|
|
HOME sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 BOOKS MAGAZINES
|
|
THIÊN CHỨC (DHARMA) Tác giả Annie Besant
|
|
Ba bài thuyết tŕnh tại Hội đồng thường niên lần thứ 8
của Chi bộ Ấn Độ thuộc Hội Thông Thiên Học
được tổ chức tại Varanasi (Benares) ngày 25, 26 và 27 năm 1898
NHÀ XUẤT BẢN THÔNG THIÊN HỌC
Adyar, 1918
Ấn bản lần thứ tư
ADYAR, MADRAS 600 020, Ấn Độ
MỤC LỤC
Những Điều Dị Biệt
Sự Tiến Hóa
Đúng và Sai
NHỮNG ĐIỀU DỊ BIỆT
Khi các quốc gia trên trái đất, được biệt phái hết quốc gia này đến quốc gia khác, th́ Thượng Đế có ban cho mỗi quốc gia một từ ngữ đặc biệt, từ ngữ mà mỗi quốc gia phải tuyên cáo với thế giới, từ ngữ đặc thù của phần Vĩnh hằng mà mỗi người cần nói tới. Khi ta liếc nh́n qua lịch sử các quốc gia th́ ta có thể nghe vang dội từ cửa miệng tập thể của nhân dân thốt lên từ ngữ này, thể hiện ra thành hành động tức là sự đóng góp của quốc gia đó cho nhân loại lư tưởng và hoàn hảo. Đối với Ai Cập thời xưa từ ngữ đó là Tôn giáo; đối với Ba Tư từ ngữ đó là Thanh khiết; đối với Chaldea từ ngữ đó là Khoa học; đối với Hi Lạp từ ngữ đó là Mỹ lệ; đối với La Mă từ ngữ đó là Luật lệ, c̣n đối với Ấn Độ là đứa con trưởng của ngài th́ ngài ban cho Ấn Độ một từ ngữ được tổng kết hết lại là từ ngữ Dharma (Thiên chức). Đây là từ ngữ của Ấn Độ dành cho thế giới.
Nhưng ta không thể nói tới từ ngữ này (nó quá nhiều ư nghĩa và có sức mạnh vươn ra xa rộng khắp) mà không cúi đầu dưới chân Đấng vốn là hiện thân vĩ đại nhất của Dharma mà thế giới đă từng chứng kiến – ta phải cúi đầu trước Bhishma, con trai của Ganga, là hiện thân hùng dũng nhất của Bổn phận. Bạn hăy cùng tôi dành ra một lúc để đi ngược lại 5.000 năm trước chứng kiến vị anh hùng này nằm trên chiếc giường làm bằng những mũi tên trên chiến trường Kurukshetra, ở đó ngài cầm cự với Tử thần cho đến khi đúng giờ đă điểm. Chúng ta phải vượt qua hàng chồng những chiến sĩ tử vong, vượt qua hàng núi những con voi và những con ngựa chết trận, và chúng ta cũng phải vượt qua nhiều giàn hỏa táng, nhiều chồng vũ khí và chiến xa bị tan nát. Ta đến với người anh hùng đang nằm trên chiếc giường làm bằng mũi tên bị hàng trăm mũi tên đâm xuyên qua người và đầu ngài gối trên một cái gối làm bằng những mũi tên. Đó là v́ ngài đă bác bỏ những cái gối mềm mại mà người ta đem đến cho ḿnh và chỉ chấp nhận cái gối bằng mũi tên do Arjuna làm ra. Ngài vốn hoàn hảo về Dharma v́ trong khi c̣n tuổi thanh xuân, v́ ích lợi của cha ḿnh, v́ bổn phận mà ngài phải góp phần cho cha, v́ t́nh thương của ngài đối với cha cho nên ngài đă phát lời đại nguyện từ bỏ cuộc sống gia đ́nh, từ bỏ ngai vàng vương miện để cho ư chí của cha ngài được thực hiện và tâm tư của cha ngài được hài ḷng. Và Shantanu có ban phúc cho ngài với một ân huệ kỳ diệu theo đó Thần Chết chỉ được đến với ngài theo lệnh của chính ngài, chừng nào ngài muốn chết. Khi ngài ngă xuống và bị hàng trăm mũi tên xuyên qua người th́ mặt trời c̣n đang du hành về phương nam cho nên chưa tới mùa thuận lợi để Đấng không c̣n phải trở lại nữa giả từ cuộc đời. Ngài dùng quyền năng mà cha ḿnh ban cho để khiến Thần Chết phải dang ra một bên cho đến khi mặt trời mở ra con đường đi tới sự giải thoát và an b́nh vĩnh hằng. Khi ngài nằm đó trong nhiều ngày mệt mỏi tàn tạ v́ những sự nhức nhối của các vết thương, bị hành hạ bởi cơn oằn oại của cái thể xác tơi tả mà ngài đă khoác lấy th́ có nhiều bậc Hiền triết, nhiều người kế thừa các vị thánh vương Aryan đến vây quanh ngài, đấng Shri Krishna cũng đến để gặp kẻ trung kiên. Năm ông hoàng là con của Pandu, những người chiến thắng trong cuộc chiến tranh hào hùng cũng đến đó, họ đứng xung quanh ngài khóc lóc để sùng bái ngài và mong được ngài dạy dỗ. Giữa cơn đau khổ cay đắng ấy vang lên những lời lẽ từ Đấng vốn là phát ngôn của Thượng Đế dành cho ngài, đấng này giải thoát ngài khỏi cơn sốt hừng hực, mang lại cho cơ thể ngài sự yên nghỉ, tâm trí ngài sự trong sáng và chơn nhơn của ngài được tịch lặng. Thế rồi đấng đó ra lệnh cho ngài hăy dạy cho thế gian biết Dharma là ǵ: Trọn cuộc đời ngài đă dạy được điều đó, ngài không đi lệch ra khỏi con đường công chính, cho dù ở cương vị một người con, một ông hoàng, một chính khách, một chiến sĩ, ngài đều luôn luôn bước trên con đường hẹp. Những người xung quanh ngài thỉnh cầu ngài dạy dỗ, c̣n Vasudeva ra lệnh cho ngài hăy nói về Dharma v́ ngài đủ tư cách để giảng dạy về Dharma (Mahabharata, Shanti Parva, tiết 54).
Thế rồi vây chặt xung quanh ngài là các con của Pandu, đứng đầu là người lớn tuổi nhất, Yudhishthira, y cầm đầu tập đoàn đă giết hại Bhishma; y không dám đến gần và nêu thắc mắc v́ nghĩ rằng những mũi tên thật sự là của ḿnh được bắn ra, v́ chính nghĩa của ḿnh cho nên y mắc tội làm đổ máu bậc trưởng thượng và y không có quyền được thỉnh cầu dạy dỗ. Khi thấy y do dự, Bhishma vốn có tâm trí rất b́nh thản, thăng bằng và đă bước trên con đường bổn phận khó khăn, không nghiêng ngă sang bên trái hoặc bên phải, đă thốt lên những lời lẽ đáng ghi nhớ sau đây: “Cũng như bổn phận của giai cấp Brahmanas (Bà la môn) cốt ở việc thực hành từ thiện, tu học và sám hối; cũng vậy bổn phận của giai cấp Kshattriyas (Sát đế lị) là bỏ thây nơi chiến trường. Một người Kshattriya ắt giết cha ông, cửu huyền thất tổ của ḿnh, huynh đệ, gia sư, thân bằng quyến thuộc của ḿnh đă lôi kéo ḿnh vào cuộc chiến tranh phi nghĩa. Đây là bổn phận công khai của họ. Hỡi Keshava, nghe nói Kshattriya phải làm quen với bổn phận của ḿnh là ngay trên chến trường phải giết chết chính vị gia sư của ḿnh nếu vị đó tỏ ra có tội, tham lam, không chấp hành lời thệ nguyện và kỷ luật . . . Hỡi con trai của ta ơi, hăy hỏi ta đi chứ đừng lo sợ ǵ hết”. Thế rồi cũng giống như Vasudeva khi nói về Bhishma có mô tả quyền của Bhishma thuyết pháp trên cương vị một bậc đạo sư; cũng vậy đến lượt chính Bhishma khi ngỏ lời với các ông hoàng cũng mô tả những đức tính cần thiết nơi những người nêu thắc mắc về vấn đề Dharma (Thiên chức):
“Hỡi các con của Pandu, vốn có sự thông minh, tự chủ, trinh khiết, tha thứ, công chính, sung sức và đầy năng lượng về trí tuệ, hăy đặt câu hỏi với ta đi. Hỡi con của Pandu mà luôn luôn làm tốt những chức vụ của ḿnh để vinh danh thân bằng quyến thuộc, khách khứa và những người hầu cận cùng với những người tùy thuộc vào ḿnh, hăy đặt câu hỏi với ta đi. Hỡi con của Pandu, vốn có ḷng ngay thật, ḷng từ thiện và sám hối, tư cách anh hùng, sự hiếu ḥa, sự khôn khéo và sự vô úy, hăy đặt câu hỏi với ta đi” (Như trên, tiết 54).
Đó là một số đặc trưng của người nào muốn t́m hiểu về những bí nhiệm của Dharma. Đó là những đức tính mà bạn và tôi phải cố gắng phát triển nếu chúng ta muốn hiểu được giáo huấn này và xứng đáng để t́m hiểu nó.
Thế rồi bắt đầu bài thuyết pháp kỳ diệu vô song trong số các bài thuyết pháp trên thế gian. Nó bàn về bổn phận của các vị vua và thần dân, bổn phận của bốn ḍng dơi, của bốn lối sống, bổn phận của mỗi loại người, các bổn phận này khác nhau và thích hợp với mọi giai đoạn tiến hóa. Mỗi người trong các bạn phải biết cái bài thuyết pháp cao cả ấy, phải nghiên cứu nó không phải chẳng những v́ nó rất hay về mặt văn chương mà c̣n cao quí về mặt đạo đức. Nếu ta theo được con đường mà Bhishma đă dấn thân trên đó th́ một cuộc tiến hóa của ta sẽ nhanh hơn và ngày cứu rỗi Ấn Độ ắt gần ló dạng.
Xét về mặt đạo đức – đề tài này có liên quan mật thiết với Dharma, và ta không thể hiểu được đạo đức nếu không biết Dharma là ǵ – một số người nghĩ rằng đạo đức là chuyện đơn giản. Nói đại khái th́ đúng là như thế. Ranh giới giữa đúng và sai nơi các hành động thông thường trong cuộc sống thật là rơ ràng, đơn giản và xác định. Đó là v́ một người không phát triển được nhiều, một người có trí tuệ hẹp ḥi, một người có kiến thức hạn hẹp th́ thấy đạo đức dường như khá đơn giản. Nhưng đối với người có hiểu biết sâu sắc và rất thông minh, đối với những người đang tiến hóa hướng về các cấp cao của nhân loại, đối với những người muốn hiểu được các bí nhiệm của nó, th́ đạo đức rất khó hiểu. Ông hoàng Yudhishthira có nói “Đạo đức rất tế nhị” khi ông bàn về vấn đề cuộc hôn nhân của Draupadi với năm đứa con của Pandu. Và một Đấng c̣n cao cả hơn ông hoàng đó nữa cũng nói tới điều khó khăn này, đấng Hóa thân, Shri Krishna trong bài thuyết pháp trên chiến trường Kurukshetra cũng nói tới chính cái vấn đề này khiến ta thật khó hành động. Ngài dạy: “Hành động là ǵ, c̣n không hành động là ǵ? Ngay cả người minh triết cũng phân vân về điều này. Cần phải phân biệt được hành động, phân biệt hành động bất hợp pháp, phân biệt được sự không hành động th́ mới thấy con đường hành động bí nhiệm xiết bao” (Chí Tôn Ca, iv, 16-17).
Con đường hành động thật là bí nhiệm; bí nhiệm v́ không giống như kẻ ngớ ngẩn thường nghĩ, đạo đức không phải là giống như nhau đối với mọi người bởi v́ nó biến thiên theo Thiên chức của mỗi cá nhân. Điều đúng với người này th́ lại sai với người khác. C̣n điều sai với người này lại đúng với người khác. Đạo đức là một chuyện cá nhân và nó tùy thuộc vào Thiên chức của người đang hành động chứ không tùy thuộc vào điều đôi khi được gọi là “đúng và sai tuyệt đối”. Trong một vũ trụ có điều kiện th́ chẳng có ǵ là tuyệt đối. Đúng và sai cũng chỉ tương đối thôi và phải được xét đoán liên quan tới cá nhân và các bổn phận của y. Bậc đạo sư vĩ đại nhất đă dạy như sau về Dharma – và điều này sẽ chỉ đường dẫn lối cho ta trên con đường ngoằn ngoèo rối rắm – “Chẳng thà làm tṛn Thiên chức của ḿnh mặc dù nó chẳng có công trạng ǵ c̣n hơn làm tṛn bổn phận của người khác. Chẳng thà Chết khi thực thi Thiên chức của chính ḿnh c̣n hơn Chết khi thực thi Thiên chức đầy nguy hiểm của người khác” (Như trên, IV, 35).
Ngài cũng lập lại tư tưởng đó ở cuối bài thuyết pháp bất tử và ngài đă dạy nhưng mà có thay đổi một chút để soi sáng cũng cho vấn đề này: “Chẳng thà làm tṛn Thiên chức của chính ḿnh mặc dù nó chẳng có công trạng ǵ hết c̣n hơn làm tṛn Thiên chức của người khác. Kẻ nào thực hiện Nghiệp quả mà bản chất ḿnh gây ra ắt sẽ không mắc tội”. (Như trên, xviii, 47). Ở đây ngài đă xiển dương trọn vẹn thêm nữa giáo huấn của ḿnh rồi ngài vạch ra cho chúng ta từng Thiên chức một của bốn giai cấp lớn, chính lời lẽ của ngài sử dụng, cho ta thấy ư nghĩa của từ Dharma đôi khi được dịch là Bổn phận, đôi khi là Luật lệ, đôi khi là Công chính, đôi khi là Tôn giáo. Nó có nghĩa là tất cả những thứ này và c̣n nhiều hơn thế nữa v́ ư nghĩa của nó vốn sâu sắc và rộng lớn hơn bất kỳ ư nghĩa nào mà từ ngữ ấy diễn tả được. Ta hăy nghe Đấng Shri Krishna dạy về Dharma của bốn giai cấp: “Hỡi Parantapa, Nghiệp quả của giai cấp Brahmanas, Kshattriyas, Vaishyas và Shudras đă được phân bổ theo những gunas nảy sinh từ bản chất của chính chúng. Thanh thản, tự chủ, khổ hạnh, thanh khiết, tha thứ và cũng trung thực, minh triết, hiểu biết, tin tưởng nơi Thượng Đế là Nghiệp quả của giai cấp Brahmanas sinh ra do chính bản chất của y. Dũng cảm, hào hùng, kiên cường, khôn khéo và cũng không đào ngũ khỏi chiến trường, rộng lượng, có bản chất biết cai trị là Nghiệp quả của giai cấp Kshattriyas được sinh ra do chính bản chất của y. Cày sâu cuốc bẩm, chăn nuôi trâu ḅ, buôn bán tần tảo đó là Nghiệp quả của giai cấp Vaishyas sinh ra do bản chất của chính y. Hành động với bản chất phục vụ là Nghệp quả của giai cấp Shudras sinh ra do bản chất của chính y. Con người đạt được sự hoàn hảo khi mỗi người miệt mài với Nghiệp quả của chính ḿnh”.
Thế rồi ngài dạy tiếp: “Chẳng thà làm tṛn Thiên chức của chính ḿnh mặc dù chẳng được công trạng ǵ hết c̣n hơn làm tṛn Thiên chức của người khác. Kẻ nào thực thi Nghiệp quả sinh ra do bản chất của chính ḿnh ắt không mắc tội”.
Ta hăy xem hai từ ngữ Thiên chức và Nghiệp quả được hoán chuyển với nhau như thế nào. Chúng cung cấp cho ta ch́a khóa mở khóa được bài toán của ḿnh. Trước hết tôi xin cung cấp cho bạn định nghĩa một phần về Dharma. Tôi không thể đưa ra trọn cả định nghĩa rơ ràng ngay tức khắc. Tôi sẽ cung cấp cho bạn một nửa đầu tiên của nó và sẽ bàn tới nửa thứ nh́ khi đúng lúc. Một nửa đầu tiên là: “Dharma là bản chất nội tâm nơi mỗi người vốn đă đạt tới một tŕnh độ phát triển và bộc lộ nào đó”. Chính bản chất nội tâm này uốn nắn sinh hoạt nơi ngoại giới được biểu hiện qua các tư tưởng, lời lẽ và hành động, bản chất nội tâm này sinh ra trong một môi trường xung quanh thích hợp để cho nó tăng trưởng thêm nữa. Ư tưởng đầu tiên mà ta cần lĩnh hội đó là: Dharma không phải là một điều thuộc ngoại giới giống như luật lệ, hoặc sự công chính, hoặc tôn giáo, hoặc sự công b́nh. Đó là định luật của sự sống đang triển khai ra, nó uốn nắn mọi thứ bên ngoài ḿnh sao cho biểu diễn được chính ḿnh. Thế mà khi cố gắng vạch ra đề tài khó hiểu và bí hiểm này, tôi xin bàn tới nó qua ba phần chính. Phần thứ nhất là những điều dị biệt, tức là người ta có những Dharma khác nhau. Ngay cả trong đoạn mà ta vừa trích dẫn cũng có đề cập tới bốn giai cấp lớn. Khi khảo sát kỹ lưỡng hơn nữa ta thấy mỗi cá nhân đều có Dharma của riêng ḿnh. Làm thế nào mà ta hiểu được những điều này? Nếu ta không hiểu được một điều ǵ đó về bản chất của sự khác nhau; tại sao lại có những sự khác nhau; tại sao cần có những sự khác nhau ấy và tôi ngụ ư muốn nói ǵ khi nói về những điều dị biệt; nếu chúng ta không hiểu được con người phô trương tŕnh độ mà ḿnh đạt tới qua những lời lẽ, tư tưởng và hành động ra sao, nếu chúng ta không lĩnh hội được điều này th́ chúng ta không thể hiểu Dharma là ǵ. Cuối cùng là chúng ta phải bàn tới vấn đề Đúng và Sai, v́ trọn cả công tŕnh nghiên cứu của ta ắt đưa tới lời giải đáp cho thắc mắc: “Con người ứng xử trên đời này như thế nào?” Tôi sẽ chẳng hoài công yêu cầu bạn phải nghe theo ḿnh, dẫn dắt bạn vào những vùng tư tưởng khó hiểu nếu cuối cùng chúng ta không vận dụng tốt được sự hiểu biết của ḿnh để cố gắng sống cuộc đời theo Dharma; nhờ vậy phô trương ra cho thế gian điều mà Ấn Độ có sứ mệnh giáo huấn.
Sự hoàn hảo của một Vũ trụ cốt ở điều ǵ? Khi chúng ta bắt đầu nghĩ tới một vũ trụ và ngụ ư của nó, th́ chúng ta thấy ḿnh ngụ ư đó là một số lớn những sự vật riêng lẻ cùng nhau tác động một cách ít nhiều hài ḥa. Sự đa dạng là nốt chủ âm của vũ trụ, cũng giống như sự đơn nhất là nốt nhạc của cơi Vô hiện, cơi Vô điều kiện, Đấng Độc nhất vô nhị. C̣n tính phồn tạp là nốt nhạc của cơi biểu hiện và cơi có điều kiện, là kết quả của ư chí trở nên đa dạng.
Ta học biết được rằng khi một Vũ trụ bước vào tồn tại th́ Nguyên Nhân Đầu Tiên, Đấng Vĩnh Hằng, Đấng Bất Khả Tư Nghị, Đấng Không Phân Biệt Được, Đấng Tế Vi tỏa sáng ra bằng ư chí của chính ḿnh. Chẳng ai dám phỏng đoán bên trong bản thân ngài th́ cái sự tỏa sáng đó có nghĩa là ǵ. C̣n ở bên phía mà từ đó ta nh́n vào ngài th́ ta có thể lĩnh hội được một phần nào sự tỏa sáng ấy có nghĩa là ǵ. Ishvara xuất hiện, nhưng khi xuất hiện ngài lại bị cuốn trong bức màn Hăo huyền Maya; có hai khía cạnh của Đấng Tối Cao biểu lộ ra cùng một lúc. Người ta đă dùng nhiều từ ngữ để diễn tả cái cặp đối đăi căn bản này: Ishvara và Maya, Sat và Asat, Thực tại và Phi Thực tại, Tinh thần và Vật chất, Sự sống và H́nh tướng. Đây là những từ ngữ mà v́ ngôn ngữ c̣n hạn hẹp cho nên chúng tôi dùng nó để diễn tả điều rơ ràng là không thể nghĩ bàn được. Chúng ta chỉ có thể nói về những điều đó như sau: “Các bậc Thánh hiền đă dạy chúng ta như thế và chúng ta cũng khiêm tốn lập lại như vậy”.
Ishvara và Maya. Vũ trụ đối với ngài là cái ǵ vậy? Đó là h́nh ảnh của Ishvara được phản chiếu nơi Maya; là h́nh ảnh toàn bích của Ishvara v́ ngài đă tự nguyện chế định bản thân cho cái vũ trụ đặc thù vốn đă tới giờ khai sinh ra nó. H́nh ảnh của ngài vốn hạn hẹp và bị chế định. H́nh ảnh do tự ngài chế định tức là cái vũ trụ ấy thật là hoàn hảo cần phải được công khai ra. Nhưng tại sao nó lại bị hạn hẹp, cái h́nh ảnh một phần đó của Ishvara? Do có vô vàn bộ phận cùng nhau hoạt động trong một tổng thể hài ḥa, do có hằng hà sa số những điều dị biệt và vô số tổ hợp của mỗi thứ với nhau cho nên đâu có thế nào lột tả được cái định luật của tư tưởng thiêng liêng nếu trọn cả tư tưởng ấy không được biểu diễn qua toàn thể cái Vũ trụ toàn bích ấy. Bạn phải cố thoáng nh́n thấy được điều đó ngụ ư nói ǵ. Ta hăy cùng nhau t́m hiểu.
Đấng Ishvara nghĩ tới sự Mỹ lệ; ngay tức khắc năng lượng hùng mạnh của ngài vốn toàn năng và có tính sinh sôi nảy nở bèn tác động lên Maya, phát triển nó thành ra thiên h́nh vạn trạng những sự vật mà ta gọi là mỹ miều. Nó tiếp xúc với cái vật chất đă sẵn sàng được uốn nắn rồi chẳng hạn như nước, và nước khoác lấy cả triệu h́nh tướng Đẹp đẽ. Ta thấy một dạng đẹp đẽ nơi cái khoảng mênh mông của đại dương tịch lặng và im ĺm khi không có gió thổi, và khi bầu trời được phản chiếu xuống ḷng đại dương sâu thẳm. Thế rồi ta lại có một dạng Mỹ lệ khác khi gió quật vào nó tạo ra những cơn sóng lớn, hết vực thẳm này dưới vực thẳm kia cho tới khi trọn cả khối có sự cuồng nộ và vĩ đại khủng khiếp. Thế rồi lại có một dạng Mỹ lệ nữa, khi nước sôi sụt sủi bọt trở nên êm ả và đại dương biến thành vô số đợt sóng lăn tăn sáng lấp lánh dưới ánh trăng soi bên trên; các tia sáng của mặt trăng vỡ ra uốn thành hàng ngàn tia lóng lánh. Và điều này lại cho ta thấy một lời bóng gió xem Mỹ lệ nghĩa là ǵ. Thế rồi ta lại nh́n thấy đại dương khi không có vùng đất nào giới hạn đường chân trời của nó, khi khoảng mênh mông rộng lớn không bị cắt đứt và ta lại đứng trên bờ biển nh́n sóng vỗ dưới chân ḿnh. Mỗi khi biển thay đổi trạng thái th́ nước của nó lại nói lên một tư tưởng mới về sự Mỹ lệ. Ta lại thoáng thấy được thêm một tư tưởng về Mỹ lệ đối với nước khi ta thấy một cái hồ trên vùng núi mà đáy hồ tịch lặng vẫn im ĺm và thanh thản; ta cũng thấy ḍng suối nhảy từ tảng đá này sang tảng đá khác; thác nước phun ra thành hàng triệu tia nước bắt lấy ánh mặt trời và phản chiếu thành ra đủ mọi màu sắc của cầu vồng. Như vậy xuất phát từ nước dưới mọi h́nh thái và h́nh dạng, từ đại dương sóng nhồi cho tới tảng băng hà lạnh lẽo, từ hơi sương mù lờ mờ cho tới đám mây màu sắc rực rỡ có tỏa ra tư tưởng về Mỹ lệ mà đấng Ishvara đă ghi dấu lên đó khi ngài thốt ra từ ngữ ấy. Khi chúng ta không xét tới nước nữa th́ chúng ta lại học được những tư tưởng mới về vẻ đẹp nơi cây leo mềm mại, nơi khối màu sắc chói lọi, nơi cái cây vững vàng hơn và cây sồi tráng kiện hơn cùng với sự âm u của rừng thẳm. Những tư tưởng mới về Mỹ lệ cũng đến với ta từ bề mặt của mọi đỉnh núi, từ cánh đồng rộng cuồn cuộn nơi mà đất dường như bung ra thành những khả năng mới của sự sống, từ cát sa mạc, từ màu xanh tươi của cánh đồng cỏ. Nếu chúng ta đă chán ngán với trái đất này rồi th́ kính viễn vọng sẽ cho ta thấy được sự Mỹ lệ của vô vàn mặt trời lao vút qua cuồn cuộn trong những chiều sâu thẳm không gian. Thế rồi kính hiển vi sẽ tiết lộ cho cặp mắt ngất ngây của ta vẻ Mỹ lệ của những ǵ vô cùng nhỏ cũng như kính viễn vọng cho ta thấy vẻ Mỹ lệ của những ǵ vô cùng lớn, và thế là một cánh cửa mới lại mở ra cho ta chiêm ngưỡng vẻ Mỹ lệ. Xung quanh ta có hàng ngàn hàng triệu vật đều đẹp đẽ như thế. Từ vẻ mỹ miều của con thú, từ sức mạnh của người đàn ông, từ vẻ duyên dáng dịu dàng của người đàn bà, từ những má lúm đồng tiền của trẻ thơ đang cười ngặt nghẽo; từ mọi thứ đó ta đều thoáng thấy được tư tưởng về sự Mỹ lệ trong trí tuệ của Ishvara.
Bằng cách này ta có thể cảm nhận được một điều ǵ đó về cách thức mà tư tưởng ngài bung ra thành thiên h́nh vạn trạng những điều rực rỡ khi ngài thốt ra từ ngữ Mỹ lệ cho thế gian. Trường hợp Sức mạnh, Năng lượng, sự Hài ḥa, Âm nhạc v.v. . . cũng giống như vậy. Do đó bạn ắt hiểu được tại sao phải có sự đa dạng v́ không có một sự vật hạn hẹp nào có thể lột tả trọn vẹn được ngài, v́ không một h́nh tướng hạn hẹp nào có thể diễn tả trọn vẹn được ngài. Nhưng khi mỗi thứ trở nên hoàn hảo theo loại của ḿnh th́ tất cả mọi thứ phối hợp lại có thể phần nào bộc lộ được ngài. Như vậy sự toàn bích của Vũ trụ là sự hoàn hảo qua sự đa dạng và qua sự hài ḥa của các bộ phận tương quan.
Sau khi đă đạt tới quan niệm đó, ta bắt đầu thấy rằng Vũ trụ chỉ có thể đạt được sự toàn bích do mỗi bộ phận của nó hoàn thành chức năng của ḿnh và triển khai hoàn chỉnh phần chia xẻ của ḿnh trong cuộc sống. Nếu cái cây cố gắng bắt chước ngọn núi hoặc nước bắt chước đất th́ mỗi thứ đều mất đi vẻ đẹp của riêng ḿnh mà lại cũng không bộc lộ được vẻ đẹp của cái khác. Sự hoàn hảo của cơ thể không tùy thuộc vào việc mỗi tế bào làm công việc của tế bào khác mà tùy thuộc vào việc mỗi tế bào làm phần việc của chính ḿnh một cách hoàn hảo. Chúng ta có bộ óc, phổi, tim, cơ quan tiêu hóa v.v. . . nếu bộ óc cố gắng làm công việc của tim, và phổi cố gắng tiêu hóa thức ăn th́ cơ thể quả thật ở trong một t́nh trạng đáng buồn. Ta có được sức khỏe của cơ thể do mỗi cơ quan làm phần việc của riêng ḿnh. Như vậy ta nhận ra được rằng khi vũ trụ phát triển th́ mỗi bộ phận của nó đều đi theo con đường đă được vạch ra theo qui luật của chính sự sống của nó. H́nh ảnh của đấng Ishvara trong thiên nhiên sẽ chẳng bao giờ hoàn hảo chừng nào mỗi bộ phận bản thân nó c̣n chưa hoàn chỉnh và chưa có quan hệ tốt đẹp với những bộ phận khác.
Vô số sự dị biệt này nảy sinh ra như thế nào? Làm thế nào mà mọi sự khác nhau ấy lại có thể tồn tại được? Khi Vũ trụ tiến hóa với vai tṛ một tổng thể, nó quan hệ ra sao với những bộ phận của ḿnh mà mỗi bộ phận lại tiến hóa theo đường lối riêng? Ta được cho biết rằng đấng Ishvara khi biểu hiện ở khía cạnh Prakriti th́ bộc lộ ra ba phẩm tính: Sattva, Rajas và Tamas. Không có một từ ngữ tiếng Anh nào tương đương hoặc có thể phiên dịch thỏa đáng những từ ngữ này. Tuy nhiên tôi có thể tạm thời dịch Tamas (Tịnh) là trơ ĺ, đặc tính cứ ́ ra không chuyển động mang lại sự ổn định; Rajas (Động) là tính chất có năng lượng và chuyển động, c̣n Sattva (Nhịp) có lẽ được biểu hiện hay nhất qua sự hài ḥa với tính chất mang lại sự vui sướng v́ mọi sự vui sướng đều bắt nguồn từ sự hài ḥa, bởi chỉ có sự hài ḥa mới mang lại cho ta sự vui sướng. Thế rồi ta lại học biết rằng ba gunas này bị biến đổi ra nữa theo bảy cách thức, có thể nói là bảy đường lối lớn mà vô số tổ hợp phải tiến hóa dọc theo đó. Mọi tôn giáo đều nói tới sự phân chia thất bội này, mọi tôn giáo đều tuyên cáo sự tồn tại của nó. Trong Ấn Độ giáo đó là ngũ đại (ngũ hành) và hai hành vượt trên nó nữa. Đây là bảy Purushas mà Đức Bàn Cổ có nói tới.
Ba gunas này tổ hợp lại, phân chia ra, sắp xếp lại thành bảy nhóm lớn. Từ đó xuất hiện vô số những sự vật qua đủ thứ các tổ hợp; nên nhớ rằng mỗi một phẩm tính này đều tham gia vào mỗi sự vật riêng lẻ với những tỉ lệ khác nhau biến đổi theo một trong bảy cách căn bản.
Từ sự dị biệt bản sơ này được kế thừa của một Vũ trụ trong quá khứ - v́ thế giới này có liên kết với thế giới kia và Vũ trụ này có liên kết với Vũ trụ kia – ta thấy rằng sự sống rớt vào vật chất lúc tuôn đổ xuống th́ nó bị phân chia, và chia nhỏ ra nữa cho tới khi đạt tới ngoại vi của ṿng tṛn hoành tráng th́ nó mới cuộn lại về chính ḿnh. Sự tiến hóa thăng thượng bắt đầu nơi bước ngoặc ấy khi làn sóng sinh hoạt khởi sự trở về với Ishvara. Giai đoạn trước đó là giai đoạn tiến hóa giáng hạ, trong đó sự sống bắt đầu dính mắc với vật chất; khi tiến hóa thăng thượng th́ nó triển khai những quyền năng mà nó hàm chứa. Ta có thể trích dẫn Đức Bàn Cổ khi ngài bảo rằng đấng Ishvara đặt hạt giống vào trong nước đầy quyền năng. Sự sống mà Ishvara cung cấp không phải là sự sống đă phát triển mà là sự sống có thể phát triển. Thoạt tiên mọi thứ đều tồn tại dưới dạng mầm mống. Cũng như cha mẹ cung cấp sự sống để sinh ra đứa con, cũng như mầm sống ấy được kiến tạo qua nhiều tổ hợp cho đến khi nó đạt tới mức sinh ra đời, rồi hết năm này sang năm khác, hết tuổi ấu thơ rồi đến tuổi thiếu nhi và tới tuổi người lớn cho đến lúc đă trưởng thành th́ ta lại thấy h́nh ảnh của người cha nơi đứa con; cũng vậy đấng Cha Lành Vĩnh Cửu khi đặt hạt giống vào tử cung vật chất cũng cung cấp sự sống nhưng nó chưa tiến hóa ra được. Thế rồi nó bắt đầu leo lên, triển khai sự sống hết giai đoạn này tới giai đoạn khác để cho nó dần dần có thể biểu hiện ra được.
Khi ta nghiên cứu Vũ trụ, ta thấy rằng sự biến thiên của nó khác nhau theo tuổi tác. Đây là một tư tưởng có liên quan tới vấn đề của chúng ta. Thế giới này không được đưa đến t́nh trạng hiện nay qua một linh từ sáng tạo duy nhất. Brahma tạo ra thế giới chầm chậm và từ từ qua việc tham thiền lâu dài. Hết sinh linh này tới sinh linh kia xuất hiện. Hết mầm sống này tới mầm sống khác được gieo trồng. Nếu ta xem xét bất kỳ Vũ trụ nào vào bất kỳ thời điểm nào th́ ta cũng thấy rằng sự biến thiên của Vũ trụ đó có yếu tố chính là Thời gian. Tuổi của mầm mống đang phát triển sẽ đánh dấu giai đoạn mà mầm mống ấy đạt tới. Trong Vũ trụ vào cùng một lúc, có những mầm mống với đủ thứ tuổi và đủ thứ tŕnh độ phát triển. Có những mầm mống c̣n trẻ hơn cả loài khoáng vật nữa tạo thành cái được gọi là giới tinh linh ngũ hành. Những mầm mống đă phát triển mà ta gọi là giới khoáng vật th́ già hơn giới tinh linh ngũ hành. Các mầm mống tiến hóa thành thế giới thực vật lại c̣n già hơn mầm mống của giới khoáng vật nữa, nghĩa là đằng sau chúng có một thời khoảng tiến hóa dài hơn; loài động vật là những mầm mống có một quá khứ c̣n lâu dài hơn nữa và các mầm mống mà ta gọi là loài người có quá khứ dài nhất.
Mỗi lớp lớn đều có sự đa dạng này khi nó bắt đầu trong thời gian. Cũng vậy sự sống cá thể nơi mỗi người – không phải là sự sống bản thể mà là sự sống của cá thể biệt lập – khác với sự sống của người kia, và chúng ta khác nhau về tuổi của kiếp sống cá thể cũng như chúng ta khác nhau về tuổi của thể xác. Sự sống vốn duy nhất (sự sống nhất như nơi vạn vật) nhưng nó được bộc lộ ở nhiều giai đoạn khác nhau trong thời gian, xét về mặt khởi điểm của hạt giống được gieo trồng trong đó. Bạn phải hiểu thấu ư tưởng này. Khi một Vũ trụ kết thúc giai đoạn tồn tại th́ trong đó có mặt những thực thể ở đủ mọi giai đoạn tiến hóa. Tôi có nói rằng thế giới này liên kết với thế giới kia và Vũ trụ này liên kết với Vũ trụ kia. Một số đơn vị vào lúc khởi đầu chỉ mới ở giai đoạn tiến hóa sơ khai; một số đă sẵn sàng bành trướng nhiều hơn để tiến tới tâm thức Thượng Đế. Trong Vũ trụ đó, khi hết chu kỳ sống của nó th́ ắt có đủ mọi sự khác nhau về mặt tăng trưởng tùy theo sự khác nhau về thời gian. Chỉ có một sự sống nhất như trong vạn vật nhưng tŕnh độ phát triển của một sự sống đặc thù lại tùy thuộc vào thời gian mà nó đă tiến hóa biệt lập. Do đó bạn nên hiểu thấu chính cái cội rễ của vấn đề chúng ta – sự sống nhất như vốn bất diệt, vĩnh hằng, vô hạn về cội nguồn và mục đích; nhưng bản thân sự sống ấy biểu hiện qua nhiều mức độ tiến hóa khác nhau và nhiều giai đoạn phát triển khác nhau khiến cho quyền năng cố hữu của nó cũng bộc lộ ra tùy theo tuổi tác của sự sống cá biệt. Đó là hai tư tưởng mà ta phải thấu triệt th́ mới xét tới phần kia trong định nghĩa của Dharma được.
Bây giờ ta có thể định nghĩa Dharma là “Bản chất nội tại của một sự vật vào bất kỳ giai đoạn tiến hóa nào cùng với qui luật của giai đoạn phát triển kế tiếp của nó”; bản chất này xét nơi mức mà nó đă phát triển tới đó, c̣n định luật sẽ tạo ra giai đoạn phát triển kế tiếp của nó. Chính bản chất đánh dấu tŕnh độ tiến hóa mà nó đă đạt được rồi mới tới điều mà nó phải thực hiện để tiến hóa thêm nữa theo đường lối của ḿnh. Kết hợp hai tư tưởng này lại với nhau th́ ta mới hiểu được tại sao ta phải đạt tới sự toàn bích bằng cách đi theo Dharma của chính ḿnh. Dharma của tôi là tŕnh độ tiến hóa mà bản chất của tôi đă đạt được khi bộc lộ hạt giống sự sống thiêng liêng vốn là bản thân tôi cộng với định luật sống mà tôi phải hoàn thành theo đó trong giai đoạn kế tiếp. Nó chỉ thuộc về cái biệt ngă này thôi. Tôi phải biết tŕnh độ phát triển của ḿnh, tôi phải biết định luật khiến cho tôi có thể phát triển thêm nữa th́ nhiên hậu tôi mới biết được Thiên chức (Dharma) của ḿnh, và có đi theo Thiên chức đó th́ tôi mới hướng về sự toàn bích được.
Khi nhận ra ư nghĩa của điều này th́ ta mới thấy rơ tại sao mỗi người trong chúng ta phải nghiên cứu t́nh trạng hiện nay và giai đoạn kế tiếp. Nếu chúng ta c̣n chưa biết giai đoạn hiện nay ra sao th́ ta ắt mù tịt về giai đoạn kế tiếp mà ta phải nhắm tới, và ta có thể đi ngược lại Thiên chức của ḿnh do đó làm tŕ hoăn sự tiến hóa của ḿnh. Tức là nếu biết được cả hai thứ đó th́ ta có thể làm việc theo Thiên chức của ḿnh để đẩy mạnh sự tiến hóa của ta. Ở đây lại có một cạm bẫy lớn. Chúng ta thấy rằng có điều này là tốt đẹp, cao thượng và cao cả; chúng ta mong ước bản thân ḿnh thành tựu được điều ấy. Phải chăng đó là giai đoạn tiến hóa kế tiếp của chúng ta? Phải chăng đó là điều mà định luật triển khai sự sống của ta đ̣i hỏi để cho sự sống đó bộc lộ ra một cách hài ḥa? Mục tiêu ngay trước mắt của ta không phải là điều tự thân nó tốt nhất mà là điều tốt nhất cho chúng ta trong giai đoạn hiện nay và đưa chúng ta tiến lên một bước nữa. Ta hăy xét một đứa trẻ con. Chắc chắn rằng nếu ta xét một đứa trẻ con là phụ nữ th́ trước đó, trước khi đạt tới mức một phụ nữ trong tương lai, cao cả hơn, cao thượng hơn và mỹ miều hơn mức hiện nay khi nó đang chơi với búp bê; trong tương lai nó sẽ là một bà mẹ ẳm trong ṿng tay ḿnh một đứa trẻ sơ sinh thay v́ một con búp bê, bởi v́ đó là lư tưởng của nữ tính toàn bích - là người mẹ đối với đứa con. Nhưng trong khi đó là lư tưởng của một người phụ nữ toàn bích th́ việc theo đuổi lư tưởng đó trước khi thời gian chín muồi lại không tốt và gây ra nhiều thiệt hại. Mọi thứ phải xảy ra đúng lúc đúng nơi. Nếu muốn cho người mẹ phát triển đến mức toàn bích về nữ tính để trở thành bà mẹ trong một gia đ́nh, khỏe mạnh, kiên cường, có thể chịu được áp lực của ḍng sóng cuồn cuộn th́ phải có thời kỳ đứa bé gái ấy chơi với búp bê, nó phải học những bài học và phải phát triển cơ thể ḿnh. Nhưng nếu nghĩ rằng làm mẹ th́ cao quí và cao cả hơn chơi búp bê, phải phấn đấu làm mẹ trước thời hạn th́ một cô bé c̣n nhỏ mà lại sinh ra một đứa trẻ thơ: đứa trẻ sơ sinh cũng đau khổ, bà mẹ ấu trĩ cũng khổ sở và quốc gia cũng khốn khổ theo; đó là v́ người ta không đếm xỉa ǵ tới đúng lúc và vi phạm định luật về sự sống bộc lộ ra. Mọi loại đau khổ đều bắt nguồn từ việc hái trái cây trước khi nó đủ chín.
Tôi xét ví dụ ấy v́ đó là một ví dụ điển h́nh. Nó giúp ta hiểu được tại sao Thiên chức của chính ḿnh lại tốt hơn cho chính ḿnh chứ không phải việc ḿnh hoàn thành tốt đẹp Thiên chức của người khác vốn không đi theo đường lối phát triển sự sống của ḿnh. Cái địa vị cao tột ấy có thể dành cho ta trong tương lai nhưng phải có thời gian th́ trái cây mới chín được. Hái trái cây ăn trước khi nó chín th́ chỉ ê răng thôi. Cứ để nó lủng lẳng trên cành cây đi. Cứ tuân theo định luật về thời gian và sự tiến hóa tuần tự th́ linh hồn sẽ tăng trưởng theo quyền năng của một sự sống vô tận.
Điều đó lại cung cấp cho ta một ch́a khóa khác về vấn đề này – chức năng có liên quan tới quyền năng. Thực hiện chức năng trước khi phát triển được quyền năng là cực kỳ tai hại cho cơ thể. Do đó ta mới học được bài học kiên nhẫn và rán chờ đợi Chánh Pháp. Bạn có thể xét đoán sự tiến bộ của một người qua chuyện y sẵn ḷng làm việc một cách tự nhiên và tuân theo định luật. Chính v́ thế mà Dharma được gọi là định luật và đôi khi được gọi là bổn phận; v́ cả hai ư tưởng này đều bắt nguồn từ tư tưởng gốc là bản chất nội tại vào một giai đoạn tiến hóa xác định và định luật phát triển của giai đoạn kế tiếp. Điều này giải thích tại sao đạo đức chỉ tương đối thôi, tại sao bổn phận lại khác nhau đối với mỗi linh hồn tùy theo sự tiến hóa của nó. Khi chúng ta đạt đến mức ứng dụng điều này cho vấn đề đúng và sai th́ ta mới thấy rằng ḿnh có thể giải quyết được một số những vấn đề tinh vi nhất về đạo đức bằng cách bàn tới chúng dựa vào nguyên tắc này. Trong một vũ trụ có điều kiện th́ ta không thấy được có ǵ là tuyệt đối đúng và tuyệt đối sai mà chỉ có tương đối đúng và tương đối sai. Cái tuyệt đối chỉ có nơi đấng Ishvara thôi và ta sẽ thấy nó đời đời ở đó.
Như vậy những sự dị biệt là cần thiết cho tâm thức bị chế định của ta. Ta suy nghĩ qua sự dị biệt, ta cảm nhận qua sự dị biệt và ta biết được qua sự dị biệt. Chỉ có nhờ vào sự dị biệt ta mới biết rằng ḿnh là những con người đang sống và đang suy nghĩ. Tính đơn nhất không gây được một ấn tượng nào với tâm thức. Sự dị biệt và sự đa dạng, đó là những điều khiến cho tâm thức có thể tăng trưởng được. Tâm thức vô điều kiện vốn vượt ngoài ṿng suy nghĩ của ta. Ta chỉ có thể suy nghĩ trong giới hạn của điều cá biệt và điều bị chế định (có điều kiện).
Giờ đây ta mới hiểu được những sự dị biệt trong thiên nhiên xuất hiện ra sao, yếu tố thời gian đóng vai tṛ ǵ và tại sao mặc dù tất cả có cùng một bản thể và sẽ đạt tới cùng một mục tiêu thế mà lại có những sự dị biệt qua các giai đoạn biểu lộ khác nhau, do đó có những định luật thích hợp với mỗi giai đoạn. Đó là điều mà ta cần thấu hiểu tối nay trước khi ta bàn tới một vấn đề phức tạp là bản chất nội tại ấy phát triển ra sao. Đề tài này quả thật là khó hiểu, thế nhưng ta có thể dọn sạch được những điều bí mật trong con đường hành động khi ta thấu hiểu được định luật cơ bản, khi ta nhận ra được nguyên tắc của sự sống phát triển.
Mong sao đấng đă ban cho Ấn Độ nốt chủ âm là Dharma sẽ dùng sự sống bất tử đang triển khai của ḿnh, sẽ dùng ánh sáng chói lọi bất biến của ḿnh soi sáng cho tâm trí u ám của chúng ta để cho ta lờ mờ hiểu được đính luật của ngài; v́ chỉ khi kẻ mưu cầu khẩn thiết được ngài ban ân huệ th́ tâm trí của y mới hiểu được định luật của ngài và tâm hồn y mới khắc sâu được định luật của ngài.
SỰ TIẾN HÓA
Chiều tối nay, ta sẽ bàn tới tiết thứ nh́ trong đề tài mà ta bắt đầu ngày hôm qua. Bạn ắt nhớ rằng tôi chia đề tài này thành ra ba đề mục để cho thuận tiện: Những điều Dị biệt, Sự Tiến hóa, vấn đề Đúng và Sai. Hôm qua tôi đă nghiên cứu vấn đề những điều Dị biệt: nó xuất hiện ra sao đến nỗi những người khác nhau lại có những Thiên chức khác nhau. Tôi xin đánh bạo nhắc bạn nhớ rằng chúng ta đă chọn dùng một định nghĩa của Dharma theo đó nó là bản chất nội tại đánh dấu tŕnh độ tiến hóa cộng với qui luật phát triển cho giai đoạn tiến hóa kế tiếp. Tôi xin bạn nhớ kỹ định nghĩa này v́ nếu không có định nghĩa ấy, ta không thể ứng dụng Dharma vào điều mà ta cần nghiên cứu trong phần ba của đề tài.
Trong đề mục “Tiến hóa”, ta phải nghiên cứu cách thức mà mầm sống triển khai ra h́nh ảnh toàn bích của Thượng Đế; nên nhớ rằng ta đă thấy h́nh ảnh đó của Thượng Đế chỉ có thể được biểu diễn bởi toàn thể nhiều sự vật hợp thành các chi tiết của vũ trụ và sự toàn bích của mỗi cá thể lại tùy thuộc vào việc y đă làm tṛn được phần việc của ḿnh trong cái tổng thể mầu nhiệm ấy.
Trước khi có thể hiểu được tiến hóa là ǵ, ta phải t́m ra được cội nguồn và động cơ thúc đẩy của nó – một sinh linh bị dính mắc vào vật chất trước khi nó tiến hóa thành những cơ thể phức tạp thuộc đủ mọi loại. Ta khởi sự với nguyên lư rằng tất cả đều bắt nguồn từ Thượng Đế và ở trong phạm vi của Thượng Đế. Không có ǵ trong vũ trụ mà ở ngoài ngài. Không có sinh linh nào mà lại không có sự sống của ngài, không có lực nào mà lại không có lực của ngài, không có năng lượng nào mà không có năng lượng của ngài, không có h́nh tướng nào mà không phải là h́nh tướng của ngài – tất cả đều là kết quả của tư tưởng của ngài. Đó là lập trường căn bản của ta. Ta phải dựa trên cơ sở đó và dám chấp nhận mọi điều hàm ư trong đó, dám công nhận mọi điều được ẩn chứa trong đó. Với vai tṛ là đấng Ishvara tối cao, đấng Shri Krishna có dạy: “Hỡi Arjuna, ta là hạt giống của chúng sinh, chẳng có điều nào dù là di động hoặc bất động mà lại tồn tại được nếu không có Ta” (Chí Tôn Ca, X, 39). Ta đừng có sợ, phải chấp nhận cái chủ trương trung tâm ấy. Đừng v́ sự bất toàn của các sinh linh đang tiến hóa mà ta phải dội lại trước bất kỳ kết luận nào do sự thật ấy dẫn chúng ta tới.
Trong một câu kinh khác ngài có dạy: “Ta là tṛ cờ bạc của kẻ bạc bịp và Ta cũng là sự huy hoàng của những điều rực rỡ” (X, 36). Đâu là ư nghĩa của những lời lẽ này mà nghe ra kỳ cục quá? Biết giải thích sao đây cái câu này mà dường như phạm thượng xiết bao? Chẳng những trong bài thuyết pháp này ta thấy phát biểu lập trường trên mà ta thấy chính Đức Bàn Cổ cũng dạy một sự thật giống hệt như thế: “Ngài tạo ra vũ trụ từ bản thân ḿnh”. Sự Sống xuất phát từ Đấng Tối Cao khoác lấy hết bức màn Hăo huyền này tới bức màn Hăo huyền khác, nên trong những bức màn Hăo huyền ấy sự sống tiềm tàng phải tiến hóa đến mức toàn bích.
Bây giờ ta hăy xét thắc mắc thứ nhất: Liệu cái sự sống xuất phát từ Ishvara ấy đă có sẵn bên trong ḿnh mọi thứ đă phát triển rồi, mọi quyền năng đă biểu lộ rồi, mọi khả năng đă trở thành hiện thực rồi hay chăng? Câu trả lời cho thắc mắc ấy đă được nhắc đi nhắc lại dưới dạng biểu tượng, ẩn dụ và lời lẽ dứt khoát là “không”. Nó chỉ bao hàm mọi thứ dưới dạng tiềm năng chứ thoạt tiên không có một thứ ǵ đă biểu lộ ra. Nó chỉ chứa đựng mọi thứ dưới dạng mầm mống chứ thoạt tiên không có ǵ đă phát triển thành một cơ thể. Hạt giống ấy là cái được đặt vào trong nước vật chất đầy quyền năng, chỉ có cái mầm mống ấy được Sự Sống của Thế gian ban phát ra. Những mầm mống ấy đều xuất phát từ sự sống của Ishvara – từng bước một, hết giai đoạn này tới giai đoạn khác, từ nấc thang này tới nấc thang khác trên thang tiến hóa – chúng phát triển ra mọi quyền năng vốn có nơi đấng Cha Lành khai sinh ra nó, là hồng danh mà đấng Ishvara tự xưng trong Chí Tôn Ca. Một lần nữa ngài tuyên bố rằng: “Tử cung của Ta là Mahat Brahma; Ta đặt mầm mống vào đó, hỡi Bharata vạn vật đều sinh ra từ đó. Hỡi Kaunteya, mọi phàm phu đều được sinh ra trong bất cứ tử cung nào th́ Ta là đấng Cha Lành sinh ra chúng trong cái tử cung Mahat Brahma” (XIV, 3 – 4). Từ cái hạt giống ấy – từ cái mầm mống vốn chứa đựng mọi thứ dưới dạng khả năng nhưng cho tới nay chưa có thứ ǵ biểu lộ ra cả - từ cái hạt giống đó một sự sống phải được triển khai ra, hết giai đoạn này sang giai đoạn khác, càng ngày càng nâng lên cao cho đến khi cuối cùng tạo ra một tâm điểm tâm thức có thể bành trướng tới mức tâm thức của Ishvara, trong khi vẫn c̣n dưới dạng một tâm điểm nhưng có quyền năng sản sinh ra một vũ trụ mới trên cương vị là một Ngôi Lời mới tức Ishvara.
Ta hăy xét chi tiết về cái toàn cảnh tư tưởng này. Thoạt đầu là sự sống dính mắc vào vật chất. Những mầm mống này, vô số hạt giống (hay dùng thuật ngữ của Áo nghĩa thư là vô số điểm linh quang) này đều xuất phát từ một ngọn Lửa duy nhất vốn là đức Brahman tối cao. Như vậy giờ đây các đức tính đều sinh ra từ những hạt giống này. Những đức tính ấy vốn là quyền năng chỉ có điều là quyền năng biểu lộ thông qua vật chất. Hết quyền năng này tới quyền năng khác sẽ bộc lộ ra – quyền năng ấy vốn là sự sống của Ishvara bị Maya che khuất đi. Trong những giai đoạn sơ khai, sự tăng trưởng thật chậm chạp, ẩn tàng giống như hạt giống ẩn dưới đất, khi thoạt đầu nó đâm rễ xuống dưới rồi sau này mới phóng lên cái chồi mềm mại để cho cái cây tăng trưởng có thể xuất hiện được. Hạt giống thiêng liêng này nảy mầm trong tịch lặng và những giai đoạn khởi đầu vốn ẩn tàng trong bóng tối giống như rễ cây dưới đất.
Quyền năng này của sự sống hoặc đúng hơn là vô số quyền năng mà đấng Ishvara biểu lộ ra để cho vũ trụ có thể tồn tại được th́ thoạt đầu ta không thấy rơ vô số quyền năng đó nơi mầm mống – không có một dấu hiệu nào về những khả năng hùng dũng của nó, không có một dấu vết nào sự việc sau này nó sẽ trở nên ra sao. Xét về sự biểu lộ này trong vật chất, có một lời lẽ soi sáng nhiều cho đề tài này nếu ta có thể hiểu thấu được ư nghĩa nội tại và tinh tế của nó. Khi nói tới Prakriti hạ đẳng tức sự biểu lộ hạ đẳng của ḿnh, đấng Shri Krishna có dạy: “Đất, nước, gió, lửa, dĩ thái, Manas, Buddhi cũng như Ahamkara, đó là cách phân chia bát bội thuộc Prakriti của Ta. Đây là phần hạ đẳng”. Thế rồi Ngài c̣n dạy Prakriti thượng đẳng của ḿnh là ǵ: “Hỡi kẻ chiến sĩ dũng mănh, con nên biết Ta c̣n một Prakriti khác nữa, thượng đẳng, đó là nguyên thể sự sống vốn cấp dưỡng cho vũ trụ” (VII. 4, 5). Thế rồi chỉ ít lâu sau, bỏ cách quăng nhiều câu kinh, sao cho đôi khi ta quên bẳng đi mối liên hệ ấy, Ngài lại dạy những lời lẽ khác: “Cái Maya thiêng liêng này của Ta do gunas tạo ra, thật là khó mà xuyên thấu được; kẻ nào đến với Ta phải vượt qua Maya này” (VII. 14). Yoga Maya này quả thật là khó xuyên thấu; nhiều người bị dính mắc vào Maya mà không phát hiện được ngài, càng khó xuyên thấu nó bao nhiêu th́ càng khó phát hiện ngài bấy nhiêu. “Những kẻ không phát Bồ Đề Tâm thường nghĩ Ta là đấng vô hiện mà lại biểu lộ ra chứ đâu có biết bản chất tối cao của Ta vốn bất diệt, tuyệt diệu. Tất cả những kẻ nào bị vây bủa trong Yoga Maya của Ta đều không phát hiện ra Ta được” (VII. 24 – 25). Thế rồi ngài tuyên bố thêm nữa rằng vũ trụ này được thấm nhuần bởi sự sống vô hiện của ngài. Nguyên thể sự sống tức Prakriti thượng đẳng vốn vô hiện, c̣n Prakriti hạ đẳng lại biểu hiện. Thế rồi ngài dạy rằng: “Khi đă đến lúc ban ngày th́ mọi thứ biểu hiện đều xuất phát từ điều vô hiện, đến lúc ban đêm th́ chúng lại tan biến ra, ngay cả trong cái gọi là điều vô hiện ấy” (VII: 18). Điều này cứ xảy đi xảy lại măi. Thế rồi ngài lại tuyên bố thêm nữa: “Do đó quả thật có tồn tại, vốn cao hơn cả cái vô hiện ấy, c̣n một thứ vô hiện vĩnh hằng mà khi vạn hữu bị hủy diệt th́ nó vẫn không bị hủy hoại” (VII. 20). Có một sự phân biệt tinh vi giữa đấng Ishvara và h́nh ảnh của chính ngài mà ngài phóng chiếu ra. H́nh ảnh này là điều vô hiện được phản chiếu (có thể bị hủy hoại), nhưng bản thân ngài là điều vô hiện thượng đẳng vĩnh hằng không bao giờ hủy hoại.
Khi nhận ra được điều đó th́ ta mới đạt tới mức phát huy được quyền năng của ḿnh. Bây giờ ta mới thực sự bắt đầu tiến hóa. Sự sống được tuôn đổ ra bị dính mắc vào vật chất để khiến cho hạt giống lâm vào t́nh cảnh bị vật chất vây bủa xung quanh do đó nó mới tiến hóa được. Khi ta xét tới sự nảy mầm đầu tiên của hạt giống ấy th́ ta mới bắt đầu thấy khó hiểu. Đó là v́ ta phải phóng chiếu tư tưởng về tới cái thời kỳ mà bản ngă phôi thai ấy không có lư trí, không có khả năng tưởng tượng, không có trí nhớ, không có phán đoán, không có bất kỳ năng lực có điều kiện nào thuộc tâm trí mà ta từng biết; khi mọi sự sống đă biểu lộ ra rồi th́ đó là cái mà ta thấy nơi giới khoáng vật với mức tâm thức thấp nhất. Giới thực vật biểu lộ tâm thức qua sự hút và đẩy, do đó mới giữ các hạt vật chất cố kết lại với nhau qua ái lực của chúng đối với nhau và qua việc chúng xua đẩy nhau, nhưng chúng không hề bộc lộ cái tâm thức mà ta có thể gọi là việc nhận ra được “bản ngă’ và “phi ngă”.
Trong mỗi một dạng thấp nhất của giới khoáng vật ấy, sự sống của Ishvara bắt đầu phát triển. Chẳng những mầm mống của sự sống tiến hóa trong đó mà chính ngài với mọi sức mạnh và quyền năng cũng hiện diện trong đó, nơi mọi nguyên tử thuộc vũ trụ của ngài. Ngài là cái sự sống tạo ra vận động khiến cho sự tiến hóa là không thể tránh được. Ngài là cái lực nhẹ nhàng làm cho bức vách vật chất nở ra với ḷng kiên nhẫn vô biên và ḷng từ bi theo dơi để cho bức vách ấy không bị sức căng làm bễ ra. Chính ngài là Cha của sự sống nhưng ngài cũng là bà Mẹ ấp ủ sự sống trong bản thân ḿnh, phát triển cái hạt giống đó cho tới khi giống hệt như ḿnh, chẳng bao giờ sốt ruột, chẳng bao giờ vội vă, sẵn ḷng dành biết bao nhiêu thời gian, trải qua vô số thời đại cần thiết cho cái mầm mống bé nhỏ ấy. Thời gian chẳng nghĩa lư ǵ đối với Ishvara v́ ngài vốn vĩnh hằng và vạn vật đều hằng hữu đối với ngài. Ngài chỉ mưu t́m sự biểu lộ hoàn hảo cho nên ngài không vội vă ǵ trong công tŕnh của ḿnh. Và sau này ta sẽ hiểu sự kiên nhẫn vô hạn đó thể hiện ra như thế nào. Con người vốn là h́nh ảnh của Cha ḿnh, cũng biểu lộ bên trong ḿnh sự phản chiếu của Tự Ngă mà ḿnh vốn là một với nó và bắt nguồn từ nó.
Sự sống phải được khơi hoạt, nhưng bằng cách nào? Nhờ vào những cú đập, những rung động mà bản thể nội tại được khơi hoạt. Sự sống được khơi hoạt do những rung động chạm vào nó từ bên ngoài. Hằng hà sa số các mầm mống c̣n chưa có ư thức về bản thân v́ bị vật chất vây phủ, chúng được xô đẩy, cọ xát với nhau trong vô số quá tŕnh của thiên nhiên; nhưng “thiên nhiên” chỉ là lớp áo của Thượng Đế, chỉ là biểu lộ thấp nhất của ngài bộc lộ ra trên cơi vật chất. Những h́nh tướng này va chạm với nhau do đó làm rung chuyển lớp vỏ vật chất bên ngoài mà sự sống bị vướng mắc vào đó; vậy là sự sống bên trong rung động mỗi khi chịu một cú đập.
Thế mà bản chất của cú đập không quan trọng. Điều quan trọng là cú đập ấy mạnh hay yếu. Bất cứ kinh nghiệm nào cũng đều hữu ích. Bất cứ thứ ǵ đập vào lớp vỏ mạnh đến nỗi sự sống bên trong bị rung động để đáp ứng đều là những ǵ cần thiết vào lúc đầu. Sự sống bên trong phải được làm cho rung động. Điều đó sẽ khơi hoạt một quyền năng sơ khởi nào đó nơi sự sống ấy. Thoạt tiên đó chỉ là một sự rung động tự thân không có ǵ hơn nữa và không ảnh hưởng ǵ tới lớp vỏ bên ngoài. Nhưng khi hết cú đập này tới cú đập khác được lập đi lập lại, hết rung động này đến rung động khác gây ra những chấn động giống như động đất th́ thông qua lớp vỏ bao bọc xung quanh ḿnh, sự sống bên trong sẽ phóng ra một sự rung động để đáp ứng. Cú đập đă khơi dậy một sự đáp ứng. Thế là đă đạt được một giai đoạn khác khi sự đáp ứng xuất phát từ sự sống ẩn tàng và phóng ra ngoài vượt khỏi lớp vỏ. Điều này tiếp diễn qua giới khoáng vật và giới thực vật. Nơi giới thực vật, những sự đáp ứng với rung động do tiếp xúc bắt đầu bộc lộ ra một năng lực mới của sự sống, đó là cảm giác. Sự sống bắt đầu hiển lộ ra qua cái mà ta gọi là “xúc cảm” nghĩa là đáp ứng khác nhau đối với vui sướng và đau khổ. Vui sướng căn bản là có tính chất hài ḥa. Mọi thứ mang lại vui sướng đều có tính hài ḥa. Mọi thứ gây ra đau khổ đều có tính bất ḥa. Ta hăy nghĩ tới âm nhạc. Những nốt nhạc du dương được cùng nhau trổi lên thành một hợp âm khiến cho tai ta có một cảm giác dễ chịu. Nhưng nếu ta bấm ngón tay trên những dây đàn mà không chú ư tới những nốt nhạc th́ ta tạo ra một âm thanh không hài ḥa và nghe rất chỏi tai. Điều ǵ đúng với âm nhạc th́ cũng đúng ở bất cứ nơi đâu. Sức khỏe là hài ḥa, bệnh tật là bất ḥa. Sức mạnh là hài ḥa, sự yếu ớt là bất ḥa. Vẻ đẹp là hài ḥa, sự xấu xí là bất ḥa. Trong khắp cả thiên nhiên, vui sướng có nghĩa là sự đáp ứng của một sinh linh hữu t́nh đối với những rung động hài ḥa và nhịp nhàng, c̣n đau khổ có nghĩa là sự đáp ứng với những rung động bất ḥa và không nhịp nhàng. Những rung động nhịp nhàng tạo ra một kênh dẫn để cho sự sống có thể bành trướng ra bên ngoài, chính việc thoát ra được ngoài này là “sự vui sướng”; những rung động không nhịp nhàng bít kín những kênh dẫn này lại, ngăn cản sự thoát ra ngoài và sự cản trở này chính là “đau khổ” [1]. Việc sự sống thoát ra bên ngoài hướng về các sự vật chính là cái mà ta gọi là “ham muốn”; do đó vui sướng té ra là việc thỏa măn được ham muốn. Sự khác nhau này bắt đầu xuất hiện ở nơi giới thực vật. Có một cú đập mang tính hài ḥa. Sự sống đáp ứng bằng những rung động hài ḥa và bành trướng ra, cảm nhận được “vui sướng” nơi sự bành trướng ấy. Có một cú đập vốn là sự va chạm xung đột. Sự sống đáp ứng lại một cách bất ḥa, nó bị khống chế và cảm thấy “đau khổ” qua sự khống chế ấy. Những cú đập cứ xảy đi xảy lại măi và chừng nào nó chưa lập lại vô số lần th́ cũng chưa nhận ra được sự khác nhau giữa hai xúc cảm ấy bắt đầu xuất hiện nơi sự sống bị giam hăm bên trong. Chỉ nhờ có sự phân biệt th́ tâm thức của ta theo như các cấu tạo hiện nay mới có thể phân biệt được các sự vật với nhau. Ta hăy xét một sự minh họa rất chung chung. Ta hăy bỏ một đồng tiền vào trong ḷng bàn tay rồi nắm chặt các ngón tay lại xung quanh nó. Ta ắt cảm thấy đồng tiền. Nhưng áp lực ấy cứ tiếp tục mà không biến thiên nữa th́ cảm giác tiếp xúc nơi bàn tay biến mất và ta chẳng hề biết rằng bàn tay ḿnh đâu có trống rỗng. Ta di chuyển một ngón tay và ta lại cảm thấy một đồng tiền. Khi ta giữ yên bàn tay th́ cảm giác ấy lại biến mất. Như vậy tâm thức biết được sự vật qua sự khác nhau. Khi sự khác nhau bị loại đi th́ tâm thức không c̣n đáp ứng nữa.
Ta xét tới điều kế tiếp được biểu hiện qua sự sống tiến hóa thông qua giới động vật. Giờ đây ta cảm thấy sâu sắc vui sướng và đau khổ, bắt đầu có một mầm mống nhận biết nối liền sự vật với cảm giác mà ta gọi là “nhận thức”. Điều này có nghĩa là ǵ? Nó có nghĩa là sự sống phát triển năng lực tạo ra một mối liên kết giữa sự vật gây ấn tượng lên sự sống và cảm giác mà sự sống đáp ứng với sự vật. Khi sự sống sơ khai ấy tiếp xúc với một ngoại vật mà biết ngoại vật ấy là thứ mang lại vui sướng hay đau khổ cho ḿnh th́ ta bảo rằng sự sống đă nhận thức được sự vật, và năng lực nhận thức (tức việc tạo ra được mối liên kết giữa ngoại giới và nội giới) tiến triển khi việc đó được xác lập; năng lực trí tuệ bắt đầu nảy mầm và tăng trưởng bên trong cơ thể ấy; ta thấy năng lực đó nơi những con thú cao cấp.
Ta hăy xét năng lực này nơi người dă man mà ta có thể lướt qua những giai đoạn đầu một cách nhanh chóng hơn. Ta thấy ư thức về “bản ngă” và “phi ngă” từ từ được xác lập nơi người này, cả hai song hành với nhau. Phi ngă tiếp xúc với y và bản ngă cảm nhận được phi ngă; “phi ngă” mang lại cho y vui sướng và “bản ngă” biết được vui sướng ấy; “phi ngă” gây cho y đau khổ và “bản ngă” cũng chịu đựng sự đau khổ ấy. Bây giờ đă dựng nên một sự phân biệt giữa xúc cảm (được nghĩ là “bản ngă”) và tất cả những ǵ gây ra xúc cảm (được coi là “phi ngă”). Ở đây ta bắt đầu có trí thông minh và gốc rễ của ngă thức bắt đầu phát triển. Điều này có nghĩa là đă tạo ra được một trung tâm để cho vạn vật qui về đó và mọi thứ xuất phát từ đó.
Tôi có nói tới việc lập lại các rung động và bây giờ việc lập lại ấy tạo ra những kết quả nhanh hơn. Khi việc lập lại gây ra nhận thức về các sự vật mang lại vui sướng th́ giai đoạn kế tiếp được triển khai đó là mong chờ vui sướng ngay cả trước khi xảy ra sự tiếp xúc. Đối tượng được nhận biết là thứ đă mang lại vui sướng trong những dịp trước kia, người ta mong chờ vui sướng được lập lại và sự mong chờ đó là bước đầu của trí nhớ, khởi đầu của óc tưởng tượng, là sự đan xen câu kết của trí năng với ham muốn. V́ đối tượng ấy trước kia đă mang lại vui sướng cho nên ta lại mong rằng nó tiếp tục đem đến vui sướng. Như vậy, sự mong chờ đă biểu lộ ra một tính chất manh nha khác của tâm trí. Khi ta nhận ra được một sự vật và mong chờ sẽ có vui sướng khi sự vật ấy trở lại th́ giai đoạn kế tiếp là tạo ra một h́nh ảnh trí tuệ về sự vật ấy làm cho nó linh hoạt – nhớ tới nó – như vậy ta đă khiến cho sự ham muốn tuôn ra, ham muốn có được cái sự vật ấy, mơ tưởng tới cái sự vật ấy và cuối cùng chạy lồng lên đi t́m cái đối tượng mang lại cảm giác vui sướng. Thế là con người trở thành đầy sự ham muốn chủ động. Y ham muốn vui sướng và động cơ thúc đẩy tâm trí y là mưu cầu vui sướng. Trong một thời gian dài y vẫn ở trong giai đoạn đầy thú tính ấy khi y chẳng bao giờ mưu cầu một sự vật ǵ nếu cái cảm giác thực sự trong cơ thể nội giới của y không thiếu thốn một điều ǵ đó mà chỉ có ngoại giới mới thỏa măn được. Y chỉ có một lúc quay trở lại với thú tính; nghĩ tới cái điều thúc đẩy thú tính ấy hoạt động. Y c̣n khao khát dẹp bỏ một cảm giác khó chịu. Y cảm thấy đói, y muốn có thực phẩm và y đi t́m thức ăn; y cảm thấy khát, y muốn làm cho bớt khát và y đi t́m nước. Như vậy y luôn luôn đi t́m cái sự vật sẽ thỏa măn được ham muốn của ḿnh. Cứ để cho ham muốn của y được thỏa măn th́ y sẽ im hơi. Nơi người thú ấy không có một sự vận động nào do tự thân y đề xướng ra. Sự thôi thúc ắt xuất phát từ bên ngoài. Thật vậy cảm giác đói vốn ở nơi cơ thể nội giới nhưng trọng tâm của tâm thức lại đặt nơi ngoại giới. Ta có thể truy nguyên sự tiến hóa của tâm thức theo tỉ lệ kích thích của ngoại giới gây ra hành động so với kích thích do chính bản thân đề xướng. Tâm thức hạ đẳng được kích thích hoạt động do những xung lực xuất phát từ bên ngoài. Tâm thức thượng đẳng được kích thích hoạt động do động cơ thúc đẩy được đề xướng từ bên trong.
Thế mà khi xét tới người dă man th́ ta thấy rằng việc thỏa măn ham muốn là định luật tiến bộ của y. Nhiều người trong các bạn nghe câu này ắt thấy lạ tai. Đức Bàn Cổ có dạy: “Cố ra sức diệt dục mà bằng cách thỏa măn dục vọng th́ cũng chẳng khác như dập tắt lửa bằng cách đổ dầu vào lửa”. Dục vọng phải được khống chế và chế ngự. Phải hoàn toàn diệt dục. Điều này chắc chắn là đúng nhưng chỉ khi người ta đă đạt tới một tŕnh độ tiến hóa nào đó. Trong những giai đoạn đầu việc thỏa măn ham muốn là định luật tiến hóa. Nếu y không thỏa măn được ham muốn th́ y không thể tăng trưởng được. Bạn phải nhận ra rằng ở giai đoạn đó không có điều ǵ có thể gọi là đạo đức. Không có sự phân biệt nào giữa đúng và sai. Mọi ham muốn đều phải được thỏa măn; chỉ khi cái trọng tâm sơ khởi của ngă thức ấy t́m cách thỏa măn được ham muốn th́ nó mới tăng trưởng thôi. Trong giai đoạn thấp nhất này, Thiên chức của một người dă man hoặc một con thú cao cấp được áp đặt lên y. Y chẳng có ǵ phải chọn lựa; bản chất nội tại của y được đánh dấu bằng sự phát triển ham muốn đ̣i phải được thỏa măn. Luật tăng trưởng của y là phải thỏa măn được những ham muốn này. Điều đó khiến cho Thiên chức của kẻ dă man là thỏa măn mọi ham muốn. Và bạn ắt thấy y chẳng hề ư thức được đúng hoặc sai, tuyệt nhiên không có ư niệm là việc thỏa măn ham muốn bị một định luật cao hơn cấm đoán.
Nếu không có việc thỏa măn ham muốn th́ y không thể tăng trưởng thêm nữa. Trước khi lư trí và sự phán đoán ló dạng cũng như phát triển được khả năng cao cấp hơn của trí nhớ và óc tưởng tượng th́ phải có sự tăng trưởng qua thỏa măn ham muốn ấy. Mọi năng lực trên đều được triển khai qua việc thỏa măn ham muốn. Kinh nghiệm là định luật của sự sống và là định luật của sự tăng trưởng. Nếu y không thu thập được đủ mọi loại kinh nghiệm th́ y không thể biết được rằng ḿnh sống trong một thế giới có Thiên luật. Định luật gây ấn tượng lên con người bằng hai cách: khi y tuân theo Thiên luật th́ được vui sướng, khi y chống lại Thiên luật th́ bị đau khổ. Nếu ở giai đoạn sơ khai đó mà con người không có được đủ mọi loại kinh nghiệm th́ làm sao mà y học được rằng có tồn tại Thiên luật? Làm sao phân biệt giữa đúng và sai để có thể tăng trưởng được nếu người ta không nếm trải cả điều ác lẫn điều thiện? Một vũ trụ chẳng bao giờ có thể tồn tại nếu không có các cặp đối đăi và ở một giai đoạn nào đó các cặp đối đăi này biểu hiện thành ư thức về điều thiện và điều ác. Bạn không thể biết được ánh sáng nếu không có bóng tối, không biết được sự vận động nếu không có sự đứng im, không thể biết được vui sướng nếu không có đau khổ; do đó bạn không thể biết được điều thiện (vốn hài ḥa với Thiên luật) nếu không biết điều ác (vốn bất ḥa với Thiên luật). Thiện và ác là một cặp đối đăi ở giai đoạn tiến hóa sau này của con người và con người không thể ư thức được sự khác nhau giữa thiện và ác nếu y chưa từng nếm trải cả hai điều đó.
Giờ đây ta đă đạt tới một sự thay đổi. Con người đă phát triển được một năng lực phân biệt nào đó. Cứ bỏ mặc y một thân một ḿnh th́ sớm muộn ǵ y cũng đạt đến mức biết rằng có một số sự vật trợ giúp cho y, tăng cường y, làm gia tăng sự sống của y; trong khi đó những sự vật khác lại làm cho y yếu đi và làm giảm bớt sự sống của y. Kinh nghiệm ấy dạy y được hết mọi thứ đó. Cứ bỏ mặc cho y để kinh nghiệm dạy dỗ th́ y cũng đạt đến mức biết được đúng khác với sai, cũng nhận diện được điều mang lại vui sướng và làm gia tăng sự sống là điều đúng, c̣n điều gây ra đau khổ làm giảm bớt sự sống là điều sai; như vậy y cũng đạt tới kết luận rằng mọi sự hạnh phúc và tăng trưởng đều phải tuân theo Thiên luật. Nhưng phải mất một thời gian rất dài th́ cái trí thông minh chớm nở này mới so sánh đối chiếu được những kinh nghiệm vui sướng và đau khổ, nhất là những kinh nghiệm lẫn lộn trong đó cái thoạt