Không Tôn Giáo Nào Cao Hơn Chân Lư

 HOME  sách   TIỂU SỬ    BẢN TIN   H̀NH ẢNH   thIỀN    BÀI VỞ   THƠ   gifts   TẾT 2006  BOOKS  MAGAZINES

 


TIÊN MẮC ĐỌA


DIEU EN EXIL 
VAN DER LEEW

 

             

Dịch giả: Nguyễn văn Minh và Huỳnh văn Tuất

ÁNH ĐẠO TÙNG THƯ

KÍNH DÂNG:

“Đức Giám Mục Leadbeater người đă giáo huấn tôi,

và ban ân cho tôi nhiều hơn là tôi có thể đền đáp lại”.

J.J. VAN DER LEEW

MỤC LỤC

 

1) Sự thức tỉnh của linh hồn                  
2) Sự chiến đấu trong con người             
3) V́ không hiểu biết nguyên lai               
4) Chân tánh của chúng ta                       
5) Thảm trạng của linh hồn                      
6) Cần thay đổi thái độ   
                         
II. Con đường dắt đến Chơn Nhơn
1) Sự thức tỉnh của linh hồn                  
2) Biến đổi trong thể vía
3) Biến đổi trong thể trí                          
4) Tai hại của một trí tưởng tượng    

 

1) Biến đổi trong thể xác
2) Đời sống của chúng ta tại thế gian
3) Sắc đẹp của Chơn nhơn
4) Làm thế nào để có măi tâm thức Chơn Nhơn 
1) Ư chí của Chơn Nhơn
2) Không có một ư chí yếu đuối chỉ có  một 

sự tưởng tượng vô kỷ luật

3) Việc sử dụng ư chí trong Huyền môn Học           

4) Chúng ta là con Đường Đạo

5) Quyền năng của tư tưởng sáng tạo

6) Sử dụng ba quyền năng

7) Sự cách biệt là một trạng thái dị thường

Kết luận

Tham thiền về Chơn Nhơn 

 

 

đàu trang cuối trang mục lục lời tựa chương 1 chương 2 chương 3 chương 4 chương 5 kết luận

LỜI TỰA

 

Tôi viết các trang nầy khi tâm thức Chơn Ngă bừng

sáng nơi tôi khiến trong khoảnh khắc tôi nhận ngay được bao kiến thức, nhưng các kiến thức này cần rất nhiều ngày để trở thành sự thật và nhiều trang giấy để được giải bày.

Tôi không có công ǵ trong việc truyền bá các giáo lư nầy; tôi nhận được – cũng như chúng ta nhận được mọi điều trên CON ĐƯỜNG ĐẠO – rồi chỉ phổ biến lại với hy vọng các giáo lư ấy giúp ích mọi người cũng như đă giúp tôi.

 J.J. VAN DER LEEW

 

 

 


LỜI GIẢI

 

Trong h́nh kế bên, các độc giả thấy ba con ngựa kéo một chiếc xe đưa Chơn Nhơn về Quê cũ.

Chơn Nhơn ấy là chúng ta. Chúng ta đang phản bổn, huờn nguyên nghĩa là đang tiến trên con đường trở về quê hương của chúng ta ở một cơi thiêng liêng. Chúng ta là những “cùng tử” đang trở về quê Cha như đă nói trong kinh Pháp Hoa.

Trên con đường tiến hóa nầy, chúng ta phải nhờ sức ba con ngựa, như trên con đường thỉnh kinh, Tam Tạng phải có ba đồ đệ pḥ tŕ.

Ba con ngựa hay ba đồ đệ nầy tượng trưng ba thể mà chúng ta dùng để sống ở các cơi biểu hiện:

-      thể xác ở cơi Trần

-      thể vía ở cơi Trung giới, sau khi từ giả cơi Trần

-      thể trí ở cơi Thượng giới, sau khi từ giả cơi Trung giới và trước khi luân hồi trở xuống trần gian.

Đặc tính các thể nầy được tả rất khéo trong truyện Tây Du: thể xác là Sa Tăng ngớ ngẩn; thể vía là Bát Giới háo sắc, mê ngủ, lười biếng, ham ăn giống như lợn; thể trí là Tôn Hành Giả lăng xăng nhảy nhót như khỉ, lại c̣n ngạo mạn, khinh dễ Phật Trời đến dám đại náo Thiên Cung. V́ vậy các nhân vật nầy phải được dạy dỗ, huấn luyện nhiều năm để cải tà, qui chánh, và theo pḥ Tam Tạng thỉnh kinh.

Các thể của chúng ta cũng thế, chúng cũng cần được huấn luyện nhiều năm mới chịu phục vụ Chơn Nhơn trên con đường tiến hóa. Sự huấn luyện nầy rất khó khăn v́ lúc đầu, Chơn Nhơn quên nguồn gốc thiêng liêng của ḿnh. Trong giai đoạn nầy, nó tự đồng hóa với ba thể nên chỉ biết nuông chiều, thỏa măn chúng. Nhưng một ngày kia, nó giác ngộ, biết chúng không phải là ḿnh mà chỉ là những dụng cụ, là ba con ngựa của ḿnh. Chừng đó, Chơn Nhơn tách ra, bước lên địa vị Chủ Nhơn và bắt đầu huấn luyện chúng. Sự huấn luyện nầy thường biến thành những trận chiến đấu gay go giữa Chơn Nhơn và phàm ngă do ba thể ương ngạnh tạo thành, và chỉ chấm dứt khi nào ba thể đă thuần.

Đến đây con đường tiến hóa chuyển sang một giai đoạn mới trong đó con người sống với tâm thức Chơn Nhơn để tiến đến sự điểm đạo lần thứ nhất.

Trên đây là một vài điều nên biết qua để đọc quyển sách nầy được dễ.

 

Dịch giả

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

đàu trang cuối trang mục lục lời tựa chương 1 chương 2 chương 3 chương 4 chương 5 kết luận

 

CHƯƠNG I

THẢM KỊCH CỦA LINH HỒN BỊ ĐÀY

 

Con đường Huyền Bí Học thường được gọi là con Đường Đau Khổ.

Thật ra, không có lư do nào để xem đó là con Đường Đau Khổ thay v́ con Đường Vui Sướng, v́ cùng một kết quả, có khi phàm ngă thấp hèn đau khổ mà Chơn Ngă cao thượng lại vui.

Tánh cách vui vẻ hay cực nhọc của các kinh nghiệm tùy phương diện quan sát của chúng ta. Trên con Đường Huyền Bí Học, mục đích cấp thời là thực hiện sự ḥa hợp giữa Phàm Ngă với Chơn Nhơn, và sự hợp nhất nầy chỉ có thể thực hiện vào kỳ Điểm Đạo lần thứ nhất. Trong lịch sử linh hồn con người, kể từ lúc được cá thể hóa, không có biến cố nào quan trọng bằng sự Điểm Đạo v́ sự kiện nầy là bước đầu của một đời sống mới, đời sống ư thức trong con Người Thật hay Chơn Nhơn.

 

SỰ THỨC TỈNH CỦA LINH HỒN

 

Trong cuộc hành hương ở cơi vật chất nầy, bao giờ con người c̣n tự đồng hóa hoàn toàn với các thể của ḿnh và bị các thể nầy chủ trị th́ con người quên hẳn bản chất thiêng liêng thật sự của ḿnh và chưa đau khổ, v́ những sự thỏa măn của họ mang tính cách thú dục. Nhưng khi linh hồn bị giam hăm trong khám đường trần thế bắt đầu nhớ đến quê hương thiêng liêng đă rời bỏ từ lâu, khi nhờ ảnh hưởng của t́nh thương, của mỹ lệ và của đức hạnh, linh hồn ư thức được chân tánh của ḿnh th́ lúc đó đau khổ mới phát sanh. Chừng đó chúng ta mới nhận thấy ḿnh giống Prométhée bị xiềng chặt vào khối vật chất. Chúng ta phải ư thức được thật sự ḿnh là ai, nhiên hậu mới biết được rằng ḿnh bị giam cầm và lưu đày. Khi một người ĺa quê từ thuở nhỏ để sống lưu vong trong nhiều năm nơi đất khách, quê người trong sự thiếu thốn và cơ cực của cảnh lưu đày, lớn lên anh chỉ có thể nhớ mang máng thuở xưa anh có sống ở một nơi xinh đẹp hơn. Có thể một ngày kia, khi nghe được một giọng hát quen từ thuở bé, anh băn khoăn trực nhớ những chi đă mất, lúc đó, với một sự đau khổ đột ngột, anh nhận thấy rằng minh là một kẻ lưu đày đă ĺa bỏ biết bao nhiêu điều yêu mến. Kỷ niệm nầy khiến anh khao khát trở về quê hương ḿnh, và sự ham muốn đó càng ngày càng trở nên nồng nhiệt. Chỉ đến lúc đó th́ sự đau khổ và sự chiến đấu mới bắt đầu; đau khổ - v́ anh biết đă mất rất nhiều, chiến đấu – v́ anh thử cố gắng thu lại những chi đă mất.

Sự thức tỉnh của linh hồn cũng giống như thế, trong lúc nó tiến triển, nó đem lại cho chúng ta cả vui lẫn khổ. Vui, v́ bao giờ con người c̣n sống một đời đầy thú dục của các thể, y cũng nếm qua được ít nhiều khoái lạc; khổ, v́ khi nhớ lại chân tánh và quê hương ḿnh, y cố gắng chiến đấu đêm ngày để thoát ra khỏi áp lực  nặng nề của thế giới vật chất đang chủ trị và đồng hóa y với các thể. V́ trước kia, y không ngờ rằng các thể nầy là những giới hạn chật hẹp nên nay chúng mới trở thành cái áo choàng Nessus bám chặt vào vai và y phải gắng sức nhiều mới mong gỡ được. Bây giờ, y mới thấy ḿnh được hợp thành do hai nhân vật; một mặt, y ư thức được Chơn ngă hằng gọi y không dứt trở về quê hương thiêng liêng, mặt khác, bản chất thú dục kết chặt y với các thể và chế ngự y.

 

SỰ CHIẾN ĐẤU TRONG CON NGƯỜI

 

Không có vấn đề nào, không có khó khăn nào trong đời sống của con người quan trọng hơn sự ư thức ta là hai nhân vật kết hợp. V́ thế mà Thánh Paul, quằn quại trong sự tranh đấu giữa thể xác và linh hồn, than một cách thống khổ: “Tôi không làm điều thiện mà tôi muốn, trái lại, tôi lại làm điều ác mà tôi không ưa. Vậy nếu tôi làm điều mà tôi không muốn, th́ không phải chính là tôi làm, mà do tội lỗi trú ẩn nơi tôi. Tôi nhận được một định luật nơi tôi: khi nào tôi muốn làm điều phải, điều ác đến kế bên. Trong nội tâm, tôi cố vui theo luật trời, nhưng xác thân tôi lại tuân theo một luật khác trái hẳn lại và xô tôi vào ṿng tội lỗi. Tôi thật hết sức khổ sở ! Ai giải thoát tôi ra khỏi cái xác chết nầy?” Trong quyển sách “Các lời thú tội” của Thánh Augustin, sự chiến đấu nội tâm nầy được mô tả một cách thấm thía hơn: “Một bên th́ ḷng ngưỡng mộ sự vinh quang của Ngài nâng tôi lên để hợp nhất với Ngài, một bên th́ sức nặng của sự yếu hèn kéo mạnh tôi xuống để xô dập tôi vào chỗ đê tiện, nơi tôi cố gắng vượt lên. Và sức nặng đó không chi khác hơn là những dục vọng xác thịt của tôi”. Và tiếp theo: “Trong tâm tôi, nỗi vui giả tạm và buồn tênh chiến đấu luôn với các nỗi buồn sung sướng và tôi không biết sự chiến thắng sẽ nghiêng về bên nào”. Đó là kinh nghgiệm thiên thu của con người chiến đấu, sự kinh nghiệm mà triết gia Goethe diễn tả rất đúng khi than: “Hỡi ôi ! hai linh hồn đang sống trong người tôi”. Đó là kinh nghiệm của bất luận người chí nguyện nào dấn thân trên con Đường Huyền bí Học, đó cũng là kinh nghiệm của bất cứ một người nào cố gắng sống một cách thanh cao để vâng theo mệnh lệnh của Chơn Nhơn nhưng bị các ham muốn của phàm ngă tŕ kéo xuống. Sự tranh đấu đó không dung tha một ai cả. Con rắn nhiều đầu nầy gây hấn dưới trăm ngàn h́nh thức, khiến đời sống của sinh viên huyền bí học trở thành một thảm kịch vô cùng đau khổ, trong đó các thể phung phí sinh lực nhiều và trở nên suy nhược. Trong đời sống của con người, có chi khó chịu bằng suy tưởng một đàng rồi sau đó lại hành động một nẻo? Bởi thế chúng ta cảm thấy tự khinh lấy ḿnh, sự khinh khi mà Hamlet nói c̣n “đắng hơn là máu”, và thất vọng v́ không khi nào sống được theo ư muốn của ḿnh. Và trong thảm kịch ấy, điều bi thảm hơn hết là nó không hữu ích mấy; nó chỉ là kết quả của sự ngu dốt về các hoạt động của tâm thức của chúng ta.

 

V̀ KHÔNG HIỂU BIẾT NGUYÊN LAI

 

Sau cùng con người tự t́m ra được ḿnh. Đây là một chơn lư kỳ lạ nhưng thông thường: sự thèm khát hiểu biết của con người khởi đầu bằng một điều xa xăm và kết thúc bằng một vịêc gần gũi. Người thượng cổ đă nghiên cứu ṿm trời cao nhưng chỉ có người cận đại mới bắt đầu thám hiểm tâm hồn ḿnh.

Phần đông người đời thấy chính ḿnh là một sự huyền bí, có kẻ không ngờ rằng sự huyền bí nầy lại có được.

Chúng ta hăy thử hỏi một người thường rằng họ thật sự là ai; họ cảm giác, suy tư hay hành động th́ điều chi xảy ra, và cái chi tạo thành sự tranh đấu giữa điều phải và điều quấy mà họ nhận thấy nơi tâm họ, th́ họ chẳng những không trả lời được mà họ c̣n cho những câu hỏi trên là kỳ dị. Thật không có chi lạ bằng thấy một con người trọn đời, chịu đựng mọi điều khổ nhọc để chỉ hưởng những khoái lạc tạm bợ, nặng nề mà không hỏi v́ sao ḿnh phải sống !

Khi gặp một người đi lang thang cực khổ và thiếu thốn đủ điều, nếu chúng ta hỏi y đi đâu và y trả lời không biết th́ chúng ta sẽ cho y là một kẻ điên. Trường hợp nầy giống hệt trường hợp phần đông thiên hạ trong đời sống hằng ngày; họ đi trên đường đời từ thuở trắng răng đến lúc bạc đầu mà không hề hỏi ḿnh đi đâu; hoặc nếu có hỏi, họ cũng hỏi một cách qua loa và không cố gắng t́m câu giải đáp.

Nhưng trong cuộc hành hương dài đăng đẳng đến một ngày kia, linh hồn không thể tiếp tục sống mà không biết đến lư do của đời sống ḿnh; đến một ngày kia v́ thế giới xung quanh không cung cấp được một sự thỏa măn lâu dài, linh hồn ngưng đeo đuổi ảo tưởng một cách cuồng nhiệt như bấy lâu và dừng chân v́ kiệt sức trong sự yên lặng và cô đơn. Đến giờ phút nầy, linh hồn không buồn nh́n các ảo tưởng chung quanh nữa và quay mắt vào cảnh giới nội tâm, cảnh giới của Chơn Ngă, và t́m được nơi đây một chơn lư bất di bất dịch và một thế giới mới lạ hoàn toàn. Lúc đó, và chỉ lúc đó mà thôi, những câu hỏi về đời sống sẽ được giải đáp, nhưng như EMERSON đă nói, linh hồn không bao giờ trả lời bằng lời nói, mà bằng đối tượng của các cuộc sưu tầm của chúng ta.

 

CHÂN TÁNH CỦA CHÚNG TA

 

Trong thời gian chiến đấu, chúng ta tự đặt nhiều câu hỏi về mục đích của đời sống, nhưng khi các câu trả lời đến, chúng không đáp ngay câu hỏi, mà lại diễn biến theo kinh nghiệm của sự thật.

Bởi thế, về con người huyền bí, câu trả lời không phải là sự mô tả cách thức cấu tạo con người, mà lại là sự khám phá cái Chơn Ngă thân mật và cảnh giới của Chơn Ngă. Trong cảnh giới nầy, xuyên qua sự chiến đấu hằng ngày giữa hai nguyên lư Chơn Ngă và Phàm Nhơn, chúng ta thấy hiện ra một chơn lư tuyệt đẹp.

Thiêng liêng là đặc tánh của con người, v́ con người là con của Đức Thượng Đế nên được chia sớt bản tánh của Đấng Cha trọn lành. Quê hương thật của con người là Cảnh giới Thiêng liêng, nơi đó y sống và hoạt động từ “vĩnh cửu nầy đến vĩnh cửu khác”. Trong cảnh giới nầy, Chơn Nhơn có những hoạt động đặc biệt, và sống một cuộc đời an lạc và vinh quang ngoài sức hiểu biết của con người. Tuy nhiên, có một bài học hay một kinh nghiệm mà Chơn Nhơn không thể t́m trong cảnh giới ấy nên nó phải chuyển tâm thức đến những cơi biểu hiện, để ư thức trong ngoại cảnh phức tạp, cái “Ngă” với cái “Phi Ngă”. Và chỉ nơi đó mà thôi, nhờ các thể tạo thành bằng chất của ngoại cảnh liên hệ, Chơn Nhơn mới nhận định được cái Ngă của ḿnh, cái Ngă của một cá thể riêng biệt. Trong quê hương thật sự của Chơn Nhơn, không có sự phân biệt giữa cái Ngă và cái Phi Ngă, và các phần tử đều ḥa hợp trong tâm thức chung của toàn thể. V́ thế, quan niệm về cái Ta riêng biệt không thể hoạch đắc được tại cơi thiêng liêng nầy. Chỉ trong các cảnh giới biểu hiện là cảnh giới vật chất, t́nh cảm và tri thức, nhờ sự đối chiếu giữa chủ thể và khách thể, Chơn Nhơn mới ư thức được cá thể riêng của ḿnh. Như vậy, chính v́ muốn học hỏi mà Chơn Nhơn mới giáng xuống các cơi biểu hiện và mượn những chất của các cơi nầy để tạo thành các thể. Đó là sự thiên di của linh hồn đến các cơi tối tăm được diễn tả một cách tượng trưng trong lịch sử của sự Sáng Tạo Vũ Trụ. Thiên Đàng nguyên thủy không phải là một trạng thái lâu dài, tuy rằng nó rất tốt đẹp và điều ḥa. Linh hồn cần phải nếm qua những quả Thiện, quả Ác và quả Hiểu Biết, dù rằng phải xa ĺa Thiên Đàng. V́ tự xét cần phải hiểu biết các cơi vật chất, linh hồn mặc vào “những áo da” là những thể vật chất, và phải chịu đựng những điều kiện nặng trọc của đời sống vật chất. Sự lưu vong nầy rất dài và sẽ kết thúc bằng sự cứu rỗi và sự phục sinh khi nào linh hồn ư thức được trở lại bản tánh thiêng liêng của ḿnh, nghĩa là khi nào Đấng Chí Tôn hiện nơi tâm con người. Lúc đó, linh hồn trở về Thiên Đàng với một tâm thức rộng răi hơn, phong phú hơn nhờ hưởng được nhiều kinh nghiệm của các kiếp ở cơi biểu hiện.

 

THẢM TRẠNG CỦA LINH HỒN

 

Như thế, chúng ta có thể xem các kiếp luân hồi kế tiếp của linh hồn trong các cơi biểu hiện như là một lối hoạt động đặc biệt của Chơn Nhơn, nhằm mục đích hoạch đắc những kinh nghiệm không thể thu thập được bằng cách nào khác hơn. Sự giam hăm tâm thức thiêng liêng trong ba thể (thể xác, thể vía và thể trí) là một bi kịch, một sự sa đọa vào vật chất, đó là nguyên nhân của tất cả những nỗi buồn khổ mà linh hồn phải chịu suốt cuộc hành hương của ḿnh. Bởi v́ khi linh hồn kư thác một phần tâm thức của ḿnh vào ba thể là những dụng cụ phục vụ, phần nầy lại đồng hóa với các thể và lầm tưởng ḿnh là các thể. Do đó, phần tâm thức nầy tách ra khỏi tâm thức vô biên của Chơn Nhơn để sống riêng rẽ với các thể và trở thành một cá thể cách biệt và chống đối với mọi sinh vật: cá thể ấy là Phàm Nhơn.

Đó là sự tích của chàng NARCISSE đẹp trai: thấy bóng ḿnh soi dưới nước, NARCISSE toan ôm bóng ấy vào ḷng nên nhào sâu dưới ḍng sông. Tâm thức ta cũng thế: khi nhập vào ba thể, nó đồng hóa với các thể, tách khỏi Chơn Ngă cố hữu và quên hẳn nó là con của Thượng Đế nên nó cũng ch́m sâu trong biển vật chất.

Đó là tấn kịch dài nhiều thế kỷ của linh hồn lưu vong, sa đọa và quên hẳn di sản thiêng liêng của ḿnh v́ trót phục lụy một cách vô ư thức các thể là những dụng cụ của ḿnh. Thảm kịch này được tượng trưng bằng sự tích SOPHIA bị bọn cướp bắt giam, chưởi mắng và sỉ nhục cho đến lúc được Đấng Ki Tô [1] đến giải thoát để đưa về quê thiêng liêng.

Làm sao có thể tưởng tượng một tấn kịch thê thảm hơn, một sự sa đọa nhơ nhớp hơn t́nh trạng của một linh hồn thuộc hàng quí tộc vinh sang và thiêng liêng nhất, mà nay lại quên nguồn gốc để hạ ḿnh làm nô lệ cho vật chất trong một đời sống xấu xa, ô nhục ! Nhưng thỉnh thoảng ta mới nghĩ đến thảm kịch nầy khi nhơn loại hiện ra rất xấu xa trong sự hận thù, hung bạo, tục tằn, vô minh, thiển cận hay điên cuồng và chừng ấy, ta mới ư thức được một cách đau khổ sự đồi trụy của Chơn Ngă bất diệt ở nơi ta.

 

CẦN THAY ĐỔI THÁI ĐỘ

 

Nếu chúng ta cảm giác ở ta có hai nhơn vật – một cái Ta cao thượng bên trong  và một cái Ta thấp hèn bên ngoài – là v́ chúng ta vô minh. Con người không phải hai mà là một. Chúng ta là cái Ta thiêng liêng và chỉ là cái Ta đó mà thôi. Cảnh giới nó là cảnh giới của chúng ta, đời sống của nó là đời sống của chúng ta. Nhưng khi kư thác tâm thức thiêng liêng của chúng ta vào các thể dùng để thu thập kinh nghiệm, chúng ta lại đồng hóa với các thể và quên hẳn chúng ta là ai. V́ vậy, tâm thức bị tù hăm trong ba thể và chỉ biết chạy theo các dục vọng của chúng để trở thành cái mà chúng ta gọi là cái Ta thấp hèn hay Phàm Ngă. Tiếng nói của nội tâm, tiếng nói chính của chúng ta từ nay được xem như là tiếng gọi của Chơn Nhơn, và giữa Chơn Nhơn và Phàm Ngă, một sự chiến đấu nổi lên gây biết bao đau khổ. Nguyên nhân các đau khổ nầy là sự vô minh nên chúng sẽ đương nhiên chấm dứt phần nào khi chúng ta biết được bản chất chơn thật của chúng ta. Chúng ta cần phải thay đổi hẳn thái độ. Trước hết, cho rằng ở ta có hai nhơn vật là một quan niệm sai lầm. Chúng ta măi cho rằng linh hồn hay Chơn Nhơn với tất cả những chi được xem là quí báu đều thuộc về một nhơn vật đứng trên cao vời vợi, c̣n chúng ta là bản chất đê hèn, là Phàm Ngă, chúng ta lặn hụp dưới hố sâu. Đoạn, chúng ta mới cố gắng vượt lên để đoạt các tài sản quí báu đó, cố gắng một cách gian lao v́ chúng ta tưởng tài sản ấy là hoàn toàn xa lạ. Các cố gắng ấy thường được cho là “kinh khủng”. Về cảm hứng thanh cao, kiến thức kỳ diệu, năng lực tâm linh hay t́nh cảm bác ái, chúng ta cũng nói từ Chơn Nhơn giáng xuống. Chúng ta măi phạm một điều sai lầm căn bản là đồng hóa ḿnh với những chi không phải là ḿnh, và đề cập mọi vấn đề tâm linh với sự sai lầm ấy. Điều kiện thành công trước tiên trong lănh vực tâm linh là tin một cách tuyệt đối rằng chúng ta là Chơn Nhơn; điều kiện thứ nh́, cũng quan trọng và chánh yếu không kém, là tin ở quyền năng của Chơn Nhơn và can đảm sử dụng các quyền năng nầy một cách tự nhiên. Thay v́ xem tâm thức thường nhật của chúng ta là tự nhiên và b́nh thường, và ngước mắt nh́n Chơn Nhơn như một nhơn vật cao cả không thể tiến gần, chúng ta phải xem tâm thức thường nhật ấy là dị thường và trái với trật tự thiên nhiên. Đời sống của Chơn Nhơn phải là đời sống hằng ngày của chúng ta.

 

SỰ CÁCH BIỆT LÀ MỘT TRẠNG THÁI DỊ THƯỜNG

 

Chúng ta không sao tưởng tượng được các cố gắng lớn lao và liên tục nhằm duy tŕ các ảo tưởng rằng ta là phàm ngă riêng tư. Từ sáng đến chiều, chúng ta xác nhận, bảo vệ cái phàm ngă thân yêu ấy mỗi khi nó bị công kích, chúng ta săn đón cách nào để cho không ai quên nó, khinh thường nó hay thiếu lễ độ đối với nó. Mặt khác chúng ta c̣n cố gắng thực hiện những điều nó mong muốn riêng để nó hiêu hiêu cách biệt mọi người.

Khi Chơn Nhơn đồng hóa với các thể vô thường dùng để biểu hiện nó, th́ các ảo tưởng về cái Ta riêng biệt xuất hiện. V́ vậy, khi tâm thức của Chơn Ngă giáng xuống các thể th́ nó không nhập vào được mà dường như bị vặn lại để bao ngoài các thể trong một trạng thái dị thường trái hẳn với thiên nhiên. Nó giống như một sợi dây cao su cột vào một vật ǵ và bị kéo giăn. Nếu thả ra th́ dây cao su trở về trạng thái điều ḥa lúc trước. Cũng thế, tâm thức của chúng ta đang bị cột chằng với các thể, ta hăy mở nó ra, hăy giải thoát nó. Nói khác đi, chúng ta chỉ cần từ bỏ cái ảo tưởng biệt lập mà chúng ta rất mến yêu th́ cái tâm thức riêng rẽ đă tạo ra phàm nhơn sẽ tự nhiên trở về với cái Ta lớn hơn là Con Người Thật. Chúng ta thường nói đến sự cố gắng vô biên để vươn lên tâm thức thiêng liêng, nhưng chúng ta đâu có để ư đến các nỗ lực kinh khủng đang duy tŕ cái Ta riêng biệt. Đúng ra, chúng ta duy tŕ cái ảo tưởng đó mà chúng ta không dè. Xác nhận cái Ta riêng rẽ một cách bất lợi cho những kẻ chung quanh, thâu đoạt những điều chúng ta ham muốn và giữ ǵn những điều chiếm hữu, tất cả những việc đó trở thành bản tánh thứ nh́ của chúng ta khiến chúng ta không để ư đến các nỗ lực to lớn ấy nó nhằm xác nhận và phô trương phàm ngă.

Vậy chúng ta cần chấm dứt các nỗ lực sai lầm ấy để chúng đừng giam hăm chúng ta làm nô lệ cho các cơi vật chất và ngăn cản không cho chúng thấy sự thật về các cơi nầy. Chúng ta hăy xác nhận, quả quyết và duy tŕ sự thiêng liêng của Chơn Nhơn. Trong sự xác nhận đó, không thể có một sự kiêu căng hay một sự chia rẽ nào, v́ đặc tánh của hai cơi thật của chúng ta là sự hợp nhất, trong đó, không thể có sự tự măn và sự vĩ đại cá nhơn. Sự ngạo mạn là một thứ cây chỉ có thể nẩy nở ở các cơi vật chất nặng trược mà thôi; ở quê hương của chúng ta, nó không thể  mọc được. Giải thoát tâm thức ta ra khỏi áp lực của các thể, nhận thức các quyền năng mà chúng ta sẵn có với tư cách là Chơn Nhơn, nhất quyết không để bị ràng buộc trở lại trong mạng lưới của đời sống vật chất, đó là phương cách duy nhất để đạt mục đích của chúng ta là chấm dứt sự chiến đấu khốc liệt giữa Chơn Nhơn và Phàm Nhơn, nó đầu độc đời sống của bao nhiêu người chí nguyện đang nghiêm trang vươn lên sự Điểm Đạo, từ cái Ta đê hèn đến cái Ta khả kính.

 

THỎA HIỆP KHÔNG ĐỦ, CẦN PHẢI HÀNH ĐỘNG

 

Đọc một tư tưởng hay, học một tư tưởng qui chưa đủ, chúng ta c̣n phải mang ra thực hành mới hưởng lợi được. Trong những trang sau đây, chúng ta sẽ thử thực hiện một kinh nghiệm là nh́n nhận chúng ta là Chơn Nhơn trong tâm thức thật của ḿnh và cố giải thoát tâm thức đó ra khỏi mọi giới hạn để đưa nó vào cơi của sự an vui và sự tự tại thiêng liêng, nghĩa là vào cơi thật của nó.

Vào thời đại của chúng ta, phải hành động chớ không nên nói suông. Ư tưởng nầy rất thông thường và rất đúng, cần được áp dụng một vài loại diễn thuyết hay sách mà tác giả hay diễn giả không chỉ tŕnh bày để mọi người thưởng thức, mà c̣n cố đưa họ vào những vùng bí ẩn, trong đó họ sẽ được dẫn đường, chỉ nẻo nhưng họ phải tự ḿnh đi lấy mới được. Những bài diễn thuyết và những sách của chúng tôi thuộc về loại nầy nên cần được đem ra thật hành. Các độc giả và thính giả phải nhận thấy nơi tâm thức riêng của ḿnh những điều đă được tŕnh bày. Chúng ta sẽ áp dụng phương cách đó để tự t́m lấy cái Chơn Ngă của ḿnh. Chúng ta không nên xem các trang nầy như ngắm một ngoại cảnh, trái lại, chúng ta cố ḥa đồng và thực hiện trong tâm thức, các điều được đọc trong đó.

 

đàu trang cuối trang mục lục lời tựa chương 1 chương 2 chương 3 chương 4 chương 5 kết luận

CHƯƠNG II

 

CON DƯỜNG DẮT ĐẾN CHƠN NHƠN

 

Khi chúng ta suy nghĩ về chúng ta và ghi nhận những ư tưởng hiện ra trong trí, chúng ta sẽ nhận thấy các ư tưởng ấy phản chiếu h́nh dạng và tên tuổi của chúng ta như trong một tấm gương soi. Ấy là cái ảo ảnh thứ nhứt cần vượt qua, v́ bao giờ chúng ta c̣n trụ tâm vào h́nh dạng nầy là thể xác, chúng ta sẽ đồng hóa với nó, và đó chính là cái điều phải tránh. V́ khi chúng ta tự đồng hóa với thể xác hay với đối phần thanh nhẹ của nó là thể phách, chúng ta sẽ bị bắt buộc chạy theo các dục vọng và các điều kiện sinh sống của nó. Do đó, nẩy sanh sự yếu đuối, bịnh hoạn, sự nặng nề hay trơ ĺ khiến ta không thể đáp lại lời kêu gọi của nội tâm.

 

BIẾN ĐỔI TRONG THỂ XÁC

 

Mọi việc sẽ thay đổi hẳn khi chúng ta diệt được cái ảo tưởng rằng ḿnh là thể  xác, và nhận thấy rằng thể xác chẳng qua là một đứa tớ hay một dụng cụ để chúng ta sử dụng ở cơi trần. Chừng đó vị trí của chúng ta sẽ thay đổi lại. Thay v́ đồng hóa với thể xác và để cơi trần chế ngự chúng ta qua sự trung gian của nó, chúng ta sẽ chế ngự lại cơi trần xuyên qua thể xác đă tùng phục chúng ta. Cái trọng tâm nay được di chuyển từ thể xác đến tâm thức. Chúng ta phải cảm giác rằng chúng ta đặt trung tâm của tâm thức phía sau thể xác và từ đó, chúng ta hành động bằng thể xác nhưng không ḥa đồng với nó. Khi ta thay đổi thái độ đối với thể xác như vậy, ta thực hiện một sự thay đổi sâu xa ở con người. Giống như mạt sắt tụ hợp và xếp đặt theo những lực tuyến trong từ trường của viên đá nam châm, những phần tử của thể xác và thể phách cũng được sắp xếp theo ảnh hưởng chỉ đạo duy nhứt của Ư chí bên trong, thay v́ ở trong trạng thái hỗn loạn rất dễ bị ngoại cảnh chi phối. Chúng ta phải cảm giác như thế, phải nhận thấy sự thay đổi ấy, một sự thay đổi quan trọng tạo nên do sự xác nhận rằng ta không phải là thể xác mà thể xác là vật sở hữu của ta. Kể từ nay, chúng ta phải cảm giác rằng một phần lớn năng lực và vật thực cung cấp cho thể phách và thể xác là do ở nội tâm chứ không phải lấy ở ngoại cảnh. Sự thay đổi toàn vẹn nầy cần được lănh hội và cảm xúc hơn là sự xét bàn và thảo luận. Chúng ta phải cảm thấy thể xác rung động cùng một tiết điệu với tâm thức và tùng phục qui lệ và địều kiện của nội tâm hơn là của ngoại cảnh.

Dù hoạt động hằng ngày của chúng ta có ra sao chăng nữa, chúng ta cần phải giữ thái độ đó. Chúng ta phải luôn luôn cảm thấy rằng trong mọi hoạt động, chính chúng ta sử dụng một cách ư thức thể xác, chứ thể xác không tự nó hoạt động được. Sau đó, chúng ta buộc nó có những tập quán rất đều trong sự ăn, ngủ và thể dục để nó trở thành một dụng cụ hoàn toàn. Nếu các bắp thịt của chúng ta không được luyện tập hằng ngày th́ chúng ta làm sao có thể mong có được một thân thể dẻo dai và bén nhạy? Sức khỏe cần hơn là chúng ta thường tưởng. Chúng ta c̣n nên dùng thức ăn chọn lọc để thể xác được linh hoạt và dễ dạy. Thay v́ đụng chi ăn nấy, chúng ta nên chọn lựa những thức ăn nào có thể giúp thân thể trở thành một dụng cụ tinh khiết, khỏe mạnh và thanh bai. Trong lúc ăn, chúng ta phải ư thức rằng các thức ăn được phân phối trong thể xác chính từ bên trong. Hăy thực hiện việc đó và kinh nghiệm lấy hơn là xem như một đề tài học hỏi. Nên có cảm tưởng rằng chúng ta ăn một cách ư thức và với mỗi miếng ăn, chúng ta chuyển chất bổ vào cơ thể bằng một phương thức tâm linh. Những tín đồ Thiên Chúa Giáo có chân trong một giáo hội hiểu rơ giá trị của các thánh lễ do Đấng Ki Tô đặt ra, và ư nghĩa của lễ ban thánh thể; họ cũng biết cách thức đặc biệt dùng bánh và rượu vang sau buổi lễ nầy. Các thức ăn cần được ăn với cách thức ấy v́ rằng tất cả mọi vật đều được Đấng Ki Tô ban phép lành và sự sống của Ngài đều ẩn trong vạn vật, tuy rằng sự Hiện Diện của Ngài được biểu hiện một cách toàn vẹn hơn trong bánh thánh và rượu vang.

Với cách thức nầy, cũng như với nhiều cách thức khác, chúng ta cố tinh lọc thể phách và thể xác (cách thức nầy được các triết gia về phái luyện kim biết rơ và gọi là sự phục sinh), để chúng trở thành những dụng cụ hoàn toàn cho Chơn Nhơn. Sự biến đổi nầy rất thường thấy và một khi được thực hiện, nó sẽ đập tan cái áp lực của thể xác trên tâm thức; chừng đó thể xác sẽ là một dụng cụ thích nghi và hữu hiệu.

 

BIẾN ĐỔI TRONG THỂ VÍA

 

Bây giờ chúng ta đă thay đổi thái độ đối với với thể xác nên tâm thức ta đương nhiên rút khỏi thể nầy. Lẽ tự nhiên là: nó không rút ra trọn vẹn (v́ như thế chúng ta sẽ buồn ngủ hoặc lâm vào trạng thái xuất thần), nhưng nó không c̣n bị giới hạn trong thể xác nữa và vươn cao lên, nhờ đó chúng ta mới có thể sử dụng thể xác để hoạt động.

Khi chúng ta đă rút tâm thức ra khỏi thể xác rồi, chúng ta phải thực hiện một sự biến đổi trong thể t́nh cảm là thể vía, cũng như chúng ta đă làm đối với thể xác. Chúng ta cũng gặp lại các nỗi khó khăn trước. Bấy lâu, chúng ta đă để thể vía tùy thuộc cơi t́nh cảm nên cơi nầy từ bên ngoài cấu tạo thể vía chúng ta với các ham muốn và xúc động của nó.. Lư do là chúng ta chưa phân biệt được giữa cái “Ngă” và cái “Phi Ngă” ở cảnh giới “bên trong” là cảnh giới của t́nh cảm và tư tưởng, và cho rằng các t́nh cảm và tư tưởng của chúng ta “phát sinh ngay trong chúng ta”, trong lúc chúng từ bên ngoài đến hay ít ra cũng bắt nguồn từ bên ngoài. Theo sự quan sát của những người có huệ nhăn, th́ màu sắc của một thể vía như thế phân phối không đồng đều và thay đổi nhanh chóng theo ảnh hưởng bên ngoài. T́nh trạng nầy cần phải thay đổi. Chúng ta phải xem cái vía và sử dụng nó như là một thể dùng để biểu hiện ở cơi Trung Giới. Chơn Nhơn phải luôn luôn xem chừng thể vía và cấu tạo nó từ bên trong bằng cách chuyển cho nó những t́nh cảm do nội tâm chọn lọc.

Quí vị thử cảm thấy sự thay đổi nầy nơi ḿnh. Quí vị thử cảm thấy thể vía ḿnh không c̣n các dục vọng và cảm xúc đê hèn, và với tư cách Chơn Nhơn, hăy chọn những t́nh cảm tốt đẹp để tô điểm nó như là một vật sở hữu. Quí vị hăy cảm xúc những t́nh cảm đó, hăy ư thức chúng tỏa chung quanh thể vía. Trước tiên, quí vị hăy cảm thấy ḷng thấm đượm t́nh thương, một t́nh thương bao la ôm ấp muôn loài vạn vật, thay v́ thứ t́nh thương ích kỷ chỉ muốn chiếm đoạt cho riêng ḿnh. Quí vị hăy cảm thấy ḷng sùng bái – sùng bái Đức Chơn Sư, các công nghiệp vĩ đại và các điều cao cả - tràn ngập thể vía. Kế đó, quí vị hăy nghĩ đến các người đau khổ và cảm thấy linh hồn từ bi của ḿnh đến an ủi họ trên khắp thế gian. Sau cùng, quí vị hăy có những hoài băo tâm linh, quí vị hăy cảm thấy ḷng hướng lên những điều cao thượng một cách nồng nhiệt và thể vía ḿnh sáng rực trong trạng thái nầy. Khi quí vị, là Chơn Nhơn, đă quyết định những t́nh cảm nào sẽ là của ḿnh, và đưa các t́nh cảm thanh cao ấy vào thể vía một cách ư thức, th́ thể vía sẽ có một trạng thái mới. Không c̣n chứa chấp những t́nh cảm phất phơ, mập mờ và luôn luôn thay đổi, nó hiện ra sáng chói, luôn luôn phát huy những t́nh cảm cao đẹp do quí vị chọn lựa và rung động nhịp nhàng với các cảm xúc nội tâm. Bây giờ, người có huệ nhăn thấy nó khác hẳn lúc trước. Màu sắc nó không c̣n lờ mờ và phân từ vùng nữa mà trái lại chiếu rực rỡ từ trung tâm thành những ṿng đẹp đẽ. Nó đă được biến đổi như thể xác.

Sự biến đổi nầy cũng có thể so sánh với một mớ mạt sắt trong một từ trường. Bây giờ thể vía đă có Ư chí làm trung tâm chỉ đạo và trở thành một đứa tớ ngoan. Không một kích thích hay một cám dỗ bên ngoài nào có thể gợi ở nó những cảm giác hoặc dục vọng mà chúng ta không muốn. Nó không c̣n dính liền với cơi Trung giới mà được tách rời ra để liên kết với Chơn Nhơn. T́nh thế đă thay đổi hẳn; từ nay, thể vía sinh hoạt dưới sự hướng dẫn của nội tâm và sẽ phát huy liên tục các t́nh cảm thanh cao để tô điểm cuộc đời.

Khi biến đổi thể vía được như thế, chúng ta tiến thêm một bước nữa đến sự chấm dứt cuộc chiến đấu giữa Phàm Ngă và Chơn Nhơn, trước kia rất gay go, v́ trong lúc c̣n vô minh, chúng ta đă để cho các thể chế ngự một phần tâm thức của ḿnh. Khi ta đặt thể vía dưới sự chỉ đạo của nội tâm, tâm thức của chúng ta được di chuyển một lần nữa; bấy lâu, nó bị liên kết vào thể vía, nay nó được giải thoát và đưa lên gần cảnh giới của nó. Nhờ vậy, thể vía được chăm nom và điều khiển từ bên trong và sẵn sàng vâng lệnh của chúng ta.

 

BIẾN ĐỔI TRONG THỂ TRÍ

 

Bây giờ đến lượt thể trí. Về một vài phương diện, sự biến đổi thể trí quan trọng hơn tất cả, v́ nó chấp chứa một nguy cơ rất lớn đối với chúng ta mà chúng ta không ngờ.

Chúng ta không khi nào hành động hay nói năng mà chẳng suy nghĩ hay tưởng tượng trước hành động hay lời nói ấy, nhưng chúng ta không lưu ư đến. Những hoạt động trí thức rất nhanh, tâm thức của chúng ta lại là một lănh vực c̣n rất mới lạ, nên chúng ta không biết được những điều xảy ra trong đó. Tuy nhiên, chúng ta không thể giơ tay lên mà không suy nghĩ trước về cử chỉ nầy. Vậy khi hành động, chúng ta tạo trước một h́nh ảnh, và v́ h́nh ảnh nầy có tánh cách sáng tạo nên nó tự thực hiện và trở thành hành động. Trong chúng ta, tư tưởng là sự biểu hiện của Đấng Thánh Linh của Chúa Sáng Tạo. Nói khác đi, Năng Lực Sáng Tạo tối thượng biểu lộ trong quan năng suy tưởng. Khi suy tưởng, chúng ta tạo một h́nh ảnh và chuyển vào h́nh ảnh đó Năng Lực Sáng Tạo thiêng liêng, v́ đó mà hành động phát sanh. Đôi khi, tư tưởng cần được lập lại nhiều lần để nó có đủ năng lực cần thiết. Khi một tư tưởng được lập đi, lập lại như thế, nó sẽ tạo nên tập quán và buộc ràng, cưỡng bách chúng ta.

Thật ra, nếu chúng ta tạo h́nh tư tưởng từ nội tâm một cách ư thức th́ vô hại, Nguy cơ, một nguy cơ kinh khủng đe dọa đời sống của chúng ta, là chúng ta để ngoại cảnh tạo các h́nh ảnh ấy – thường là rất xấu – và dồn chất thanh khí sáng tạo; v́ vậy các h́nh tư tưởng nầy chứa đầy năng lực và cần t́m cách  trút vơi để thi hành chức vụ của chúng.

Chính sự hoạt động hỗn loạn nầy gây chiến đấu nội tại và các khó khăn tâm linh khiến cho thể trí thay v́ phục vụ chúng ta lại sai khiến chúng ta. Bao giờ chúng ta c̣n cho phép thể trí tạo h́nh tư tưởng theo tác động bên ngoài th́ chúng ta nguy mất và cuộc chiến đấu tiếp diễn không ngừng.

 

TAI HẠI CỦA MỘT TRÍ TƯỞNG TƯỢNG HỖN LOẠN

 

Chúng ta hăy lấy ví dụ một người nghiện rượu. Người nầy biết rơ các tai hại của tật xấu ấy; gia đ́nh nghèo khổ, tiền lương phung phí, vợ con thiếu hụt, và trong lúc sáng suốt, anh quyết định chừa rượu. Nhưng khi đi qua quán rượu, anh thấy người ta ra vào và đôi khi, c̣n ngửi cả mùi rượu. Đến đây chưa có cám dỗ và cũng chưa có đấu tranh. Nhưng trong một khoảnh khắc, anh thấy anh uống rượu và tạo một h́nh tư tưởng của anh đang thỏa thích với rượu. Anh nghĩ rằng sự tưởng tượng nầy thỏa măn được sự thèm của anh, nhưng thật sự, nó lại làm cho anh thèm thêm. Sau khi tưởng tượng như vậy, anh mới kêu gọi ư chí và nói: “Tôi không muốn uống rượu”, nhưng sự việc đă trễ rồi, và sự chiến đấu trở thành vô ích. Thường th́ như vậy; khi h́nh tư tưởng được tạo th́ hành động xảy ra. Có thể rằng h́nh tư tưởng nầy c̣n yếu và người nghiện có thể hủy diệt nó, nhưng anh cũng phải chiến đấu, phí sức và đau khổ. Phương cách tốt nhất là đừng tạo h́nh tư tưởng nói trên và can thiệp khi sự can thiệp c̣n hữu hiệu.

Trí tưởng tượng hỗn loạn nầy gây nhiều đau khổ hơn chúng ta tưởng. Biết bao trường hợp vướng vấp, sa ngă, nhất là về sắc dục, đều do trí tưởng tượng hỗn loạn, chứ không phải v́ ư chí ươn hèn. Người ta có thể có những ham muốn nồng nhiệt, nhưng chính tư tưởng sáng tạo mới gây hành động. Phần đông người đời không hiểu hoạt động của tư tưởng, và không thấy, không rờ chúng được, nên cho chúng là vô hại. Đó là một nguy cơ to lớn. Người mê đắm sắc dục có thể nh́n kẻ ḿnh ham muốn mà không sao, y cũng có thể nhớ tưởng đến kẻ ấy với điều kiện là đừng tưởng tượng các khoái cảm gây nên do sự thỏa măn. Chỉ khi nào y tạo ra h́nh ảnh của chính y đang hưởng lạc, và cho phép dục vọng tăng cường h́nh ảnh nầy th́ y mới lâm nguy.

Khi một người bị bao quanh bởi các món y ham muốn, y có thể khỏi phải chiến đấu nhọc nhằn nếu y đừng để trí tưởng tượng phản ứng trước những món ấy. Chúng ta cần nhân định rằng các món cám dỗ nầy tư chúng, chúng không có một quyền lực nào, trừ phi khi ta để trí tưởng tượng của ta sáng tạo những h́nh ảnh bất hảo. Một khi quyền năng sáng tạo của ta hoạt động sai rồi th́ sự chiến đấu sẽ diễn ra. Chừng đó, chúng ta nhớ đến cái mà chúng ta gọi là ư chí để cố gắng chiến đấu với các tai hại do chính chúng ta tạo thành. Các cố gắng khó khăn và bấn loạn nầy không phải là Ư chí như người ta thường hiểu.

 

SỬ DỤNG Ư CHÍ

 

Trong quyển sách nổi tiếng về sức mạnh của trí tưởng tượng gây quyền năng sáng tạo của tư tưởng, ông Coué quả quyết rằng trong sự tranh đấu với Ư chí trí tưởng tượng lúc nào cũng thắng; tác giả nói đúng nếu ư chí được hiểu như là một sự kháng cự khó khăn và bấn loạn. Ví dụ: lúc tập cỡi xe đạp, chúng ta thấy đứng sựng trước mặt ta một thân cây nhưng ta lại đâm thẳng vào để té ầm xuống. Tại sao ta đâm vào cây? Là v́ trí tưởng tượng hỗn loạn của chúng ta tạo h́nh ảnh ta đụng vào cây, rồi chúng ta lại tăng cường h́nh ảnh đó bằng sự sợ hăi. Kế đó, chúng ta mới nghĩ phải chống cự cách nào để tránh cây. Sự kháng cự nầy đă trễ và chỉ có hại, v́ nó làm trí tưởng tượng càng thêm hỗn loạn.

Nếu chúng ta sử dụng ư chí đúng cách, chúng ta không khi nào lại để cho trí tưởng tượng phản ứng trước thân cây. Chúng ta lưu ư thấy cây nầy và b́nh tĩnh ghi nhớ sự hiện diện của nó mà vẫn giữ trong trí tưởng tượng h́nh ảnh con đường thênh thang, trống trải. Như vậy thân cây sẽ không làm bận trí ta và chúng ta sẽ b́nh yên đạp xe tiến thẳng trên đường.

Một câu chuyện cổ thuật ba người xạ thủ nhắm bắn một con chim đang đậu trên cành. Người thứ nhất nh́n thấy cành cây và bắn hụt con chim; người thứ nh́ nh́n con chim và chỉ bắn mũi tên phớt nó; người thứ ba khi nhắm con chim (chắc đây là một con chim rất b́nh tĩnh), th́ không nh́n cành cây hay con chim, mà chỉ nhắm mắt chim và y bắn trúng. Quyền năng của Ư chí cũng giống như thế, nó chỉ chú vào mục đích phải đạt mà thôi. Nếu người nghiện rượu nói lúc năy biết vận dụng Ư chí, th́ y chỉ có một ư tưởng duy nhất là tiếp tục con đường của y; nhờ đó, y có thể đi ngang qua quán rượu mà khỏi bị cám dỗ và chiến đấu. Đó mới chính là năng lực của Ư chí thật sự, nó giúp chúng ta tập trung trọn vẹn tâm trí vào một mục phiêu nhất định. Tác dụng của Ư chí không phải làm việc nầy hay tránh việc nọ, tác dụng của nó là giữ trong tâm thức một ư định duy nhất mà thôi.

 

MỘT ĐIỂM QUAN TRỌNG VỀ THỂ TRÍ

 

Như vậy, thể trí có một sự quan trọng đặc biệt. Chúng ta không thể để nó kết tạo một h́nh ảnh nào mà không có sự chấp thuận của ta là Chơn Nhơn. Quí vị hăy loại ra khỏi thể trí mọi h́nh ảnh, mọi tư tưởng bất hảo. Quí vị hăy huấn luyện nó như các thể khác để nó trở nên nhạy cảm và phục lụy nội tâm thay v́ tùy thuộc ngoại cảnh. Sau sự thay đổi nầy, người có huệ nhăn thấy thể trí hiện rực rỡ dưới ánh sáng của nội tâm và ḥa đồng với tâm thức Chơn Nhơn.

Nhưng như thế chưa đủ, v́ với cách đó, chúng ta chỉ ngăn cản thể trí không cho trở thành một chướng ngại vật trên con đường tiến hóa, chỉ có thế thôi. Chúng ta c̣n phải biến đổi năng lực sáng tạo của thể trí thành những năng lực tốt đẹp. Thể trí trở thành vô hại chưa đủ, nó c̣n phải phục vụ chúng ta. Nó phải sáng tạo và tăng cường bằng cảm xúc, các tư tưởng xét cần thực hiện trong đời sống hằng ngày. Mục đích của sự tiến hóa chúng ta là sự toàn thiện, không phải toàn thiện một cách ích kỷ, mà với nguyện vọng làm vơi nhẹ phần nào gánh nặng của trần gian. Vậy thay v́ cấu tạo trong trí ta những ǵ ta cố tránh như chúng ta thường làm một cách vô ư thức, chúng ta hăy tưởng tượng con người toàn thiện mà chúng ta sẽ trở thành. Với tất cả năng lực sáng tạo của thể trí, chúng ta hăy tưởng tượng ḿnh là con người thiêng liêng về các phương diện bác ái, ư chí, tư tưởng sáng tạo trong lời nói và việc làm. Chúng ta hăy để h́nh ảnh nầy tràn ngập thể trí và tăng cường nó bằng các xúc động thanh cao của sự an lạc, ḷng bác ái, sự cung hiến và các nguyện vọng tâm linh. H́nh ảnh nầy sẽ đào luyện con người thiêng liêng nhờ năng lực sáng tạo của trí tưởng tượng. Năng lực nầy lúc trước gây cho chúng ta bao nhiêu đau khổ, th́ bây giờ hữu ích bấy nhiêu, v́ khi chúng ta sử dụng trí tưởng tượng một cách ư thức rồi chúng ta không c̣n là đứa tớ của nó nữa. Nó không c̣n sai khiến chúng ta mà trở thành một dụng cụ của chúng ta. Một năng lực thù nay trở thành năng lực bạn.

Năng lực sáng tạo của trí tưởng tượng trong vai tṛ kiến tạo thật vô biên. Chúng ta có thể sử dụng năng lực ấy không những trong cách ăn ở và trong hành động hằng ngày mà cả trong công việc làm và trong các tṛ tiêu khiển, một khi chúng ta biến thể trí thành một kẻ phục dịch hiền lành.

Bây giờ, quí vị hăy chuyển tâm thức ra khỏi thể trí và đặt nó dưới quyền sử dụng của Chơn Nhơn, cũng như quí vị đă từng làm đối với các thể xác và thể vía. Kể từ nay, ba thể tuân theo mệnh lệnh của chúng ta; trong các giới ảo tưởng, đó là ba con ngựa đang kéo chiếc xe do Chơn Nhơn cầm cương điều khiển. Chúng không c̣n buông lung chạy đâu tùy thích nữa mà ngoan ngoăn theo con đường do Chơn Nhơn đă chọn. Như vậy Chơn Nhơn đă giải thoát tâm thức ra khỏi sự trói buộc của ba thể và đưa nó vào cảnh giới của chính ḿnh, nơi đây Chơn Nhơn có thể luôn luôn sử dụng các thể như là kẻ phục dịch rất ngoan

 

đàu trang cuối trang mục lục lời tựa chương 1 chương 2 chương 3 chương 4 chương 5 kết luận

CHƯƠNG III

 

THẾ GIỚI CỦA CHƠN NHƠN

 

Một khi được giải thoát khỏi ba thể, tâm thức ta tự nhiên sẽ trở về ḥa hợp với con người thật là Chơn Nhơn.

Quí vị c̣n phải cố gắng tiến thêm một bước nữa để ư thức không chút mảy may nghi ngờ, rằng ḿnh là Chơn Nhơn, là linh hồn thiêng liêng bị lưu đày từ lâu. Quí vị hăy đưa linh hồn về quê hương của ḿnh, hăy bước vào cơi đó là cơi sở hữu của ḿnh, và trong khoảnh khắc, quí vị tự nhận ra ḿnh là cái Ta thiêng liêng ḥa đồng với bản tánh thiêng liêng của vạn vật. Đến lúc đó, chơn tánh của chúng ta hiện ra rất rơ rệt và sự tranh đấu gay go giữa Chơn Nhơn và Phàm Nhơn chấm dứt. Tâm thức bị giam cầm và lưu đày đă quay về với tâm thức chung mà lúc trước nó bị tách rời. Con người bây giờ là Một. Cái Ta thiêng liêng bên trong đă được giải thoát khỏi ba thể và biết sử dụng chúng một cách ư thức để làm dụng cụ.

Quí vị không nên chỉ hướng suông tâm thức về Chơn Nhơn bằng tư tưởng. Quí vị cũng không nên chỉ bằng ḷng dùng trí thông minh nh́n nhận rằng ḿnh là Chơn Nhơn. Quí vị hăy thực hiện việc đó. Quí vị phải là Chơn Nhơn, phải sống trong cảnh giới riêng biệt của Chơn Nhơn. Nếu quí vị thành công trong việc tách rời tâm thức khỏi các thể th́ quí vị sẽ đưa tâm thức nầy dễ dàng về với Chơn Nhơn v́ nó là của Chơn Nhơn, và cảnh giới của Chơn Nhơn lại là quê hương thật của ḿnh.

Khi mới bước vào quê hương mà chúng ta đă ĺa bỏ từ lâu, chúng ta nhận thấy một cảm giác tự tại và an vui kỳ diệu. Tuy nhiên lúc đầu, giống như một người bị giam cầm nhiều năm tại một nơi âm u và bị chói ḷa trước ánh sáng mặt trời, khi trở lại cơi của chúng ta sau một cuộc lưu đày nhiều thế kỷ trong khám đường vật chất, chúng ta hơi bỡ ngỡ v́ ánh sáng nhiều quá và cũng v́ mọi giới hạn xưa đều không c̣n. Trong cảnh giới nầy, tất cả đều là ánh sáng và an vui: Chơn Nhơn sẽ phiêu diêu trong một hạnh phúc và một sự huy hoàng tuyệt vời nên không bao giờ muốn trở về cơi thế vô thường, hư ảo. Bây giờ, chúng ta biết ḿnh là ai và khi nhận thấy ḿnh và quê hương ḿnh vô cùng mỹ lệ và thiêng liêng th́ dù mùi trần có cám dỗ thế nào, chúng ta cũng không thể cho ḿnh là các thể. Sự mê hoặc kềm hăm xưa đă tiêu tan và lần thứ nhất, chúng ta biết được thế nào là cái tâm an lạc và vô ngại.

Thật lạ thay khi tất cả bỗng trở thành giản dị ! Trong cơi của Chơn Nhơn chúng ta hành thiện một cách tự nhiên và quá khứ của chúng ta hiện ra phức tạp, rắc rối đến không sao hiểu nỗi.

Như vậy, chúng ta có đủ can đảm nh́n nhận chân tánh của ḿnh, th́ tất cả mọi tranh đấu, mọi cố gắng đều biến mất; đời sống trở nên đơn giản, b́nh dị và ngày tháng sẽ trôi qua trong sự điều ḥa.

  

ĐỜI SỐNG CỦA CHƠN NHƠN

 

Một trong các điều làm cho chúng ta ngạc nhiên khi chúng ta tự biết ḿnh là Chơn Nhơn là nhận thấy Chơn Nhơn có một đời sống vinh quang vượt cao trên đời sống trần gian.

Cho đến những người biết Phàm Nhơn là sự biểu hiện tạm thời của Chơn Nhơn, họ cũng hiểu lầm rằng sự biểu hiện tạm thời đó đối với Chơn Nhơn là một điều rất quan trọng. Sự thật th́ quăng đời ở trần gian chẳng qua là một hoạt động phụ thuộc của Chơn Nhơn. Ở cơi của ḿnh, Chơn Nhơn có một đời sống rất huy hoàng, nhưng làm sao có thể diễn tả đời sống nầy bằng lời lẽ trần gian và các điều thuộc thế giới hữu h́nh !

Trên cơi của ḿnh, Chơn Nhơn tích cực tham gia vào Đại Công Nghiệp của Đấng Tạo Hóa: cùng với các Thiên Thần và các Đấng Cao Cả khác, Chơn Nhơn góp sức vào việc tạo lập các cảnh giới cần cho sự duy tŕ vũ trụ nầy. Công nghiệp của Đức Thượng Đế là sáng tạo, và Chơn Nhơn v́ là thiêng liêng cũng theo đuổi công tŕnh sáng tạo đó. Chỉ nghệ thuật mới có thể diễn tả được sự nghiệp thật sự của con người thiêng liêng, và chúng ta phải nhờ tài diễn tả của các thi sĩ và nhạc sĩ nếu chúng ta muốn có một ư niệm về sự nghiệp nầy.