quyển nầy bắt buộc phải truyền thụ trong trường mà giáo lư đă được nhiều nhà Thông Thiên Học chấp nhận. Nhờ thuộc ḷng nhiều những lời giáo huấn nầy, nên tôi phiên  dịch  khá dễ  dàng ". Và ở chỗ khác bà nói:   “Tác phẩm mà tôi đem ra dịch đây thuộc về bộ sách  trong đó tôi cũng  rút lấy những thi khúc của  Kinh Dzyan, dùng  làm căn bản cho bộ Giáo Lư Bí Truyền ".  Bà c̣n  nói thêm : " Quyển  Kim Huấn  Thư   có khoảng chín chục tiểu luận  riêng biệt ". 

 

   Trước hết sự giải thích của chúng tôi vượt quá tư tưởng của Bà Blavatsky, chúng tôi tưởng rằng ở Đông phương tác phẩm  nầy được giao cho tất cả các sinh viên Huyền Bí Học thuộc về Quần Tiên Hội, mà ở  đây kiến  thức trong sách đă phổ biến.  Do  đó khi gặp  những nhà Huyền Bí Học tiến bộ cho rằng không  hề nghe nói đến  quyển Kim  Huấn Thư,  chúng tôi rất ngạc nhiên và sẵn sàng nh́n  nhận sự  lầm lạc cũng như tự hỏi xem những lời giáo huấn ấy có chân chánh không. Nhưng từ  đó chúng tôi học được nhiều sự việc, mà trong đó, vài điều đă khai sáng tỏ hơn lúc đầu.

Đối với mấy đoạn Kinh Dzyan  cũng thế, càng quen thuộc với bản văn và tính  cách độc đáo của nó, chúng ta càng hiểu nó một cách rơ ràng hơn, không riêng ǵ quyển Tiếng Nói Vô Thinh hay bất cứ tác phẩm nào khác, thật ra tất cả không thể phát sinh  từ một nguồn gốc.

 

Nguyên bản của Kinh  Dzyan ở trong tay Đấng Tôn Nghiêm, Chủ Tể Quần Tiên Hội, không ai thấy được, không người nào  biết nó  có từ bao giờ,  nhưng người ta  tin rằng  phần thứ nhứt ( nghĩa là sáu đoạn đầu ) đă có  từ thời kỳ trước Dăy Địa Cầu của  chúng ta.  Người ta cũng tin rằng đây không phải là một  lịch sử, nhưng đây là một loạt chỉ dẫn  hơn  nữa là một thể thức chứ không phải là một câu chuyện thành lập Vũ Trụ. Trong Viện bảo tàng của Quần Tiên Hội có tồn trữ một bản, chính bản đó (có lẽ quyển sách cổ nhất của Thái Dương Hệ chúng ta) Bà Blavatsky  và nhiều  vị đệ  tử  của  bà trông thấy bà đă mô tả một cách  thật linh hoạt trong bộ  Giáo Lư  Bí Truyền. Tuy nhiên quyển sách có tŕnh bày  vài đặc điểm mà bà không đề cập đến. Những trang sách dường như chứa từ điện thật mạnh, v́ chỉ cần lật một trang để xem, chúng ta thấy hiện ra trước mắt những biến cố thật trần thuật, đồng thời người xem nghe như có một sự mô  tả nhịp nhàng về biến  cố ấy bằng chính  ngôn ngữ của y, đúng như ngôn ngữ có  thể diễn  đạt ư tưởng của tác giả. Bản văn không chứa một chữ nào mà chỉ có những biểu tượng.

Nắm được những lời chỉ dạy rồi, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi biết có một tác  phẩm khác  cũng có  cùng  nguồn  gốc với những đoạn Thánh  Kinh Dzyan  và sự  xúc động đầu tiên của chúng tôi là  tin tưởng vào một sự sai lầm kỳ lạ phải  xảy  ra . Sự mâu thuẫn dị thường ấy cũng kích thích chúng tôi khám phá ra tác giả thật của bộ Kim Huấn Thư : việc ấy được hoàn thành tất cả sẽ được giải bày một cách thật đơn giản.

Những đoạn tiểu sử khác nhau về Bà Blavatsky cho chúng ta biết rằng bà đă lưu trú ba năm tại Tây Tạng và trong một lần khác bà đă cố gắng đi vào vùng cấm địa nầy, nhưng không  thành công.  Trong  một  cuộc  du hành khác, dường  như bà  đă lưu  ngụ tại một đạo viện trên Dăy Hy Mă Lạp Sơn lúc ấy do  một vị Đệ Tử của Đức Thầy Morya  cai quản. Theo tôi dường như vùng nầy ở Népal chớ không phải Tây Tạng, nhưng khó xác định là ở đâu. Nơi đây Bà Blavatsky rất chuyên cần học tập và  đạt được một sự phát triển tâm linh phi thường. Trong thời kỳ đó bà học thuộc ḷng được nhiều thiên khảo luận khác nhau mà bà đă đề cập đến trong lời tựa. Những sinh viên ở đạo viện  đặc biệt nầy đều phải học  như  bà và  quyển  kinh có những đoạn đă trích ấy được  xem như  vô cùng quư báu và thiêng liêng.

Đạo viện nầy tối cổ. Nó được  lập vào những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Thiên Chúa bởi nhà truyền giáo và canh tân vĩ đại của Đạo Phật. Ngài  thường được  biết dưới  danh hiệu  Arya- sanga. Người ta quả quyết rằng  đạo viện ấy đă có từ  hai đến ba thế kỷ trước Ngài. Dù sao đi nữa lịch sử của đạo viện liên quan đến chúng ta bắt đầu từ khi Đức Aryasanga tạm trú ở đó.  Ngài là người có một năng lực phi thường, một kiến thức uyên bác và đă tiến xa trên Thánh Đạo.Trong một kiếp trước, Ngài là Dharmajyoti,  tức  là một  trong các tín đồ nhiệt thành của Đức Phật, và sau đó, Ngài mang tên Kleinias, là một trong những vị cao đồ của Đức Thầy Kouthoumi, trong một kiếp Ngài là Đức Pythagore. Sau khi  Đức Pythagore bỏ xác,  Kleinias sáng  lập tại thành Athens một trường chuyên nghiên cứu triết lư của Thầy ḿnh. Chắc chắn  nhiều  hội  viên Thông Thiên Học hiện nay  đă lợi dụng được cơ hội đó. Vài thế kỷ sau,  Ngài  tái sinh  mang tên Vasubandhu Kanushika ở Peshawar, sau đó được gọi là Purushapura. Khi được nhận vào Giáo Hội Tăng Già, Ngài  lấy tên là Vô Trước ( Asanga )  “người đă cởi bỏ các chướng ngại”. Khi Ngài đă  cao niên, các môn đồ Ngài sùng mộ vị thủ lănh của họ mới tôn xưng Ngài bằng danh hiệu dài hơn là  Aryasanga -  dưới biệt danh nầy Ngài thường được biết đến như  một nhà trước tác và nhà truyền giáo. Người ta nói rằng Ngài đă  đạt được một tuổi thọ thật cao, nếu truyền thuyết nầy đúng, Ngài đă sống gần đến một trăm năm  mươi tuổi và từ trần ở Rajagriha.

Sách vở của Ngài để lại thật dồi dào : tác phẩm chánh trong số đó  được nhắc đến là bộ Yogacharya Bhumishastra ( Du  Già  Sư  Địa Luận ). Đức Aryasanga đă sáng lập ra trường Du Già Phật Giáo (Bhoudiste Yogacharya ). H́nh như Tôn giáo nầy bắt đầu bằng sự cố gắng dung hợp Phật Giáo với hệ thống triết  lư vĩ đại của Yoga, hoặc có thể  mượn giáo lư Yoga những ǵ có thể sử dụng và giải thích theo lối Phật Giáo. Ngài đă từng du lịch  nhiều và giữ một vai tṛ then chốt trong việc canh tân Phật Giáo. Tiếng tăm của Ngài lừng lẫy ở điểm tên tuổi Ngài được kể chung  với uy danh của Đức Nagarjuna ( Long  Thọ ) và  Đức  Aryadeva ( Đại Thiên ). Ba vị nổi tiếng nầy là ba ngôi mặt  trời của Phật  Giáo, nhờ công nghiệp truyền bá ánh sáng và sự vinh quang  của Đạo Phật trên thế gian. Đức Aryasanga sống khoảng một ngàn năm sau Đức Phật. Các học giả Tây phương không đồng ư về  điểm nầy  nhưng không ai tin rằng Ngài sống vào thế kỷ thứ  bảy sau Thiên Chúa. Đối với chúng ta trong  Hội Thông Thiên Học, Ngài được biết đến như  một nhà chỉ giáo nhă nhặn, kiên nhẫn và nhân từ.  Đó là Đức Thầy Djwal Koul. Ngài có một  địa vị đặc biệt đối với chúng ta, v́  ở thời kỳ vài người trong chúng ta hân hạnh được biết Ngài, nghĩa là cách đây bốn chục năm, Ngài c̣n chưa đạt được đến mục đích tiến hóa cuối  cùng của nhân loại và được Điểm Đạo ở cấp bậc Chơn Tiên. Như thế trong tất cả  những Đức Thầy của chúng ta, Ngài là người duy nhất trong  kiếp nầy,  mà chúng tôi được biết trước khi Ngài  trở thành Chơn Tiên, vào lúc Ngài c̣n là cao đồ của Đức Thầy Kouthoumi. Sự kiện Ngài đă du nhập Phật Giáo vào xứ Tây Tạng trong kiếp sống của Ngài là Aryasanga, có thể giải thích tại sao trong kiếp nầy Ngài chọn xác thân người Tây Tạng. Cũng có thể c̣n vài sự liên hệ  hay sự trói buộc của Nhân Quả mà Ngài muốn chấm dứt trước khi nhận sự  Điểm Đạo  sau cùng,  tức  quả vị Chơn Tiên.

Trong một cuộc du hành truyền pháp lớn lao của Ngài trong kiếp sống mang tên Aryasa­nga, Ngài đă đến đạo viện ấy ở Hy Mă Lạp Sơn và lưu ngụ tại đó. Ngài ở tại đây gần một năm,  giáo hóa tăng sĩ, thành lập Giáo hội chung trong một ṿng thật rộng lớn của xứ ấy và biến đạo viện thành một trung tâm đầu năo  của sự canh tân tín ngưỡng. Ngài đă lưu lại đây một di tích và một truyền thống c̣n tồn tại đến ngày nay. Trong số thánh tích của Ngài, người ta c̣n giữ lại một quyển Kinh với một niềm tôn kính vô biên : đó chính là bản văn mà Bà  Blavatsky gọi là  Kim  Huấn  Thư.  Dường như Đức Aryasanga đă làm thành một loại sách tóm lược hay tập hợp những câu trích dẫn mà Ngài ghi lại trong đó tất cả những ǵ Ngài cho là hữu ích cho môn đồ Ngài, và Ngài bắt đầu với những thi đoạn của Kinh Dzyan - không phải bằng những biểu tượng như trong nguyên bản,  nhưng bằng chữ viết.  Ngài cũng trích nhiều câu khác, mà  một đoạn rút trong tác phẩm của Đức Long Thọ (Nagarjuna ), như  Bà Blavatsky đă cho biết.  Sau  khi Ngài ra đi, các môn đồ của Ngài thêm vào  quyển  sách  ấy một loạt các bài tường tŕnh  ( đúng hơn, được rút gọn ) về những bài thuyết pháp của Ngài : đó là những " tiểu luận " mà Bà  Blavatsky đă đề cập đến.

Trong kiếp trước, chính Alcyone  đă soạn lại và thêm vào quyển Kim Huấn Thư  những bản trần thuật về các bài thuyết pháp  của Đức Aryasanga mà ba bài hợp thành vấn đề chúng ta hiện đang nghiên cứu. Vậy nhờ Alcyone cẩn thận biên soạn chúng ta mới  có tác  phẩm nhỏ vô giá nầy, cũng như trong kiếp sống hiện tại chúng ta mang ơn người qua quyển sách nhỏ có nhan đề Dưới Chơn Thầy. Kiếp trước Alcyone bắt đầu từ năm 624 sau Thiên Chúa và trải qua tại vùng Bắc Ấn. Trong kiếp đó  Alcyone được thu nhận vào Giáo Hội Tăng già Phật Giáo lúc c̣n rất trẻ. Cậu bé quyến luyến Aryasanga một cách nồng nhiệt và được Ngài dẫn đến đạo viện ở Népal, nơi đây Ngài để cậu trợ giúp và điều hành sự nghiên cứu của Giáo hội do cậu cải tổ và chăm sóc. Trong ṿng hai năm, Alcyone đă hoàn tất các chức vụ  trên trong sự thành đạt lớn lao nhất  [2].

                                                                                                                                                        

Nếu cho rằng quyển Tiếng Nói Vô Thinh cùng nguồn  gốc với những  đoạn  Kinh Dzyan, chính v́ lư do duy nhất là nó được  rút trong cùng  một  bộ  sách. Chúng ta cũng không  nên quên rằng, nếu trong các thiên luận giải nầy, chúng ta có một phần đẹp đẽ thuộc giáo lư của Đức Aryasanga, tất nhiên nó cũng phải bị tô điểm bởi thành kiến của những người tiếp nhận nó. Họ hiểu sai  về nhà cải cách, ít nhất trong vài đoạn họ đă không  nắm được  ư nghĩa thật sự của nó. Khi xét kỹ tác phẩm, chúng ta sẽ thấy trong đó rải rác những đoạn diễn tả những cảm thức mà Đức  Aryasanga ít  khi biểu lộ, do  đó chứng  tỏ một sự  thiếu  hiểu biết không thể quy trách cho Ngài.

Như bạn đă thấy, Bà Blavatsky đề cập đến việc phiên dịch những câu châm ngôn ấy đă gây ra vài vấn đề thú vị. Thật  ra chúng  ta biết rằng bà chỉ biết duy nhất một thứ ngôn ngữ ở Đông phương là tiếng Á Rập. Quyển sách được viết bằng thứ chữ  xa lạ đối với tôi ; tôi cũng không biết thứ ngôn ngữ được sử dụng. Đó có thể  là tiếng Bắc Phạn (Sanskrit ),  Nam Phạn ( Pali ), hoặc là thổ ngữ Prakit hay tiếng Népal, Tây Tạng, những chữ viết không phải là thứ chữ  hay dùng  hiện  nay. Ít ra gần  như  chúng ta có thể tin chắc rằng trên thế gian, Bà Blavatsky không thể biết thứ chữ viết cũng như ngôn ngữ đă được sử dụng.

 

Đối với những người có khả năng vận dụng Thể Trí một cách tự do, muốn hiểu một quyển sách có những phương pháp  không hề giống với sự đọc sách thông thường. Phương pháp đơn giản nhất là đọc trong  trí của những người đang nghiên cứu tác phẩm, nhưng phương pháp nầy có thể bị bác bỏ là làm như thế không đạt được ư nghĩa thật sự, mà đó là ư  nghĩa hiện ra ở người nghiên cứu, ư nghĩa nầy có thể khác với ư nghĩa trong sách. Phương pháp thứ hai là quan sát  hào quang của quyển sách ; thuật ngữ trên cần phải có vài lời giải thích cho những người chưa hiểu biết về khía cạnh huyền bí trong thiên nhiên. Về  phương diện nầy, một thủ bản xưa hơi khác với một quyển sách  hiện đại. Nếu công việc làm ban đầu không phải do chính  tác giả,  th́  trong mọi trường hợp bản  văn sẽ  được một  người khác chép lại. Người ấy có một  tŕnh độ  học thức và  thông minh  nào đó, y hiểu được đề tài quyển sách, và về  điểm nầy  lại có  ư kiến riêng của y trong đó. Chúng ta nên nhớ rằng bản văn thường được chép bằng một mủi nhọn là phương pháp cũng chậm chạp và cần cù  gần như điêu khắc. Vậy người viết đă in tư  tưởng của y trên bản văn một cách mạnh mẽ.

 

Do đó mọi thủ bản, dù mới thực hiện, luôn luôn được bao phủ bằng hào quang của Cái Trí giúp chúng ta hiểu ư nghĩa tổng  quát của quyển sách, hoặc hơn nữa hiểu được ư kiến của một người về ư nghĩa và về  giá trị  của thủ bản ấy. Mỗi khi có người đọc, hào quang của Cái Trí ấy gia tăng, và nếu thủ  bản  ấy được nghiên cứu một cách đúng đắn, dĩ nhiên sự gia tăng đó thật  là đáng kể và có giá trị lớn lao. Một quyển sách  được  nhiều  người đọc thường biểu lộ hào quang thăng bằng, rộng răi hơn và được bổ  túc bởi  những  ư kiến đối nghịch của chính những độc giả ấy.  Phép trắc lượng tinh thần một quyển sách như thế thường cung cấp một kiến thức khá đầy đủ về nội dung của nó, nhưng với một  phần ngoại biên khá quan trọng, nó lại phô bày những ư kiến không có trong sách, những ư kiến dị biệt của nhiều độc giả.

 

Đối với quyển sách được in ra cũng gần giống như thế, trừ ra lúc đầu không có người sao chép lại. Vậy lúc ban sơ trong  nghề in thường quyển sách chỉ biểu lộ vài tư tưởng rời rạc của người đóng sách và bán sách. Ngoài ra, ở thời đại chúng ta dường như ít có những độc giả nghiên cứu một cách chuyên tâm và đúng đắn như những bậc tiền bối. Đó là lư do những h́nh tư tưởng bao bọc quyển sách hiện đại ít khi chính xác và rơ ràng  như những h́nh tư tưởng bao bọc các thủ bản cổ.

Một phương pháp thứ ba đ̣i hỏi những năng lực thuộc loại siêu đẳng là ngồi hoàn toàn xa cách quyển sách hay thủ bản và liên lạc với tác giả bằng Cái Trí. Nếu  quyển sách được viết bằng ngoại ngữ,  đề tài  của quyển sách không được hiểu biết và không hề có chút hào quang nào để cung cấp  những chỉ  dẫn hữu ích, th́ chỉ c̣n việc đi trở ngược lại lai lịch của nó, để t́m xem nó được sao chép lại từ tác phẩm nào (hoặc in tùy theo trường hợp ) và như thế xác định xuống đến  tác giả của nó. Nếu đă biết đề tài của một quyển sách, th́ có thể dùng một phương pháp ít  tẻ nhạt hơn là trắc lượng tinh thần đề tài đó, tức tiếp xúc với những luồng tư tưởng tổng quát liên hệ đến nó và do đó t́m ra tác giả và những  ǵ y đă suy tư. Trong một ư nghĩa nào đó, tất cả những tư tưởng liên  hệ đến  một đề tài được nêu ra ở địa phương được tập trung chung quanh một điểm trong không gian, đến đỗi gặp điểm đó người ta có thể  tiếp xúc với tất cả những luồng tư tưởng quy tụ chung quanh đề tài, mặc dù, dĩ nhiên là những luồng tư tưởng nầy liên quan đến hàng triệu ḍng tư tưởng thuộc về đủ thứ vấn đề khác nhau.

 

Giả sử trong thời kỳ đó bà đă có đủ năng lực về huệ nhăn, Bà Blavatsky có thể dùng một trong những phương pháp trên để hiểu ư nghĩa của những thiên khảo luận tạo thành quyển Kim Huấn Thư, song thiếu bằng cớ làm sao bảo đảm rằng công việc của bà là một sự phiên dịch. Nhưng cũng có thể c̣n vài lư do khác  khá xa xôi. Hiện nay, trong đạo viện trên  Hy Mă Lạp Sơn đó không ai nói được tiếng Âu Châu, nhưng ít ra bốn  chục năm  đă trôi qua từ  khi Bà Blavatsky lưu trú tại đó, phải có nhiều sự thay đổi xảy ra. Người ta biết  rằng thỉnh thoảng, nhưng rất hiếm, có những sinh viên Ấn Độ đă đến thọ giáo ngay tại nguồn suối hiểu biết cổ xưa đó, và nếu chúng ta giả sử rằng cuộc thăm viếng của một trong những sinh viên đó trùng hợp với việc lưu ngụ  của bà, th́ cũng có thể người ấy biết vừa tiếng Anh vừa lẫn ngôn ngữ  của thủ bản kia hoặc ít ra y biết được tiếng của một người cư  ngụ trong đạo viện, như thế y có thể tự đọc thủ  bản ấy và do đó đọc cho Bà Blavatsky nghe.

 

Sau cùng, hơi kỳ lạ, bà cũng có thể lănh hội Giáo lư nêu trên bằng tiếng mẹ đẻ của bà. Có nhiều bộ lạc Phật Giáo, có thể thuộc nguồn gốc Thát Đát, đă định cư khá đông đảo ở Nga Âu, trên bờ sông Volga. Vả  lại, h́nh như nhiều người dù sống rất xa cách xứ Tây Tạng, nhưng vẫn luôn luôn xem nơi đó như  thánh địa của họ và thỉnh thoảng  đă thực  hiện những cuộc hành hương  trên vùng đất ấy. Đôi khi những người hành hương lưu ngụ tại  đây trong nhiều năm, v́ là tín đồ trong các đạo viện ở Tây Tạng hay Népal và v́ một trong các người ấy có thể đồng thời nói tiếng Nga và chính thổ ngữ Mông Cổ của họ, nên ở đây  chúng ta lại thấy một phương cách mới mà Bà Blavatsky có thể thông hiểu được những người khách trọ của bà.

 

Dĩ nhiên dù trong trường hợp nào chúng ta cũng không  thể chờ đợi đúng  bài thuyết pháp do chính Đức Aryasanga giảng cho các đệ tử của Ngài. Trong tập sách cổ nầy, chúng ta không có lời giảng của Ngài, mà chỉ có những ǵ do các đệ tử Ngài giữ lại, và từ  sự ghi chép đó, hiện nay chúng ta chỉ có  trước mắt bản dịch của một bản dịch hoặc bản tóm lược ấn tượng tinh thần tổng quát do ư nghĩ tạo ra. Dĩ nhiên, đối với Đức Thầy của  chúng  ta hay đối với chính  tác giả, không  có  ǵ  dễ dàng hơn là dịch một cách trực tiếp và chính xác ra tiếng Anh, nhưng v́ Bà Blavatsky tuyên bố rơ ràng rằng chính bà đă thực  hiện bản dịch, cách làm việc ấy  không được  thừa nhận một cách hiển nhiên.

 

Đồng thời, sự tường thuật đă cho chúng ta mục đích sự hoàn thành nhanh chóng công việc, khiến cho chúng ta nghĩ rằng có  một sự phù trợ nào đó đă giúp bà, mà có thể chính bà cũng không hay. Bà Bác sĩ  Besant đă viết vấn đề nầy như sau :

 

Bà viết ở tại Fontainebleau. Tôi thường ở kế bên bà khi bà làm việc ; tôi ngồi trong pḥng lúc bà viết. Tôi biết bà không dùng đến quyển sách nào cả. Bà viết không ngừng trong nhiều giờ, dường như hoàn toàn viết theo trí nhớ hoặc đọc trong một bản văn vô h́nh. Đến chiều bà cho tôi xem bản thảo mà tôi đă thấy bà viết khi tôi ngồi bên bà và nhờ  tôi hoặc các bạn khác sửa dùm tiếng Anh, v́ bà nói với chúng tôi là bà viết quá mau nên cú pháp chắc phải sai lạc. Nhưng trong  bản văn  ấy chúng tôi chỉ sửa đổi vài chữ  và nó vẫn là áng văn tuyệt tác”.

 

Sau cùng, có thể bà dịch quyển sách ấy ra tiếng Anh trước, trong lúc bà lưu trú tại đạo viện, khi ở Fontainebleau bà đă đọc bản dịch ấy từ một  khoảng xa, việc  mà  trong  nhiều trường hợp khác tôi đă thấy bà thường làm.

 

Sáu trường phái triết học Ấn Độ mà bà đă đề cập đến trong trang đầu của lời tựa, là các trường phái Nyaya, Vaiseshika, Sankhya, Yoga, Mimamsa và Vedanta. Bà cho  chúng tôi biết rằng mỗi vị Giáo chủ đều có phương pháp riêng, mà họ thường giữ ǵn rất cẩn mật. Đó là điều tự nhiên, v́ họ không muốn chịu trách nhiệm do phương pháp của họ gây ra những hạng người không đủ tư cách v́ thiếu chuẩn bị, nếu phương pháp bị tiết lộ  sẽ không  thể tránh được sự bất lợi. Ở Ấn Độ không có một vị Đạo Sư nào xứng đáng với danh  hiệu ấy mà không trông nom đệ tử ở bên ḿnh ; như thế khi đưa ra cho y những phương pháp thực tập, người có thể canh chừng hiệu quả của chúng và người sẽ cho ngưng ngay tức khắc sự luyện tập,  nếu thấy sai lạc. Trong khoa Pháp môn,  đây chính là một tục lệ cổ xưa; người ta không thể chối căi được, đây cũng chính là  phương cách duy nhất để tiến bộ một  cách  nhanh chóng và an toàn thật sự.  Công việc  đầu tiên  và khó khăn nhất của người đệ tử là chấm dứt những sự lộn xộn chi phối y, loại trừ  những quyền lợi thứ yếu và chủ trị những tư tưởng vẫn vơ, y phải hoàn thành  việc ấy bằng cách dùng ư chí khốâng chế những hạ thể của y  trong nhiều năm.

 

Tác giả cho chúng ta biết rằng nếu những hệ thống huấn luyện của các trường bí  giáo ở bên nầy dăy Hy Mă Lạp Sơn khác  nhau, th́  ở bên kia chúng đều giống nhau. Chúng ta hăy để ư đến danh từ bí giáo ở đây, v́ ta biết rằng trong Tôn giáo công truyền có những sự xấu xa và sự luyện tập những phù phép tà đạo thật tệ hại trên triền núi phía Bắc hơn là phía Nam. Có lẽ chúng ta nên dùng thành ngữ " bên kia dăy Hy Mă Lạp Sơn " theo nghĩa tượng trưng hơn là theo nghĩa địa lư một  cách chật hẹp, v́ nhiều người cho rằng  chính trong những trường hợp được các Đức Thầy của chúng ta thừa nhận, sự huấn  luyện mới  giống nhau. Đó là điều rất đúng trong một nghĩa nào đó - một ư nghĩa quan trọng hơn cả - nhưng không giải thích  có thể  gây sự  hiểu lầm cho độc giả. Tất cả đều giống nhau có nghĩa là đời sống  đức hạnh phải là  con  đường duy nhất hướng dẫn sự phát triển huyền bí và sự chiến thắng dục vọng là phương sách giải thoát duy nhất. Có nghĩa là trường huyền bí trong đó đời sống đạo đức bó buộc những hạn  chế vô ích. Các trường hợp ấy dạy về h́nh  thức phát triển tâm linh nhưng không chút quan tâm đến việc sử dụng vào việc ǵ những kiến thức mà sinh viên đă thu hoạch được. Nhiều trường khác lại quả quyết rằng phải thỏa măn mọi dục  vọng để đi đến chỗ chán ngán hầu đạt được trạng thái dửng dưng. Không có trường hợp nào chủ trương các ư kiến trên được Quần Tiên Hội cai quản. Trong tất  cả  những  trường  được  thiết lập có liên quan đến Quần Tiên Hội, dù  rất xa xưa, một đời sống trong sạch và một mục đích cao thượng cũng vẫn là điều kiện  tiên quyết và cần thiết.

 

Trong đoạn kế đó có hai điều sai lầm nhỏ nhặt mà tôi đă đề cập đến. Tác giả cho biết : " Người ta cho rằng tác phẩm thần bí gọi là Paramartha do các vị Nagas  truyền  lại cho  Nagarjuna ( Long Thọ ) ". Tác phẩm vĩ đại của Long Thọ có nhan đề là  Prajna Paramita [3] chớ không phải Paramartha, có nghĩa là trí huệ đưa đến bờ bên kia. Bộ kinh nầy không luận giải về Paramartha  satya hay tâm thức giúp bậc hiền giả chiến thắng  mộng ảo.  Như chúng tôi đă đề cập phía trước,  Long  Thọ là một trong ba vị Huấn Sư vĩ đại của Phật Giáo vào đầu kỷ nguyên  Thiên Chúa. Người ta cho rằng Ngài mất vào năm 180 sau  Thiên Chúa. Những nhà Thông Thiên Học ngày nay biết Ngài dưới danh hiệu Đức Thầy  Kouthoumi.  Đôi khi khiến tác giả đạo giáo công truyền cho rằng Ngài là đối thủ của Đức Aryasanga,  nhưng khi biết những sự liên hệ mật thiết đă kết hợp hai Ngài trong những kiếp trước ở tại Hy Lạp và thêm một lần nữa trong kiếp nầy, th́ chúng ta thấy ngay không thể có  một sự  đối nghịch như thế. Rất có thể khi hai Ngài qua đời những môn đệ đă tạo ra sự tương phản trong giáo lư của các Ngài, như  những đệ  tử nhiệt thành song ít sáng suốt thường làm. Nhưng chúng ta thấy bằng  cớ về sự ḥa thuận hoàn toàn ở hai vị Huấn Sư do sự kiện Ngài Aryasa­nga trân trọng giữ ǵn một phần lớn những tác phẩm của Đức Long Thọ mà Ngài đă sao chép lại trong  tập sách  trích dẫn  của  Ngài  để  dạy  các  đệ  tử.

 

Tuy nhiên không chắc chắn rằng Kinh Bát Nhă Ba La Mật Đa là tác phẩm của Đức Nagarju­na, v́ theo truyền thuyết  bộ Kinh  được các vị Nagas hay Thần Rắn truyền  lại cho Ngài.  Bà Blavatsky cho rằng đây là danh hiệu của những vị được Điểm Đạo thuở xưa. Có lẽ bà có lư, mặc dù c̣n một lư do khác có thể rất thú vị. Tôi đă khám phá rằng người Aryen gọi Nagas hay Rắn là một trong những bộ lạc lớn hay tôn tộc giống dân phụ Toltèque của người Atlante mà xưa kia khi ra trận họ mang một cái cây có con  rắn vàng quấn chung quanh để  thay cờ hiệu. Cây ấy có thể là Tổ vật (Totem)  hay biểu tượng của bộ lạc hoặc  chỉ là biểu hiệu của một đại gia đ́nh. Bộ lạc hay thị  tộc nầy là người Atlante, họ đă giữ một vai  tṛ quan trọng trong việc xâm chiếm xứ Ấn Độ  thuở xưa và những vùng đất thuộc phía đông  nam bán đảo. Những bộ lạc gọi là Nagas cũng được kể trong số thổ dân Tích Lan khi Bijaya và những người đồng hành với người đổ bộ lên đó. Vậy người ta có thể giải thích truyền thuyết khi cho rằng Đức Long Thọ tiếp nhận bộ Kinh ở một giống dân rất xưa. Nói cách khác, bộ Kinh đó chính là một bản văn của người Atlante. Nếu người ta nghi ngờ có vài đoạn trong Kinh Upanishads phát sinh từ một nguồn gốc, th́ cũng có sự ngạc  nhiên về nét tương đồng của các giáo lư được nhận thấy trong một  trang sách như thế của Bà Blavatsky.

 

Kinh Gnyaneshwari (viết là Dhyaneshwari trong lần xuất bản thứ nhứt) không phải là một tác phẩm bằng tiếng Bắc Phạn .Nó được viết bằng tiếng Marathi vào thế kỷ thứ 13 thuộc kỷ nguyên chúng ta.

Ở trang kế đó, chúng ta thấy trường phái Yoyacharya (đúng hơn là Yogachara ) thuộc phái Đại Thừa ( Mahayana )  được đề cập đến. Tôi có nói đến ư đồ của Đức Aryasanga,  nhưng chúng ta nên bàn vài lời về điểm thật rắc rối là vấn đề Thừa ( Yanas ), tưởng không vô ích. Giáo Hội Phật Giáo hiện đại  chia ra  làm hai tông phái là Bắc Tông và  Nam Tông.  Bắc Tông bao gồm trong các nước Trung Hoa, Nhật Bản và Tây Tạng.  Nam Tông thịnh hành  ở  Tích Lan, Miến Điện, Kampuchia. Phật Giáo Bắc Tông chọn Đại Thừa ( Mahayana ) và Nam Tông  theo Tiểu Thừa ( Hinayana ), nhưng muốn xác nhận điều ấy phải hiểu nghĩa của danh  từ gây ra nhiều sự tranh luận. Yana ( Thừa ) có  nghĩa là cổ xe mà người ta đồng ư rằng  đó là  nghĩa áp dụng vào Pháp (Dhamma) hay bổn phận hay Luật , như chiếc thuyền chở chúng ta xuyên qua biển đời để đến Niết Bàn (Nirvana). Tuy  nhiên có  năm lư  thuyết  liên  quan đến nghĩa thật của chữ Yana chúng ta đang xét :

1. Đó là sự thích hợp với thổ ngữ của vùng viết ra bài  Pháp (the Law ). Theo giả thuyết th́ Đại Thừa dùng tiếng Bắc Phạn ( Sa­nskrit ), Tiểu Thừa dùng tiếng Nam Phạn ( Pali ). Theo  tôi, lư  thuyết  nầy dường như không đứng vững.

2. Hina dường như  có nghĩa là trung b́nh, hoặc dễ dàng hay nhỏ. Vậy người ta có thể xem Hinayana như  con đường bậc trung, hoặc dễ dàng hơn để  đưa đến  giải thoát, có kiến thức tối thiểu và hạnh kiểm tốt cũng đạt được mục đích. Đại Thừa  (Mahayana ) là giáo lư toàn diện và có tính cách triết lư hơn, bao gồm thêm nhiều kiến  thức liên  quan với những loại cao cả trong thiên nhiên. Dĩ nhiên là sự giải thích nầy bắt nguồn từ Đại Thừa.

3. Đạo Phật luôn luôn tôn trong các Tôn giáo khác, xem tất cả như những con đường đưa đến giải thoát, mặc dù  nó cho  rằng phương pháp do Đấng Giáo Chủ khai sáng là con đường ngắn nhất và vững chắc nhất. Vậy Phật giáo  được coi như Đại Thừa ; và Tiểu Thừa  gồm có  Bà  La Môn  Giáo

( Brahmanism ),  Hỏa Giáo ( Zoroastrianism ), Kỳ Na Giáo ( Jainism ) và tất cả những Tôn giáo khác trong thời đó được định nghĩa theo công thức ấy.

4. Hai lư thuyết chỉ là hai tŕnh độ của một chủ thuyết duy nhất - Tiểu Thừa ( Hi­nayana )  dành  cho hạng  Shravakas  hay Thinh Văn  và  Đại Thừa

( Mahayana ) dành  cho  những sinh viên tiến bộ hơn.

 

5. Không nên hiểu chữ Yana một cách rơ rệt theo nghĩa  thứ nhứt là "cổ xe", nhưng nên hiểu theo nghĩa thứ hai gần tương đương với tiếng Anh là chữ “career” (sự nghiệp). Theo sự giải thích nầy, Đại Thừa ( Mahayana ) đề nghị  với  con  người thực hiện "sự  nghiệp vĩ  đại" và trở  nên  một  vị Bồ Tát ( Bodhisattva ) và hy sinh cho hạnh phúc của thế gian. Trái lại Tiểu Thừa(Hinayana )  chỉ chứng tỏ một "tiểu sự nghiệp" là điều chỉnh đời sống thế nào để đạt đến mục đích của ḿnh tức cơi Niết Bàn  (Nirvana ).

 

Phật giáo Bắc Tông đối với Nam Tông cũng như Công giáo đối với Tin Lành trong Thiên Chúa Giáo. Phật Giáo Bắc Tông giống như Công giáo. Nó hoằng diễn giáo lư của Đức Phật. Chẳng hạn nó chấp nhận một phần tốt  lành của việc thờ cúng cổ xưa ở trong xứ, như sự cúng kiến để tỏ ḷng sùng kính những  tinh linh trong thiên nhiên hoặc những sức mạnh trong thiên nhiên được thần thánh hóa. Khi những nhà truyền giáo đạo Thiên Chúa đến những xứ theo Phật Giáo Bắc Tông, họ thấy  những cuộc tế lễ thật giống như sự cúng tế của họ th́ họ cho rằng đó là một sự bắt chước do ma quỷ xúi giục, và khi họ chứng minh rơ ràng những cuộc tế lễ ấy đă có trước kỷ nguyên Thiên Chúa, họ lại nói rằng đó chính là "đoán trước mà bắt chước".

 

Trong Kinh điển Phật Giáo cũng như trong kinh sách của  các Tôn giáo khác, người ta thấy có nhiều mâu thuẫn. Phật Giáo  Nam Tông căn cứ trên vài văn bản, và v́ sợ xa nguyên bản nên không t́m hiểu kinh sách khác hoặc là những phần thêm vào  nguyên bản. Do đó phái nầy không quảng bác bằng Phật Giáo  Bắc Tông. Như  đây là một thí dụ : Trong những bài thuyết pháp, Đức Phật của chúng ta luôn luôn đả phá ư niệm phổ biến trong thời bấy giờ là bản ngă có thể trường tồn. Cũng như trong những người Thiên Chúa Giáo ư niệm cho rằng bản ngă chúng ta bất diệt bao giờ cũng rất phổ thông. Nhưng khi Ngài dạy rằng  những sự vật đồng hóa với con người không có ǵ trường tồn, Ngài cũng  tuyên bố một cách không lầm lạc về những điều liên hệ đến những kiếp sống liên tiếp của chúng ta. Ngài mượn  thí dụ những kiếp trước ; và một vị Vua hỏi Ngài kư ức tiền kiếp giống cái chi, Đức Phật trả lời rằng : " Việc đó giống như  người ta nhớ lại đă làm ǵ hôm qua và những ngày trước đó đi xuống làng nầy hay làng kia". Tuy nhiên ngày nay phái Nam Tông dạy chỉ có nghiệp c̣n lại thôi, c̣n Chơn Ngă th́ không tồn tại. Như con người sau khi gây ra trong kiếp sống một số Nghiệp, kế đó y chết đi, không có ǵ c̣n lại ở  y, rồi khi sinh ra, một người khác phải chịu Nghiệp Quả mà hắn không tạo ra.

Khi Phật Giáo Nam Tông dạy rằng  chỉ có Nghiệp  trường tồn,  đồng  thời tông phái nầy cũng đề cập đến việc đạt Niết Bàn. Do đó nếu bạn hỏi một vị Đại Sư tại sao ông quy y Phật, ông sẽ trả lời " Để vào Niết Bàn ". Nếu bạn hỏi thêm :" Phải trong  kiếp  nầy không ? ". Ông sẽ không ngần ngại trả lời : " Ồ ! không, phải nhiều kiếp mới được ". Cũng thế, khi chấm dứt bài  thuyết  pháp, một vị sư chúc thính giả như sau : " Cầu xin Quư Liệt Vị sớm nhập Niết Bàn ". Nếu bạn hỏi ông có phải họ vào Niết Bàn trong đời  nầy không, ông đáp : " Không, phải nhiều  kiếp nữa ". Vậy  mặc dù giáo lư trái ngược lại, sự tin tưởng thực tế trong đời sống cá nhân vẫn tồn tại.

Bà Blavatsky đă dành hết hai trang để bàn về vấn đề những loại chữ khác nhau được dùng trong các Đạo viện ở Hy Mă Lạp Sơn. Ở Âu Châu và Mỹ Châu, mẫu tự La Mă rất thịnh hành, đến nỗi được sử dụng phổ thông, nhưng đối với độc giả Tây phương cần phải được giải thích rằng ở Đông phương lại khác hẳn. Mỗi thổ ngữ Đông phương như Tamil, Telugu, Cinghalais, Ma­layalam, Hindi, Gujarati, Canarese, Bengali, Birman, Nepalais, Tây tạng, Thái lan và nhiều thổ ngă khác nữa đều có mẫu tự riêng và chữ viết đặc biệt của nó. Một người  dùng một trong các thứ thổ ngữ nầy khi y trưng dẫn một bản văn nước ngoài, y sẽ sử dụng chữ viết của nước y. Cũng thế  khi một  nhà văn Anh trưng dẫn một câu văn Đức hay văn Nga, th́ chắc chắn y không viết câu ấy bằng chữ Đức hay chữ Nga, nhưng viết bằng chữ La Mă. Khi đề cập đến một thủ bản Đông phương bao giờ cũng phải xét đến hai điều là ngôn ngữ và chữ viết. Cả hai phải luôn luôn trùng hợp nhau.

Ở Tích Lan, nếu tôi quan sát một quyển Kinh bằng lá buông, hầu hết được tŕnh bày bằng chữ Cinghalais rất đẹp, nhưng không có ǵ giống ngôn ngữ Cinghalais. Nó có thể hoàn toàn giống Pali, Sanskrit hay Elu ; đối với thứ chữ khác cũng có thể như thế.  Do đó khi nói rằng những lời giáo huấn ấy đôi khi được viết bằng chữ Tây Tạng, có thể Bà Blavatsky muốn nói rằng chữ ấy là chữ Tây Tạng, nhưng không nhất thiết là đúng ngôn ngữ Tây Tạng. Tôi không bao giờ có cơ hội được thấy  những kư hiệu bí mật lạ lùng mà bà đă mô tả, trong đó những màu sắc và thú vật biểu thị những chữ. Cũng trong đoạn ấy bà đề cập đến ba  mươi chữ đơn của mẫu  tự  Tây Tạng. Ngược lại, làm sao giải thích khi bà nói đến ba mươi ba chữ đơn sau đó. Nếu không kể  bốn nguyên âm trong đó, th́ chỉ có ba mươi chữ, và trong trường hợp ngược lại, dĩ nhiên có ba mươi bốn chữ chứ không phải ba mươi ba. C̣n về chữ  kép, số lượng của nó lại thay đổi. Một quyển văn phạm mà tôi có trước mắt cho biết có trên một trăm chữ, nhưng chắc Bà Blavatsky chỉ muốn nói đến những chữ thông dụng.

 

Bà nói đến một trong các phương pháp viết chữ Trung Hoa khiến tôi nhớ đến một kỷ niệm thú vị. Trong khi tôi lưu ngụ tại Tích Lan, có hai vị Tăng sĩ từ Trung Hoa đến viếng chúng tôi. Họ không nói được thứ ngôn ngữ nào cho chúng tôi hiểu họ. May  thay có vài sinh viên trẻ người Nhật Bản ở bên chúng tôi,  nhờ sáng  kiến phối  hợp tuyệt  diệu  của  Đại Tá Olcott mà theo đó mỗi tông phái, Nam và Bắc phương đă  gởi vài tân học tăng đến  để t́m hiểu đường lối giáo lư của nhau. Mấy vị tăng sĩ trẻ nầy không hiểu được một thứ  tiếng nào khi nghe các vị sư Trung Hoa nói,  nhưng nhờ phương tiện bút đàm, họ  có  thể trao  đổi ư kiến với nhau.  Đối với người Nhật  những kư hiệu ( chữ ) viết  ra  cũng  có  nghĩa ( như Trung  Hoa )  nhưng đọc khác.  Cũng thế một người Pháp và một  người Anh, đều  hiểu hoàn toàn một dăy số, dù người nầy đọc " un, deux, trois " ,  c̣n  người kia  đọc  “ one, two, three ". Đối với nốt nhạc người ta cũng có thể nói giống như thế.

 

Cuộc đàm thoại của tôi đối với các vị sư thật lạ lùng và thú vị. Trước hết mỗi câu hỏi của tôi đều được bạn đồng sự của tôi dịch ra tiếng Cinghalais để sinh viên Nhật hiểu ; sau đó sinh viên ấy dùng cọ viết ra chữ chung của Trung Hoa và Nhật Bản.  Rồi đến lượt  vị sư Trung Hoa đọc và viết câu  trả lời  bằng cách sử dụng cùng thứ chữ ấy, sau  cùng lại được sinh viên Nhật dịch ra tiếng Cinghalais và bạn đồng sự của chúng tôi dịch ra tiếng  Anh. 

Dù cuộc đàm thoại trong những điều kiện nầy chậm chạp và kém  chính  xác, nhưng vẫn  là một kinh nghiệm hữu ích.

                                         

CHƯƠNG  THỨ  HAI
Lời tựa   Chú Thích  Cuối Sách Đầu Sách Mục Lục

 

NHỮNG NĂNG LỰC CAO SIÊU

VÀ NĂNG LỰC THẤP THỎI

                      

Những lời dạy nầy để dành cho những kẻ chưa biết những mối nguy hiểm của những Iddhi bậc thấp.

 

C. W. L. Ở câu đầu của đoạn thứ nhứt nầy, Bà Blavatsky thêm vô ghi chú như sau :

Tiếng Pali  Iddhi đồng nghĩa với tiếng Sanskrit Siddhis và có nghĩa là những năng lực tâm linh, những quyền năng phi thường của con người. Có hai loại Siddhis, một nhóm gồm những tinh lực linh khí thấp thỏi, thô sơ ; nhóm kia buộc phải có sự huấn luyện cao siêu về quyền năng thần bí. Như Đức Krishna nói trong Kinh Shrimad Bhagavat :

" Kẻ nào chuyên tâm thực hành Yoga, khống chế được giác quan và tập trung tinh thần nơi Ta ( Krishna ), sẽ là những nhà Yogis mà tất cả những Siddhis  đều sẵn sàng cho người sử dụng ".

                                                                                                                      

Vấn đề  quyền năng  tâm linh  đă gây  ra không  biết bao nhiêu ngộ nhận ! Người sinh viên tự tránh cho ḿnh  nhiều khổ nhọc nếu lúc đầu họ cố gắng đạt được một quan niệm hợp  lư về vấn đề nầy. Trước hết không nên có thái độ khinh suất đối với sự giải thích chữ " phi thường ". Những năng lực nầy chỉ phi thường theo ư nghĩa trong thời đại nầy ít ai biết  đến  chúng và không hề có nghĩa là trái với định luật thiên nhiên chút nào. Đối với mỗi người, chúng hoàn toàn tự nhiên, dù tiềm ẩn, hiện nay chúng vẫn hiện hữu ở mỗi người. Vài người đă mở mang và làm cho chúng hoạt động,  nhưng phần đông chưa thực hiện một sự cố gắng nào đối với chúng, nên những quyền năng của họ c̣n ngủ mê.

Cách đơn giản nhất để nắm được ư niệm tổng quát là nên nhớ rằng con người là một Linh Hồn và nó biểu hiện trên những cơi khác nhau nhờ những thể thích ứng với các cơi nầy. Hành động thấy hoặc nghe trong cơi đời vật chất  nầy chỉ  có thể dùng một thể được cấu tạo bằng vật chất. Cũng giống như muốn biểu hiện trên cơi Trung giới, con người cần có một Thể Vía, v́ thể xác vô dụng trên cơi đời nầy vẫn không thấy được, cũng như hoàn toàn giống như Thể Vía không thấy được bằng mắt trần chúng ta. Lại cũng y như thế, con người phải sử dụng Thể Trí của y sống trên cơi Thượng Giới.

Phát triển quyền năng tâm linh tức là tập sử  dụng giác quan của các thể chúng ta. Một người chỉ có thể dùng các giác quan của thể xác để thấy hoặc nghe những đối tượng ở cơi trần ; nếu y tập sử dụng các giác quan của Thể Vía, y có thể thấy hoặc nghe những đối tượng của cơi Trung Giới. Vấn đề hoàn toàn đơn giản là tập đáp ứng  với những  rung động  ngày càng gia tăng. Hăy khảo sát bảng rung động trong một bài luận giải nào đó, chúng ta sẽ thấy nhiều rung động trong đó không gây ra ở ta một sự đáp ứng nào. Vài rung động cảm kích  tai chúng ta, và chúng ta nghe những làn sóng âm thanh ; các rung động khác gây ấn tượng trên mắt chúng ta, và ta gọi chúng là những tia sáng. Tuy nhiên, giữa hai loại rung động nầy, thuộc bậc cao và bậc thấp hơn chúng, có hàng ngàn loại dao động khác không gây một ảnh hưởng nào trên giác quan vật chất của chúng ta. Con người có thể phát triển bằng cách nào  đó để  trở nên mẫn cảm đối với tất cả  những sự  rung động  nầy của chất dĩ  thái, và cả với vật chất tế vi hơn chất dĩ thái. Chúng ta gọi nhà thần nhăn hay thần nhĩ là người đă thực  hiện việc  ấy v́ thị giác hay thính giác của y đă mở rộng  hơn một  người chưa phát triển.

Một sự phát triển nhăn quan tâm linh như thế sẽ mang lại những lợi ích thật đáng kể. Người nào có quan năng ấy như sống trong một thế giới mới, rộng răi bao la hơn, hay nói một cách chính xác hơn, nhận thấy rằng  thế giới  y từng  sống đă phô bày những sự  mở mang  và những  khả năng  đủ loại  mà từ trước đến giờ y không hề biết đến. Sự nghiên cứu có thể cho y biết hiện có khắp nơi chung quanh y, một đời sống  không có xác thân vật chất mênh mông và phức tạp - như các hạng thiên thần và tinh linh thiên nhiên, vô số nhân loại đang  ngủ hoặc chết, đă bỏ xác phàm, những năng lực và ảnh hưởng khác nhau mà chỉ cần hiểu để có thể chiêu tập và sử  dụng chúng, nhưng thay v́ chỉ tin tưởng vào chúng, tự ḿnh thấy tất cả những sự kiện nầy, nghiên cứu trực tiếp và kinh nghiệm chúng - tất cả những điều ấy làm cho đời sống trở  nên phong phú và thú vị hơn . Như vậy con người có thể theo dơi kết quả tư tưởng và hành vi của ḿnh trên các cơi cao, để nhờ đó hành động của y trở nên dễ dàng và hữu ích hơn. Những sự lợi ích của việc khai mở tâm thức như thế thật  hiển nhiên. Nhưng đâu là mặt trái của tấm huy chương ? Bà Blavatsky đă đề cập đến những mối nguy hiểm của sự phát  triển nầy gồm trong hai loại : loại thấp thỏi và loại cao siêu. Trước tiên,  chúng ta hăy bàn đến loại thứ nhứt :

       Tất cả những ǵ  từ  bên  ngoài đến  với con người đều  nhờ sự rung động ; sự rung động của không khí truyền âm thanh đến tai y. Sự rung động của ánh sáng phô bày trước mắt y những cảnh tượng khác nhau. Nếu  y thấy những đồ vật và sinh vật trên cơi Trung Giới, sự kiện  nầy chỉ  có  thể  xảy ra  do sự tiếp xúc  với những  rung động  thuộc về  cơi  Trung  Giới và Thượng Giới trên  các thể có thể  đáp ứng với chúng v́ con người chỉ thấy được cơi Trung Giới bằng các giác quan của Thể Vía và thấy được cơi Thượng Giới bằng các giác quan của Thể Trí. Trong mỗi cơi nầy, cũng như cơi trần,  có những loại vật chất thô trược nhiều hoặc ít cũng như thanh bai nhiều hay ít. Nói chung,  những  rung động  thuộc loại  thanh  bai  ai cũng thích,  c̣n những  rung động  thô trược  chẳng mấy  ai thích. Trong con người có hai loại vật chất ; do đó y có thể đáp ứng với tất cả rung động,  loại thấp  cũng như  loại cao do y lựa chọn. Nếu y loại trừ tất cả ảnh hưởng  thấp và chỉ chấp nhận những rung động loại cao, như thế y đă trở nên một tay trợ giúp đáng kể, ngay cả trên cơi Trung Giới và Thượng Giới. Tuy nhiên Bà Blavatsky không chấp nhận  những ảnh  hưởng nầy, dù chúng ta mang lại những giúp đỡ tạm thời, bà gọi chúng là " những năng lực tâm linh và tinh  thần c̣n  thấp kém và thô trược " và bà mời gọi chúng ta hăy tiến  lên những  cơi thật cao hơn, và nơi đó không sợ những ảo ảnh  của bản ngă nữa. Bà đoán chắc rằng sự phát triển tâm linh tầm thường sẽ mang lại những nguy hiểm nhiều hơn là lợi ích ; nhưng đến lúc  nào đó sự tiến hóa của người đệ tử luôn  luôn phải đi đối với một tŕnh độ phát triển như thế, bà đă báo cho chúng ta biết trước về một vài điểm cần phải hết sức thận trọng.

        Trong ṿng bốn mươi năm trôi qua từ khi Bà Blavatsky viết những ḍng nầy, riêng cá nhân tôi, chúng tôi có thể nhận thấy những sự nguy hiểm ấy ở nhiều sinh viên. Trước hết là tính kiêu căng, gồm một số lớn. Sự sở hữu một quyền năng, dù đó là gia tài của toàn thể nhân loại c̣n rất hiếm được biểu hiện, lại thường khiến cho nhà thần nhăn thiếu hiểu biết nghĩ rằng y ( thường xảy ra ở phái nữ nhiều hơn ) đă vượt  rất cao trên đồng loại của ḿnh, y được Đấng Toàn  Năng lựa  chọn để hoàn thành một công tŕnh trọng đại của thế giới, y  được phú bẩm một tính phân biện không bao giờ sai lầm, y được chọn lựa và cắt đặt dưới sự cai quản của  các Thiên  Thần để  tạo dựng một vận hội mới, và đại loại như thế. Bạn nên nhớ rằng bên kia thế giới luôn luôn có vô số thực thể  khoái hoạt và tinh ranh sẵn sàng khuyến khích những ảo tưởng nầy để phản ảnh lại những ư tưởng ấy và để họ mượn xác thân hầu đóng vai  tṛ của một Đại Thiên Thần, hoặc vị lănh đạo tinh thần do họ dẫn dụ. Rủi thay, thật quá dễ dàng để khuyến dụ một người  trung b́nh chưa có bản lĩnh trong  bước đầu,  nhưng  lại hoàn  toàn xứng đáng để nhận lănh một sự mặc khải đặc biệt ( tức quyền năng ) , thậm chí các bạn thân của  y đến lúc ấy cũng bị mù quáng hoặc thiên kiến đă đánh giá y một cách sai lầm.

Một mối nguy hiểm thứ hai có thể là lớn lao hơn cả, v́ nó gây ra tất cả những mối nguy hiểm khác,  đó là sự thiếu hiểu biết. Nếu nhà thần nhăn biết chút ít về đối tượng của y, nếu y hiểu một phần  nào về  những trạng  thái đặc  biệt của những cơi khác mà nhăn quan y hiện xâm nhập đến, th́ dù sao y có thể tưởng rằng y là người duy nhất đạt được đối  tượng ấy, như một đặc ân, và thầm nói một cách tự hào rằng y không thể lầm lạc. Nhưng nếu y cũng  như nhiều  người khác, hoàn toàn thiếu kinh nghiệm, thiếu hiểu  biết về những hoàn cảnh đặc biệt và mọi thứ khác, th́ trước hết y sẽ phạm từ lỗi lầm nầy đến lỗi lầm khác về những ǵ y thấy, rồi y sẽ làm mồi một cách dễ dàng cho tất  cả những  loại thực  thể tinh  quái hay lừa gạt trên cơi Trung Giới. Y không có một tiêu chuẩn nào để xét đoán những ǵ y thấy hoặc tưởng đă thấy, không có cách nào để kiểm nghiệm những sự mục kích hay liên lạc của y, do đó không một cảm thức nào của y được hợp lư hoặc vững vàng ; rồi một câu châm ngôn rút ra trong một quyển vở y phóng đại  (magnify ) thành một đoạn văn có tính  cách thiêng  liêng mà kỳ thực chỉ là một thông điệp thần linh tầm thường. Mặt khác, thiếu cả một kiến thức sơ đẳng về khoa học, y thường không hiểu những điều quan năng của y phân biệt được, do đó y phát biểu những ǵ y thấy thật  thiển  cận và phi  lư một  cách trầm trọng.

Mối nguy hiểm thứ ba là thiếu sự tinh khiết. Người nào mà tư tưởng, đời sống lẫn khuynh hướng đều tinh khiết và không vị kỷ sẽ được an toàn trước ảnh hưởng của những thực thể bất hảo thuộc các cơi khác. Y không có ǵ để chúng bám víu. Chúng không thể lợi dụng y được. Trái lại, tất cả ảnh hưởng tốt lành tự nhiên bao bọc người ấy ; chúng vội vàng sử dụng y như một vận hà cho sự hành động của chúng, điều nầy dựng lên chung  quanh y  một hàng rào mới ngăn cản  tất  cả những ǵ hèn hạ, thấp kém và tà vạy. Ngược lại, người nào đời sống hoặc bản tâm thiếu trong sạch sẽ không khỏi lôi cuốn tất cả những tinh linh xấu xa của thế giới vô h́nh đến gần chung quanh y ; y sẵn sàng đáp ứng lại chúng ; c̣n những sức mạnh tốt lành ít khi có thể gây một ảnh hưởng nhỏ nào đến y.

Nhưng một nhà thần nhăn ư thức đến tất cả những mối nguy hại nầy, y cố gắng tránh chúng, chịu khó nghiên cứu kinh nghiệm về thần nhăn lẫn sự phân tích hợp lư về khoa ấy, và kết hợp những động lực tinh khiết với tấm ḷng khiêm tốn - người như thế chắc chắn có thể thu hoạch được nhiều kiến thức, nhờ những quan năng vừa mới nảy sinh ở y và những lợi ích do chúng mang lại để giúp y hoàn thành nhiệm vụ.

Những phép thần thông được kể ra rất dài ḍng trong chương ba của bộ Yoga Sutras của Patanjali ; tác giả cho rằng chúng được hoạch đắc bằng năm cách - do bẩm sinh, do dùng thuốc mê, nhờ thần chú, nhờ sự khổ luyện và nhờ đại định.

Chúng ta sinh ra trong thể xác nầy hoặc  thể xác  khác ;nó là kết quả những hành động của chúng  ta trong  nhiều kiếp trước, và nếu thiên nhiên ban cho chúng ta các quyền năng tâm linh, th́ chúng ta có thể chắc chắn rằng  ḿnh đă  t́m các hoạch đắc nó bằng cách nào đó trong các kiếp trước. Ngày nay, nhiều nhà thần nhăn có quan năng được khai mở một cách dễ dàng mà không trùng hợp với một sự tiến hóa cao về tinh thần, chính trong kiếp trước họ đă có kinh nghiệm ấy, như các Nữ Vu ( Vestates - thiếu nữ giữ đền thờ lửa ) ở Hy Lạp và La Mă, những nhà Yogi Ấn Độ kém tiến hóa hoặc những nhà"phù thủy trị bệnh " trong các bộ lạc bán khai khác nhau, và sau cùng những nhà " nữ tiên tri " của thời trung cổ ;  về vấn  đề nầy luôn luôn có một sự phức tạp thật lớn lao.

Những ǵ xảy ra cho các nhà thần nhăn nầy, chiều hướng về đời sống tinh thần của họ sẽ ra sao, tất cả những  điều ấy một phần lớn tùy thuộc  vào những người mà nghiệp quả tạo nên sự liên lạc với họ. Nếu nghiệp quả đó khá tốt, họ sẽ gặp được Thông Thiên Học, họ sẽ có dịp thu hoạch vài khái niệm liên quan đến những quyền năng đă nảy sinh và tiếp thu được một sự huấn luyện trong trường Bí Giáo về tính chất của những đức tính sơ khởi, sự tinh khiết về thể chất và đời sống thấm nhuần từ điện đă được quy định cho mọi nhà huyền bí học chân chánh.  Như  thế, sau đó không bao lâu họ có thể khai mở những quan năng tâm linh một cách an toàn và sẽ giúp đỡ thật đắc lực cho nhân loại.

Đằng khác, nếu họ làm quen với Thần linh học, họ sẽ hoàn toàn dấn thân vào một chiều hướng khác thường dắt họ  vào con đường đồng cốt tiêu cực, nghĩa là trái hẳn với mục  đích của chúng ta.

Nhiều người muốn  theo khoa huyền bí học giả hiệu để luyện phép thần thông hầu thỏa măn tham vọng cá nhân của họ, đó là con đường mang lại những sự nguy hiểm ngặt nghèo. Khi th́ họ tự đặt ḿnh vào một t́nh trạng thụ động và mời gọi những thực thể vô danh thuộc cơi Trung Giới đến xâm chiếm hào quang hoặc các cơ quan của họ để sử dụng chúng ; khi th́ họ dấn thân vào những phương pháp luyện tập Hatha- Yoga ( phần chính gồm trong phép luyện khí công ) mà rủi thay, đă được phổ biến nhiều trong thế giới Tây phương từ ba chục năm nay. Sự tập luyện nầy thường gây ra sự rối loạn trầm trọng về tinh thần và thể chất. C̣n nếu tiếp xúc được với thế giới nội tâm, th́ họ chỉ vượt qua các cảnh thấp của cơi Trung Giới  là cao nhất, mà ở đây người ta không thể chờ đợi một ảnh  hưởng xây dựng nào.

Về phương pháp thứ hai hay cách dùng thuốc, trong quyển giảng lư của bộ Yoga Sutras, có một ghi chú của Đức Vyasa cho rằng những hạng người A-tu- la ( Asuras )  hay dùng  đến cách nầy để đánh thức những quan năng thần thông. Hạng người A-tu­-la trái với hạng người Tu-la ( Suras ) và người ta có thể gọi một cách gần đúng họ là hạng người vô tín ngưỡng ; hạng Tu-la ( Suras ) là những người sống gần Thần Thánh ; họ  làm việc cho cơ tiến hóa Trời định.

Patanjali khuyên chúng ta không nên theo phương pháp nầy, Ngài chỉ kê ra những phương cách có thể đạt được phép thần thông. Nghiên cứu bộ Yoga Sutras, người ta nhận thấy Ngài chỉ thừa nhận phương pháp chót trong năm phương pháp kể trên  - đó là phương cách căn cứ trên sự đại định  (samadhi ).

Chúng ta có thể hiểu một phần nào  tác  dụng  của  thuốc trên thể xác khi nó được dùng để đánh thức những quan năng tâm linh, nếu chúng ta nhớ lại rằng ở giống dân chánh thứ tư thần nhăn được khai mở do hệ thống giao cảm thần kinh rất phổ biến. Trong thời kỳ đó lớp vỏ Thể Vía chưa được tổ chức hoàn bị để dùng như một thể hay một phương tiện để ư thức, đáp ứng một cách tổng quát với cảm giác do những vật trong  cơi Trung Giới gây ra. Các ấn tượng phản chiếu  lại trong  những trung tâm giao cảm của xác thịt đến nỗi trong thể  xác ư  thức nhận được cùng một lúc những ấn tượng thuộc cơi Trung  Giới và hồng trần thường không thể phân biệt giữa hai loại ấy. Nói cho đúng, trong buổi đầu của giống dân nầy và giống Lemurian hoạt động của hệ giao cảm thần kinh  mạnh mẽ hơn hệ năo tủy rất nhiều. Do đó những kinh nghiệm thuộc về cơi Trung Giới đóng một vai tṛ lớn lao hơn những kinh nghiệm ở cơi trần. Nhưng từ đó hệ năo tủy trở nên cơ cấu ư thức mạnh  nhất trong thể xác ; do đó con người xoay dần  dần sự  chú ư đến những kinh nghiệm ở cơi trần, chúng đă cảm nhiễm y càng lúc càng gia tăng một cách sâu sắc. Sau cùng, v́ lư do đó, hệ giao cảm thần kinh đă ngưng dần việc giữ vai tṛ trung gian  của những ấn tượng thuở trước ; vai tṛ hiện tại của nó là không can thiệp bằng ư chí, đảm nhiệm nhiều chức vụ của các cơ  quan mà con người không cần chú ư đến nữa, sự sinh hoạt của nó thuộc về tinh thần, cảm xúc và tâm linh hơn là vật chất.

Vậy sự dùng thuốc chứng tỏ hai điều bất lợi : không những nó gây rối loạn cho các cơ năng b́nh thường của cơ thể và đem hệ giao cảm thần kinh lại một ưu thế không cần thiết, mà đứng trên phương diện hoạch đắc quyền năng tâm linh nó c̣n đánh thức hệ thần kinh nầy ( hệ giao cảm )  và làm cho nó ư thức tại cơi hồng trần một lần nữa khả năng ghi nhận những ấn tượng đến từ cơi Trung Giới. Những ấn tượng nầy thường đến từ các cảnh thấp của cơi Trung Giới, mới quy tụ mọi khí thể của cơi ấy và mọi loài tinh hoa có vai tṛ kích thích t́nh dục và những ham muốn thấp hèn. Đôi khi chúng đến từ những vùng hơi cao hơn của thú vui xác thịt, như  những lạc  thú được  mô tả trong quyển tiểu thuyết nổi tiếng của Dumas có nhan đề là Monte Cristo hoặc trong " Lời thú tội của một người ghiền á phiện " của Quincy ; tuy nhiên ở đây ít  thấy chúng  hơn ở những nơi khác.

Tất cả điều nầy trái với cơ tiến hóa được quy định cho nhân loại. Mỗi người đều có thể hoạch đắc thần nhăn  và những linh năng tương tợ khác, nhưng không phải bằng cách đó. Trước hết chúng ta phải phát triển Thể Vía và Thể Trí hầu có thể sử dụng chúng làm vận cụ ư thức trên những  cơi  tương ứng.  Sau đó chúng ta có thể đánh thức những Luân  Xa  ( the chakras) của cái Phách. Các Luân Xa nầy sẽ giúp cho việc truyền những kiến thức quư báu thu hoạch được nhờ các thể cao ấy xuống tâm thức thuộc cơi trần. Nhưng tất cả những điều nầy phải thực hiện đúng lúc và theo cách chỉ dạy của Đức Thầy. Bạn hăy nhớ đến đoạn của vị Huấn Sư nói như sau đây trong  quyển Dưới Chơn Thầy :  "Đừng ham muốn những phép thần thông ".

Phương pháp thứ ba nhằm sử  dụng những  câu thần  chú   (mantras ). Danh từ nầy áp dụng cho vài công thức có quyền năng được dùng trong lúc tham thiền hay trong những nghi thức tế lễ và thường được lập đi lập lại không ngừng. Người ta nhận thấy chúng trong những nghi lễ Thiên Chúa Giáo cũng như ở Đông phương, như chúng tôi đă giải thích trong quyển Khoa Thánh Lễ ( The Science of Sacraments ). Vậy nhiều tôn giáo đă sử dụng vài âm thanh và kết hợp chúng với những h́nh ảnh, biểu tượng, kư hiệu và những điệu bộ, có khi với những vũ điệu.

Phương pháp thứ tư là lối tu  khổ  hạnh. Danh  từ  Tapas thường được kết hợp với sự  khổ hạnh tột cùng, có thể thấy ngay trong những sự kiện con người tự hành hạ ḿnh, chẳng hạn như đưa một cánh tay lên cho đến khô khan, hoặc nằm dài trên bàn chông nhọn. Những sự thực hành nầy chắc chắn mở mang ư chí, nhưng người ta có thể đạt  được kết  quả ấy  bằng những phương pháp khác tốt đẹp hơn.  Những phương pháp Hatha Yoga vấp phải sự bất lợi lớn lao là ngăn cản việc dùng xác thân để phụng sự nhân loại, mà đối với công nghiệp của Chơn  Sư không có việc ǵ quan trọng hơn. Ư chí vẫn có thể phát  triển tốt đẹp bằng cách đương đầu với những sự khó khăn của đời sống do thiên nhiên và nghiệp