|
|
HOME sách TIỂU SỬ BẢN TIN H̀NH ẢNH thIỀN BÀI VỞ THƠ gifts TẾT 2006 BOOKS MAGAZINES
mục lục chương 1
2 3
4 5 6
7 8
9 10
MỤC LỤC
|
Chương I Thông Thiên Học là ǵ ? |
Chương VI Sau cái Chết. |
|
Chương II Từ Tuyệt Đối đến Con Người. |
Chương VII Sự Luân Hồi. |
|
Chương III Sự thành lập Thái Dương Hệ. |
Chương VIII Mục đích của Đời Sống. |
|
Chương IV Sự tiến hóa của Sự Sống. |
Chương IX Các Dăy Hành Tinh. |
|
Chương V Sự cấu tạo Con Người. |
Chương X Kết quả của sự nghiên cứu TTH. |
mục lục chương 1
2 3
4 5 6
7 8
9 10
CHƯƠNG NHẤT
THÔNG THIÊN HỌC LÀ G̀ ?
Hiện giờ có một trường phái triết học mà những người trí thức của thời đại chúng ta không c̣n biết đến. Do những lời nhận xét đó mà ông A. P. Sinnett khởi dẫn quyển sách của ông tựa đề : Thế giới huyền bí. Sách này là bài thuyết minh b́nh dân đầu tiên v́ Thông Thiên Học được xuất bản cách đây 30 năm. Từ đó đến nay, nhờ trường phái này có cả triệu người đă biết được sự minh triết. Nhưng đa số dân chúng chưa được biết những lời dạy của nó, v́ vậy nhiều giải đáp mơ hồ được nêu ra để trả lời một cách tổng quát câu hỏi : Thông Thiên Học là ǵ?
Hai quyển sách trả lời câu hỏi này đă được viết ra : Phật Giáo bí truyền của ông Sinnett và Minh Triết cổ thời của bà Besant. Tôi không có ư tranh đua với những tác phẩm cổ điển ấy. Tôi chỉ muốn làm một bài thuyết minh về Thông Thiên Học vừa rơ ràng vừa giản dị, có thể được coi như là đại cương của những quyển sách tôi vừa kể trên.
Thông Thiên Học thường được coi không phải như một tôn giáo chính thống, mà như một chơn lư được gặp ở nền tảng của tất cả những tôn giáo lớn. Ư kiến ấy không thể biện bác được. Nhưng nếu chúng ta nh́n ở một khía cạnh khác, Thông Thiên Học sẽ vừa là một nền triết học vừa là một tôn giáo và một khoa học. Nó là một triết lư ở chỗ nó giải thích rành mạch cơ tiến hóa của những linh hồn và của những h́nh thể trong Thái dương hệ. Nó là một tôn giáo v́ vừa chứng minh bước đi của sự tiến hóa thông thường, nó vừa chỉ cho chúng ta và hiến cho chúng ta một phương tiện thâu ngắn con đường mà chúng ta phải đi, để chúng ta có thể, nhờ một cố gắng có ư thức, mà tiến bộ và đạt được mục đích trực tiếp hơn. Nó là một khoa học v́ nó nghiên cứu câu hỏi trên, không phải bằng tín ngưỡng thần học mà bằng những hiểu biết thực nghiệm. Những hiểu biết thực nghiệm này người ta có thể đạt được do sự làm việc và xuyên qua những cuộc nghiên cứu t́m ṭi cá nhân. Nó quả quyết rằng con người không cần căn cứ một cách mù quáng vào đức tin v́ con người đă có sẵn nơi ḿnh những quyền năng tiềm tàng có thể giúp y. Khi y khởi động được chúng nó, y sẽ thấy và quan sát được những lư thuyết đă đưa ra. Nó c̣n chứng minh cho con người bằng cách chỉ những phương pháp giúp con người phát triển những tiềm năng đó. Thông Thiên Học cũng là kết quả của sự khởi động tiềm năng của những người đă đi trước chúng ta; v́ những lời dạy hiến cho chúng ta đều căn cứ trên sự quan sát trực tiếp có thể vói tới được do sự phát triển các tiềm năng ấy.
Với tính cách là một triết lư, Thông Thiên Học dạy chúng ta rằng Thái dương hệ là một bộ máy được điều chỉnh một cách tỉ mỉ. Đó chẳng qua là sự biểu hiện của cuộc sống huy hoàng mà con người chỉ là một bộ phận nhỏ bé hiện ra trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Thông Thiên Học nói với chúng ta về hiện tại bằng cách mô tả thế nào là con người do cách quan sát nhờ những tiềm năng đă phát triển. Người ta thường nói rằng con người có một linh hồn. Kết quả của sự nghiên cứu trực tiếp dẫn con người Thông Thiên Học lật đổ châm ngôn đó và cho biết con người LÀ MỘT LINH HỒN, có một thể xác. - Thật ra là nhiều thể được dùng như những khí cụ và những phương tiện vận chuyển trong nhiều thế giới - Các thế giới đó không xa cách nhau trong không gian. Tất cả đều bao phủ chúng ta trong không gian và thời gian. Ở mọi nơi và bất kỳ lúc nào chúng ta cũng có thể học hỏi chúng. Chúng cấu tạo các thứ vật liệu hữu h́nh và vô h́nh trong thiên nhiên. Chúng có những mật độ kết cấu khác nhau, từ thô sơ đến hết sức tinh vi. Chúng ta sẽ giải nghĩa các điều đó trong chi tiết. Con người đang sống trong nhiều thế giới một lượt. Nhưng b́nh thường họ chỉ ư thức được thế giới vật chất mà thôi; mặc dù đôi khi họ nhận thấy thoáng qua những thế giới cao hơn trong giấc mộng hay trong lúc xuất thần. Cái mà ta gọi là sự chết chỉ là sự cổi bỏ một cái thể thuộc thế giới hồng trần. C̣n linh hồn hay con người thật không thay đổi, không bị ảnh hưởng ǵ cả và vẫn y nguyên trên thế giới riêng của nó; giống như người ta cổi một cái áo ngoài. Đây không phải là một sự suy luận mà là kết quả của quan sát t́m ṭi và kinh nghiệm.
Thông Thiên Học cấp cho chúng ta những tài liệu quí giá về dĩ văng của con người, về cách thế tiến hóa để họ trở thành trạng thái hiện thời của họ. Đây cũng là một sự quan sát thông thường; v́ có rất nhiều niên giám không thể xóa nḥa đă ghi chép tất cả sự việc trải qua trong quá khứ; có thể nói đây là một thứ kư ức của THIÊN NHIÊN. Khi quan sát các niên giám ấy, người nghiên cứu có thần nhăn thấy diễn ra trước mắt y lần lượt tất cả các quang cảnh của cuộc tiến hóa xa xôi đă qua đúng như các quang cảnh ấy đă thật sự diễn ra trong quá khứ. Y sẽ biết rằng con người có nguồn gốc thiêng liêng. Trải qua thời gian rất dài trong quá khứ, con người đă phát triển song song h́nh thể bên ngoài và linh hồn hay sự sống bên trong. Sự sống của linh hồn con người kể như vô tận. Cái mà chúng ta thường kể là một đời người thật ra chỉ là thời gian một ngày của cuộc sống thật ấy. Chúng ta đă sống những ngày tương tự. Chúng ta c̣n phải trải qua nhiều ngày như thế. Bạn muốn hiểu mục đích thật của cuộc sống không ? Đừng thu ngắn nó lại bằng cái ngày duy nhất hiện giờ, là ngày kể từ lúc chúng ta c̣n trong nôi để chấm dứt lúc chúng ta xuống mồ. Chúng ta hăy nghĩ đến những ngày xảy ra trước đây và những ngày sẽ nối tiếp sau ngày hôm nay. Chúng ta có thể học hỏi được nhiều kiến thức chính xác về tương lai dành cho chúng ta. Đầu tiên, chúng ta nhờ những người đă tiến trước chúng ta trên con đường chúng ta phải theo. Những người đó đă kinh nghiệm v́ đă quen con đường ấy. Nhờ vậy, chúng ta rút ra được những kết luận thuộc giai đoạn đă dẫn dắt họ đến sự hoàn thiện.
Một trong những cái lợi đáng kể của Thông Thiên Học là ánh sáng bao trùm chúng ta; nó giải quyết một phần lớn những bài toán đă làm chúng ta thắc mắc, nó san bằng những nỗi khó khăn, nó giải nghĩa lư các sự bất công bề ngoài của cuộc đời. Và ở mọi phía, nó đem lại trật tự cho những ǵ mà chúng ta xem là rối loạn.
Thật ra, một vài sự chỉ dạy của Thông Thiên Học dựa trên sự quan sát những sức mạnh mà sự học hỏi trực tiếp không nằm ở tầm tay người thường. Tôi nh́n nhận điều đó. Nhưng, người nào đă nhận những chỉ dạy ấy như một giả thuyết tạm thời, sẽ đồng ư rằng giả thuyết ấy tốt, v́ chỉ riêng một ḿnh nó cũng cung cấp ư nghĩa đầy đủ và có lư về thảm kịch của đời sống.
Trong những chơn lư mới và nổi bật mà Thông Thiên Học mang lại cho Âu châu, chúng tôi có thể kể trước tiên là chắc chắn có hiện hữu những người trọn lành mà chúng ta có thể gần gũi và theo học được. Kế đó quả quyết rằng thế giới này không thể là vô trật tự, vô chánh phủ. Trái lại, thế giới này được điều khiển bởi một Hệ thống đẳng cấp có tổ chức hẵn ḥi và sự thất bại dù của một đơn vị nhỏ nhoi nhất của nó cũng không thể có được. Một cái nh́n tổng quát về sự hoạt động Hệ thống đẳng cấp ấy cũng dẫn chúng ta đến ư muốn cộng tác với nó, dù trong chức vụ khiêm nhường nhất, để trong một tương lai xa, chúng ta xứng đáng được tiếp xúc các cấp bậc nhỏ nhoi nhất của Hệ thống đẳng cấp ấy. Điều này dẫn chúng ta đến trạng thái Thông Thiên Học mà chúng tôi gọi là khía cạnh tôn giáo của nó. Những ai đă nhận thức được tầm quan trọng của các chơn lư ấy đều nóng ḷng về bước đi chậm chạp ở những chặng đường của cuộc tiến hóa. Họ sẽ ước ao trở thành hữu ích càng sớm càng tốt và bước lần đến con đường đạo trực tiếp hơn và cũng chông gai khó khăn hơn : v́ không thể trốn khỏi công việc mà chúng ta phải thực hiện. Chúng ta có thể so sánh việc này với gánh nặng phải mang lên chót núi. Nếu phải mang nó trên con đường dốc đứng hay mang từ từ trên con đường ít dốc hơn, số sức lực dùng vào hai trường hợp đều như nhau. Phải một cố gắng nhất định để thực hiện công việc trong số thời gian nhỏ hơn. Những người đă đến chót núi đều đồng ư rằng ḿnh sẽ được thưởng công nhiều v́ đă ra công nhiều. Sự hạn chế của các thể sẽ lần lần được chế ngự và người được giải phóng là một sự giúp đỡ sốt sắng và thông minh trong hệ thống vĩ đại của sự tiến hóa tất cả sinh vật.
Thay v́ đặt căn cứ lẽ sống trên những luật lệ tưởng tượng truyền lại từ xưa, Thông Thiên Học, với tính cách tôn giáo, hiến cho chúng ta những lời khuyên đạo đức căn cứ trên lẽ phải và trên những dữ kiện mà nó quan sát được. Thái độ của những người Thông Thiên Học đối với những lời khuyên ấy là phải hiểu lời khuyên nào chúng ta muốn áp dụng trong đời sống hằng ngày. Phải coi những lời khuyên ấy như những qui tắc vệ sinh chớ không phải như những giáo điều tôn giáo. Thật ra, các luật thiên nhiên là sự biểu lộ ư chí của Thượng Đế, người đă xếp đặt khôn khéo mọi việc. Sự vi phạm các điều luật ấy dẫn đến sự xáo trộn lối tiến đều đặn của kế hoạch chung, đến sự chậm trễ hoặc sự ngưng trệ tạm thời của một đoạn hoặc một đơn vị nhỏ. Hành động như thế, chúng ta tự gây ra nhiều đau khổ cho chúng ta và cho kẻ khác. Người khôn ngoan và sáng suốt tránh vi phạm các luật lệ ấy, không phải tự y sợ gây ra sự giận dữ của một vị thần linh nào bị xúc phạm.
Nhưng, nếu chúng ta tự đặt ḿnh vào một phương diện đặc biệt, chúng ta có thể xem Thông Thiên Học như một tôn giáo. Chúng ta phải lưu ư đến hai điều; nó phân biệt Hội Thông Thiên Học với các tôn giáo bên Âu châu.
Trước hết hội không bắt buộc các hội viên phải tuân theo những giáo điều nó tŕnh bày và không gán cho từ �tin tưởng� cái nghĩa mà người ta thường gán cho nó. Sinh viên Huyền bí học hoặc BIẾT rơ một điều hoặc hoăn sự tin tưởng của y lại đến chừng nào y thật biết, v́ hệ thống tư tưởng của y không chấp nhận một đức tin mù quáng.
Tự nhiên, người nghiên cứu Thông Thiên Học không bị bắt buộc phải biết ǵ cả; người ta chỉ đ̣i hỏi y đọc các kết quả của sự quan sát khác nhau đă thực hiện và xem đó như những giả thuyết, tạm nhận các giả thuyết ấy, hành động hợp theo đó đến chừng nào y đạt được các bằng chứng xác đáng của chúng.
Điều thứ hai, Thông Thiên Học không bao giờ thử cải hóa một người mà không nghĩ đến tín ngưỡng của y. Nó giải thích tôn giáo của y, chỉ cách hiểu biết tôn giáo ấy, làm theo tôn giáo ấy một cách trung thành hơn và nó giúp y phát hiện trong ấy một ư nghĩa thâm sâu mà y không ngờ. Trong nhiều trường hợp, nó mang lại cho y trên b́nh diện cao sâu hơn và thông minh hơn cái đức tin mà y tưởng chừng đă mất.
Thông Thiên Học c̣n có một phương diện khoa học nữa. Sự thật nó c̣n là một khoa học của sự sống, một khoa học của linh hồn. Nó áp dụng cho mọi việc phương pháp khoa học của một quan sát tỉ mỉ và thường lập lại. Nó ghi các kết quả và từ đó rút ra các kết luận.
Như thế, các cơi thiên nhiên và các điều kiện của tâm thức con người, trong lúc sống và sau khi chết, đều được tham cứu. Cần luôn luôn nhắc lại rằng những tiết lộ của Thông Thiên Học về các vấn đề ấy không phải là những phỏng đoán hay những giáo điều của đức tin thông thường mà chúng nó được căn cứ trên sự quan sát trực tiếp, được luôn luôn lập lại nhiều lần các hiện tượng của thiên nhiên. Các nhà nghiên cứu cũng chú ư trong một phạm vi nào đó các bài toán của khoa học thông thường. Những người đọc quyển Hóa học huyền bí mới vừa xuất bản sẽ đồng ư về điều ấy.
Như vậy, chúng ta thấy Thông Thiên Học gồm nơi nó một vài đặc điểm của triết học, của tôn giáo và của khoa học. Người ta cũng tự hỏi phúc âm, thánh huấn nào mà nó mang lại cho thế giới chúng ta đầy đau khổ này? Điểm chính yếu của sự nghiên cứu nó là ǵ? Những sự kiện lớn nào mà nó tŕnh bày cho nhân loại?
Các vấn đề ấy có thể gom dưới ba đầu đề chính sau đây:
Có ba chân lư tất yếu và bất biến, có lúc bị bỏ im lặng v́ không có tiếng nói nào để tuyên bố chúng:
-Linh hồn con người th́ bất diệt, trường tồn và tương lai của nó là tương lai của một điều mà sự phát triển và sự huy hoàng không có giới hạn.
-Nguồn gốc của sự sống ngự ở trong ta và ngoài ta, nó không bao giờ mất, nó luôn luôn từ thiện, nó không thể thấy, nghe hay cảm xúc, mà nó chỉ được nhận thức bởi người nào muốn có sự cảm nhận.
-Một cách tuyệt đối, mỗi người đối với tự ḿnh là người làm luật, người ban ra sự vinh quang và sự sự tăm tối, người trọng tài về sự sống và sự thưởng phạt của chính ḿnh.
Các chân lư đó cũng vĩ đại như sự sống mà cũng giản dị như nét giản dị nhất của trí thông minh con người.
Nói một cách thông thường, con người là bất tử, Thượng Đế là tốt lành và con người gặt hái những ǵ nó đă gieo. Tất cả đều được điều khiển dưới quyền của một hệ thống nhất định, dưới sự kiểm soát của một chỉ huy thông minh và hoạt động dưới những định luật bất di bất dịch. Con người choán một vị trí trong hệ thống đó và sống dưới các luật đó. Nếu nó hiểu các luật đó và hợp tác với chúng, nó sẽ tiến bộ mau chóng và sẽ hạnh phúc. Nếu nó không nắm được tầm quan trọng của chúng và cố ư hay vô t́nh vi phạm các luật ấy, nó sẽ làm chậm trễ sự tiến bộ và sẽ đau khổ. Đây không phải là lư thuyết mà là những dữ kiện đă được chứng minh. Ai đó hoài nghi hăy đọc những điều sau đây rồi sẽ thấy.
mục lục chương 1
2 3
4 5 6
7 8
9 10
CHƯƠNG HAI
TỪ TUYỆT ĐỐI ĐẾN CON NGƯỜI
Ở vị trí tiến hóa hiện nay của chúng ta, ta không biết ǵ cả về Tuyệt đối, về Vô tận, về Đấng bao trùm mọi vật, nhưng chúng ta biết rằng có Thượng Đế. Chúng ta không thể nói ǵ mà không gặp một sự hạn chế và do đó sẽ gặp cái không chính xác.
Trong Thượng Đế có biết bao nhiêu vũ trụ, không sao đếm được. Trong mỗi vũ trụ có biết bao nhiêu Thái dương hệ, cũng không sao đếm được. Mỗi Thái dương hệ là sự biểu hiện của một Sinh vật mạnh mẽ. [Người ta gọi là Thượng Đế, là Ngôi Lời, là Thần Mặt Trời]. Ngài đối với hệ thống của Ngài là tất cả ǵ mà ta gọi là Trời. Ngài sanh hóa và thấu triệt hệ thống đó; không có ǵ không thuộc về Ngài. Trước mặt chúng ta, Ngài tự biểu lộ trong các phần nhỏ nhất mà chúng ta thấy được. Nhưng ngoài và trên hệ thống, Ngài c̣n là một hiện hữu kỳ diệu giữa các Đấng Đồng đẳng với Ngài. Trong kinh thánh Đông phương có câu: Ở bất cứ một mảnh nào trong vũ trụ của Ta, Ta ngụ tại đó.
Về đời sống cao siêu của Ngài, ta không biết ǵ hết. Nhưng việc nghiên cứu các cơi dưới của sự biểu hiện sẽ cho ta vài tài liệu về một phần của sự sống làm linh hoạt hệ thống của Ngài. Không thấy, nhưng chúng ta có thể nhận thức kết quả của sức mạnh tác động của Ngài. Không một người có thần nhăn nào mà vô thần; đây là một sự rơ ràng nhất; điều ngược lại rất quái lạ.
Bằng thể chất của chính Ngài, Ngài tạo ra hệ thống kỳ diệu này. Chúng ta là những thành phần của hệ thống đó. Chúng ta là từng phần của sự sống đang phát triển từ những tia của ngọn lửa thiêng liêng. Từ Ngài chúng ta đến đây và chúng ta sẽ trở về Ngài.
Nhiều người đă tự hỏi mục đích của sáng tạo là ǵ ? Do nguyên nhân nào Thượng Đế đă cho phát xuất cả một hệ thống và do nguyên nhân nào Ngài đă dẫn chúng ta chạm trán với những giông tố của sự sống? Chúng ta không thể trả lời những câu hỏi ấy, mà chính những câu hỏi ấy cũng không mang lại một lợi ích thực tiễn. Sự hiện hữu và hành động tích cực của chúng ta không đủ sao ? Nhiều triết gia đă suy luận và đă đưa ra nhiều giả thuyết về vấn đề này. Cái lư thuyết đẹp nhất mà tôi biết là lư thuyết sau đây của một nhà hiền triết thuộc phái duy trí:
Thượng Đế là T́nh thương, nhưng t́nh thương tự nó không thể hoàn hảo nếu không có những sinh vật mà t́nh thương ấy ban rải cho và biết đáp lại. Chính v́ t́nh thương đó mà Thượng Đế tự biểu lộ trong vật chất và tự hạn chế sự huy hoàng của Ngài để cho chúng có thể hiện diện qua quá tŕnh tự nhiên và chậm chạp của sự tiến hóa. Tới phiên chúng ta, chúng ta phải tự phát triển theo ư của Ngài đến chừng nào chúng ta đạt đến tŕnh độ của Ngài. Chừng ấy t́nh thương của Ngài trở nên hoàn hảo v́ nó được ban rải cho con cháu Ngài, là những người hiểu và đáp đền lại đầy đủ. Kế hoạch của Ngài được thành tựu và ư muốn của Ngài được thi hành trọn vẹn.
Chúng ta không biết tâm thức của Ngài siêu việt đến mức độ nào và cũng không rơ thực chất biểu hiện ở mức độ đó ra sao. Nhưng khi Ngài tự hạ xuống ngang tầm tri thức của chúng ta th́ sự biểu hiện của Ngài mang ba trạng thái. V́ vậy tất cả các tôn giáo đều diễn tả Ngài như Tam vị nhất thể.
Tuy Ba nhưng căn bản là Một, một Thượng Đế biểu hiện ra dưới ba trạng thái. Ba là đối với tầm thấy biết của chúng ta từ bên dưới, mỗi trạng thái hoạt động mỗi khác; Một là đối với Ngài v́ Ngài hiểu thấu đáo các mặt của chính Ngài.
Ba trạng thái ấy thuộc phạm vi sự tiến hóa của Thái dương hệ. Chúng cũng tham dự vào sự tiến hóa của con người. Sự tiến hóa ấy là ư chí của Ngài; lịch sử là kế hoạch của Ngài đó.
Liền dưới Đức Thái dương Thượng Đế và tùy thuộc mật thiết vào Ngài, phải kể đến bảy Bộ trưởng mà chúng ta gọi là các vị Hành tinh Thượng Đế. Dùng phương pháp loại suy rút ra từ sinh vật học của cơ thể con người, chúng ta có thể so sánh sự liên hệ của các vị Hành tinh Thượng Đế đối với Đức Thái dương Thượng Đế giống như sự liên hệ các hạch hay trung tâm thần kinh đối với bộ năo. Tất cả sự tiến hóa phát xuất từ Đức Thái dương Thượng Đế phải qua trung gian các vị Hành tinh Thượng Đế.
Dưới các vị ấy có cả đoàn hay cấp bực những vị thần tâm linh mà chúng ta gọi là Thiên thần. Chúng ta c̣n dốt về chức năng mà các vị ấy đảm nhận trong hệ thống kỳ diệu đó. Nhưng chúng ta nhận ra một số Thiên thần mà chức năng liên hệ chặt chẽ với sự cấu tạo của cả hệ thống và với sự sống phát triển trong đó. Thế giới chúng ta c̣n có một Đấng thay mặt cho Đức Thái dương Thượng Đế. Tất cả cuộc tiến hóa trên hành tinh này đều dưới quyền kiểm soát, săn sóc của Đấng ấy. Chúng ta có thể coi Ngài là vua của địa cầu này, có dưới quyền ḿnh các vị Bộ trưởng đứng đầu các phân bộ. Một trong các phân bộ ấy phụ trách về sự tiến hóa của các giống dân, v́ mỗi giống dân chánh được thành lập và khác các giống dân khác bởi một vị thủ lănh chăm lo sự phát triển của nó. Tôn giáo và giáo dục thành một phân bộ khác. Do phân bộ này xuất hiện các giáo chủ của lịch sử và do đó các tôn giáo mới ra đời. Vị cầm đầu phân bộ này đích thân Ngài giáng trần hoặc gởi một vị đệ tử nào cần để sáng lập một tôn giáo mới.
V́ lư do đó mới có sự đồng nhất về giáo lư căn bản của tất cả các tôn giáo, ngay từ lúc sáng lập. Sự tŕnh bày giáo lư ấy có thể bị thay đổi. Nếu chúng ta ư thức được những cái khác biệt giữa các sắc dân, những điều kiện khác nhau trong trạng thái văn minh và tŕnh độ tiến hóa của họ, chúng ta sẽ hiểu rằng tốt hơn chân lư nên mang nhiều h́nh thức để có thể áp dụng vào những nhu cầu riêng rẽ. Nhưng chân lư bên trong hay nguồn gốc của nó vẫn luôn luôn là một, mặc dù các các giáo lư có thể xem dường như mâu thuẩn nhau. Thật là điên rồ nếu con người cứ căi vă về vấn đề siêu việt của vị giáo chủ này hay phương cách giáo lư của một tôn giáo khác. Vị giáo chủ luôn luôn thuộc về một Đại đoàn Huynh đệ Tiên Thánh mà Ngài chỉ là người đại diện. Trên các quan điểm chính cũng như trong các nguyên tắc đạo đức, các giáo huấn không thay đổi.
Toàn bộ chân lư được thấy ở nền tảng của tất cả các tôn giáo và được diễn tả trong những dữ kiện của thiên nhiên, như con người ở thời đại này đă biết. Những người không biết các chân lư ấy căi lẩy về sự hiện hữu của các vị Thượng Đế, về sự sống của con người sau khi chết, về sự hoàn thiện và về vị trí phải dành cho con người trong vũ trụ. Thay v́ không mang lại giải đáp như nhiều người lầm tưởng, các chân lư ấy ở tầm tay của kẻ nào hướng dẫn các sự t́m kiếm của ḿnh về hướng đó, v́ các chân lư ấy đều thuộc về những người đă cố gắng thật sự để đạt được.
Trong những giai đoạn đầu của nhân loại, các Đấng của Hệ thống Đẳng cấp đă kể trên từ các hành tinh khác đến; nghĩa là từ những hành tinh tiến bộ hơn địa cầu chúng ta. Nhưng từ khi con người đă phát triển được toàn vẹn về quyền năng và minh triết, các chức năng ấy đều do con người tự nắm giữ.
Muốn ở đúng chiều cao của một trách nhiệm tương tự, con người phải vói lên một tŕnh độ cao để trở nên một vị thông suốt giáo lư (Chơn tiên), một con người thật tốt, có quyền năng và minh triết, một vị mạnh mẽ hơn phần c̣n lại của nhân loại, v́ y đă đạt đỉnh cao của sự tiến hóa; người ấy đă thực hiện tŕnh độ mà Trời giao cho y trong kỷ nguyên này. Nhưng sự tiến hóa của y phải c̣n cao hơn cấp bực hiện thời để sau này y thành một Đấng Thiêng Liêng.
Nhiều người đă tiến đến tŕnh độ hoàn thiện (Chơn tiên). Họ không thuộc một quốc gia nào, mà thuộc các quốc gia tiến bộ d́u dắt hoàn cầu. Đó là những linh hồn hiếm hoi, can đảm phi thường đă vào thành tŕ của thiên nhiên, chiếm được những bí mật sâu kín nhất và xứng đáng danh vị con người thánh thiện. Trong hàng ngũ của họ, có rất nhiều cấp bực và nhiều ngành hoạt động khác nhau. Nhưng một vài người của họ luôn luôn liên lạc trực tiếp với địa cầu chúng ta trong tính cách là thành viên của hệ thống đẳng cấp đang quản trị mọi công việc ở địa cầu và mọi mặt tiến hóa của nhân loại chúng ta.
Cái trung tâm uy nghiêm ấy chúng ta gọi là Đại đoàn Huynh đệ Tiên Thánh ( Quần Tiên Hội). Nhưng những thành viên của Đại đoàn ấy không sống tập thể. Mỗi vị Chơn tiên ấy thường sống xa con người, nhưng luôn luôn liên lạc với các bạn đạo đồng đẳng và với Đấng Giáo chủ Tối cao. Sự hiểu biết của họ về các cơi cao sâu sắc đến nỗi họ không cần gặp các đồng đạo trên cơi vật chất. Trong nhiều trường hợp, họ tiếp tục sống nơi quê hương của họ; các người sống chung quanh họ không biết đến các quyền năng của họ. Mọi người trong chúng ta có thể gây sự chú ư của họ với điều kiện là phải tỏ ra xứng đáng. Không ai nên cho rằng sự cố gắng của ḿnh sẽ không được chú ư đến. Sự lầm lẫn ấy không thể có được v́ kẻ nào tận tâm phụng sự nhân loại sẽ tách ra khỏi phần c̣n lại của nhân loại như ngọn lửa lớn trong đêm tối âm u. Một vài vị Chơn tiên làm việc cho hạnh phúc của nhân loại bằng ḷng thâu nhận làm đệ tử những người đă hi sinh trọn vẹn để phụng sự nhân loại. Các vị thánh thiện ấy chúng ta gọi là các Chơn sư.
Bà Helena Petrowna Blavatsky là một trong các đệ tử đó, một đại linh hồn được phái đến cách đây ba mươi lăm năm, để giáo huấn và giác ngộ nhân loại. Bà lập Hội Thông Thiên Học với Đại tá Henry Steele Olcott để truyền bá những kiến thức bà đạt được. Trong những người được tiếp xúc ở ngày đầu của Hội, phải kể ông A. P. Sinnett, người xuất bản tạp chí Pioneer. Sự thông minh sâu sắc và tế nhị của ông giúp ông tiếp thu ngay sự vĩ đại và tầm quan trọng của những giáo lư mà bà Blavatsky tŕnh bày cho ông. Mặc dù trước đó bà đă viết quyển Isis dévoilée , quyển này ít gây sự chú ư. Chính ông Sinnett là người đầu tiên đem giáo lư xuống ngang tầm hiểu biết của người Âu châu qua hai quyển sách Thế giới huyền bí (le Monde occulte) và Phật giáo bí truyền (le Bouddhisme ésotérique).
Qua trung gian các quyển sách này, tôi biết được tác giả của nó và bà Blavatsky. Nhờ các sách ấy tôi được biết qua các kiến thức mới. Khi tôi hỏi bà Blavatsky bằng cách nào người ta học đạo mau và thực hiện được tiến bộ xác định trên đường đạo mà bà đă chỉ cho chúng ta, bà trả lời rằng những sinh viên khác có thể được nhận làm đệ tử các Chơn sư như bà; phương tiện duy nhất đưa sinh viên đến đó là sự làm việc tận tâm, chân thành và vị tha. Bà tuyên bố rằng một người muốn đạt mục đích phải tuyệt đối trong sự quyết định của ḿnh, rằng người nào có ư muốn vừa phụng sự Thượng Đế vừa v́ tư ngă th́ không có hi vọng thành công. Một trong các vị Chơn sư cũng nói rằng : Một đệ tử muốn thành công phải bỏ đời theo đạo.
Điều này có nghĩa là người đệ tử không theo những kẻ chỉ sống v́ tiền bạc, danh vọng và quyền thế, chỉ theo thiểu số người mà các điều ấy không quyến rũ được. Mục đích của thiểu số người này là tận tâm với nhân loại bằng sự hi sinh quên ḿnh v́ lư tưởng. Bà Blavatsky cũng báo trước với chúng ta rằng con đường đạo này rất khó theo và những người đi con đường ấy sẽ bị đồng loại không hiểu và bị nói xấu. Công việc của chúng ta là việc làm bị vong ân bội nghĩa và mặc dù kết quả chắc chắn, nhưng không ai đoán được thời gian bao lâu mới đạt được. Một vài người trong chúng ta nhận chịu các điều kiện ấy một cách vui vẻ và chúng ta không bao giờ hối tiếc quyết định can đảm ấy.
Sau vài năm làm việc tôi được đặc ân tiếp xúc với các Chơn sư minh triết. Các Ngài dạy bảo tôi về rất nhiều vấn đề và chỉ cho tôi phương pháp tự tôi chứng minh các giáo lư mà tôi nhận được. Cho nên đến nay, đối với tôi, khi tôi muốn nói ǵ về các vấn đề này, tôi chỉ viết theo điều tôi đă biết rơ và chính tôi thấy tận tường. Tuy nhiên, muốn chứng minh sự chính xác của một vài điều cao siêu trong giáo lư của các Chơn sư, cần phải có những khả năng cao hơn khả năng của tôi hiện có. Nhưng đối với các quyền năng ấy, tôi có thể nói chúng nó phù hợp với những ǵ tôi biết. Trong nhiều trường hợp chúng nó có thể dùng làm giả thuyết để giải quyết những ǵ tôi đă thấy. Những giáo lư, cũng như toàn bộ hệ thống Thông Thiên Học mà tôi học được đều căn cứ trên uy tín của các Chơn sư. Từ đó, tự tôi tập quan sát phần lớn các giáo lư đă dạy tôi và tôi nhận thấy rằng các lời giáo huấn đều đúng về mọi điểm. Tôi nhận rằng những điều tôi chưa quan sát cũng đều đúng như những cái đă quan sát, trước khi tôi kiểm minh được chúng.
Sự hân hạnh được nhận làm đệ tử Chơn sư là mục đích của mỗi học viên Thông Thiên Học thành thật muốn đạt được. Nhưng điều đó đ̣i hỏi một cố gắng nhất định. Thời buổi nào cũng có những người sẵn sàng và đạt được ánh sáng của giác ngộ. Kiến thức này có tính cách siêu việt và người đă đạt được sẽ hiểu biết hơn người thường; y vượt khỏi tất cả các giới hạn được biết.
Nhưng có những giai đoạn trong sự chiếm hữu các hiểu biết đó và nếu chúng ta muốn biết rơ các điều ấy chúng ta nên học ở những người đă tiến bộ. Thang tiến hóa có nhiều bậc : người dă man tiền sử ở bậc thấp nhất, chúng ta là người văn minh đă leo lên được một phần các nấc thang đó. Chúng ta có thể nh́n xem những nấc thang mà chúng ta đă vượt qua, chúng ta cũng có thể nh́n xem những nấc thang cao mà chúng ta chưa đạt. Sự nghiên cứu các tŕnh độ đó giải thích cho ta bằng cách nào con người sẽ vượt qua các bậc ấy trong tương lai. Chúng ta sẽ biết rằng sự leo lên các nấc thang tiến hóa sẽ dẫn đến một danh vọng huy hoàng không thể tưởng tượng được, và tất cả chúng ta sẽ tham gia vào đó một ngày kia. Những người nào cao hơn chúng ta quá xa được chúng ta xem như bậc thánh trong kiến thức và quyền năng của họ. Họ nói với chúng ta rằng không lâu về trước họ cũng ở vào vị trí của chúng ta hiện nay và họ chỉ rơ cho chúng ta các bậc cao mà chúng ta phải vựot qua, nếu chúng ta muốn giống họ.
mục lục chương 1
2 3
4 5 6
7 8
9 10
CHƯƠNG BA
SỰ THÀNH LẬP THÁI DƯƠNG HỆ.
Sự bắt đầu của vũ trụ (nếu có cái bắt đầu) nằm ngoài tầm quan niệm của con người. Kể từ thời lịch sử xa xưa nhất mà chúng ta có thể nghiên cứu được, chúng ta thấy có hai sức mạnh đối chọi nhau: tinh thần và vật chất, sự sống và h́nh thể. Ư kiến chung về vật chất cần ôn học lại. Cái mà người ta gọi là tinh thần và vật chất chẳng qua chỉ là kết quả của hai sự phát lộ khác nhau của tinh thần trong hai thời kỳ khác nhau; chớ vật chất thật sự hay căn bản của vạn vật th́ chưa biết rơ.
Một nhà thông thái Pháp vừa nói: Không có vật chất, chỉ có những lổ trống trong dĩ thái.
Giả thuyết ấy phù hợp với thuyết danh tiếng của giáo sư Osborne Reynolds. Những t́m kiếm, quan sát của huyền bí học chứng minh rằng quan niệm mới về vật chất ấy đúng. Những sự nghiên cứu này c̣n soi sáng ư kiến của các thánh kinh Đông phương cho rằng vật chất chỉ là ảo tưởng.
Theo tŕnh độ hiểu biết của chúng ta hiện nay, nguồn gốc của vật chất sơ đẳng chỉ là cái mà các nhà thông thái gọi là chất dĩ thái không gian. Không gian h́nh như trống rỗng đối với mắt ta, nhưng theo giáo sư Osborne Reynolds, tỉ trọng của nó tính ra bằng 10.000 lần tỉ trọng của nước. Sức ép của nó được giáo sư tính ra bằng 750.000 tấn trên một tấc vuông Anh.
Chất ấy chỉ có thể thấy được bằng một khả năng thần nhăn cực kỳ phát triển. Chúng ta có thể giả thuyết rằng vào một thời kỳ xa xôi nào đó (mà chúng ta không thể trực tiếp biết được), chất dĩ thái ấy lấp đầy không gian. Một đấng cao cả hơn Đức Thái Dương Thượng Đế rất nhiều đă đổi thay t́nh trạng ổn định bằng cách xạ tư tưởng hay thần lực của Ngài vào một phần không gian; phần này bằng không gian của một vũ trụ. Luồng thần lực được đưa vào như thế có thể so sánh với một hơi thở cực kỳ mạnh. Nó biến chất dĩ thái của không gian thành vô số bọt tṛn [những bọt này được mô tả trong quyển Giáo lư bí truyền của bà Blavatsky như những lổ mà Fohat đào trong không gian. Những bọt này có tên là Koilon, có nghĩa là trống ruột]. Các bọt ấy là những nguyên tử sơ đẳng đầu tiên để tạo thành vật chất. Những bọt này chưa phải là nguyên tử hóa học, mà cũng chưa phải là nguyên tử căn bản hồng trần của huyền bí học. Chúng chỉ được thấy ở cơi thật cao, thật tinh vi. Cái mà chúng ta gọi là nguyên tử hóa học ngày nay là một khối do một số cực kỳ to lớn của những bọt ấy kết hợp lại.
Bây giờ đến giai đoạn của Đức Thái Dương Thượng Đế. Khi Đức Thái Dương Thượng Đế định sáng tạo hệ thống của Ngài, Ngài thấy cái khối vô tận của những bọt Koilon đă sẵn sàng. Trước tiên, Ngài vạch giới hạn của tầm hoạt động của Ngài. Hễ hào quang của Ngài chiếu tới đâu th́ ở đó là biên cương nước Ngài. Biên cương này vượt rất xa hơn quỉ đạo của hành tinh xa nhất sẽ thành lập. Trong giới hạn của nước Ngài, Ngài cho chuyển động một luồng quay cuồng khổng lồ để quét và gom lại các bọt thành một khối trung ương; đó là bản thể của một tinh vân sẽ sinh ra.
Khối kết hợp các bọt càng ngày càng phức tạp. Ngài xạ vào luồng quay cuồng khổng lồ nói trên liên tiếp nhiều xung động của sức mạnh để tạo thành bảy thế giới hay bảy cơi khổng lồ và đồng tâm, gồm các vật chất có tỉ trọng khác nhau, choán cùng một không gian và cơi này xuyên qua cơi kia.
Qua trung gian của trạng thái thứ ba, Ngài phát luồng năng lực thứ nhất, gây ra trong toàn ranh giới của Ngài những luồng quay cuồng nhỏ hấp dẫn 49 bọt và sắp xếp chúng một cách đặc biệt. Các nhóm bọt này làm thành nguyên tử của cơi thứ hai. Một phần các bọt c̣n ở t́nh trạng cũ và c̣n tồn tại một cách thưa thớt ở cơi thứ nhất, cao hơn cơi thứ hai.. Đúng thời kỳ luồng năng lực thứ hai được xạ vào và nó chiếm gần hết các khối gồm 49 bọt nói trên (chỉ bỏ ra một số ít để tạo thành cơi thứ hai). Nó hút chúng vào, nó đẩy chúng ra làm chuyển động những sự quay cuồng, mỗi cái chứa 2.401 bọt ( 492 ). Đó là nguyên tử của cơi thứ ba. Sau một thời gian, năng lực thứ ba đến, cũng một cách đó, chiếm các khối 2.401 bọt, hút các khối ấy vào, đẩy các khối ấy đi, tạo thành các nguyên tử của cơi thứ tư; các nguyên tử này gồm 117.649 bọt (49 x 49 x49 = 493 ). Sự diễn tiến được lập lại như vậy cho đến luồng năng lực thứ sáu tạo thành nguyên tử của cơi thứ bảy là cơi thấp nhất nguyên tử này chứa 496 bọt nguyên thủy.
Nguyên tử của cơi thứ bảy là nguyên tử căn bản vật chất hồng trần; nó không phải là nguyên tử mà các nhà khoa học đă nói. Chúng ta đến giai đoạn này trong điều kiện là vũ trụ h́nh cầu bao la quay cuồng chứa đựng bảy kiểu vật chất, giống nhau trong căn bản, v́ tất cả đều làm thành bởi những bọt giống nhau, nhưng khác nhau về tỉ trọng. Các kiểu ấy xen lẫn nhau tự do, người ta có thể gặp những mẩu của mỗi thứ trong một phần nhỏ của địa cầu, không quên đề cập đến ư hướng ly tâm của những nguyên tử nặng nhất.
Luồng năng lực thứ bảy do trạng thái thứ ba của Đức Thái Dương Thượng Đế không kéo các bọt trở lại trạng thái đầu tiên như các luồng năng lực trước. Các nguyên tử vật chất cấu tạo sau hết, trái lại, nó tập hợp thành sự kết hợp tạo những nguyên tử khác nhau mà người ta có thể gọi là tiền nguyên tố. Các tiền nguyên tố nầy tới phiên ḿnh sẽ tập hợp lại thành nhiều h́nh thể khác nhau mà khoa học gọi là nguyên tố hóa học. Sự cấu tạo các nguyên tố này kéo một thời gian dài và nhờ sự tác động của nhiều sức mạnh, chúng nó được cấu tạo theo một trật tự xác định như bài báo của giáo sư William Crookes nói đúng trong quyển Khởi nguyên của các nguyên tố . Thật ra, quá tŕnh cấu tạo của chúng chưa có kết luận cuối cùng. Chất uranium là nguyên tố nặng nhất và sau cùng mà người ta t́m thấy đến nay. Nhưng có thể c̣n có nhiều nguyên tố phức tạp hơn sẽ được t́m thấy trong tương lai.
Độ đông đặc tăng gia với thời gian và tinh vân bao la cháy rực. Vừa luôn luôn quay cuồng mau lẹ, nó trở nên giẹp và nguội lần lần. Nó có h́nh dáng của một cái dĩa bao la và từ từ chia ra từng khoen bao quanh một trung tâm, giống như sự sắp xếp mà chúng ta thấy ở Thổ tinh, mặc dù kích thước nhỏ hơn nhiều. Khi cần các hành tinh làm môi trường tiến hóa, Đức Thái Dương Thượng Đế dấy lên trong bề dầy của mỗi h́nh tṛn một sự quay cuồng phụ. Trong ấy, một phần vật chất của mỗi khoen được gom lại. Sự va chạm của các phần hợp lại gây ra một sự tăng nhiệt mới và trong một thời gian lâu dài là một khối lửa. Từ từ nó nguội dần cho đến chừng nào nó có thể dùng làm môi trường cho sự sống, giống như sự sống của chúng ta. Các hành tinh đều được cấu tạo như thế đó.
Gần như toàn thể các chất của những cơi, cái này xuyên qua cái kia, lớp này xuyên qua lớp kia, được tập trung trong các hành tinh vừa mới thành lập và gồm tất cả các loại khác nhau. Địa cầu chúng ta không phải chỉ là một h́nh cầu bao la của vật chất hữu h́nh, gồm những nguyên tử của cơi thấp nhất. Nó c̣n gồm vật chất của cơi thứ sáu, thứ năm, thứ tư và của tất cả những cơi khác. Các sinh viên khoa học đều hiểu rơ rằng những phần nhỏ nhất của vật chất không đụng nhau bao giờ, dù cho đó là phần nhỏ nhất của chất cứng rắn nhất. Khoảng cách giữa các phần nhỏ ấy tương ứng lớn hơn rất nhiều, thật nhiều đối với kích thước của chúng. Nguyên tử của các cơi khác chẳng những có thể chen vào giữa các vật chất nguyên tử hữu h́nh, mà chúng c̣n có thể di động tự do giữa những nguyên tử đó nữa. Địa cầu chúng ta không phải là một cơi (một thế giới), mà là của bảy thế giới hay bảy cơi xuyên qua nhau, cùng nhau chiếm một khoảng không gian duy nhất. Chúng ta đừng quên rằng các chất tế vi có khuynh hướng ly tâm, trái hẳn với các chất đặc.
Chúng ta đă đặt tên cho các cơi, các thế giới ấy để dễ nhận ra chúng. Không có từ ngữ cần thiết bắt buộc để gọi cơi thứ nhất, v́ con người đến ngày nay chưa tiếp xúc được với cơi ấy. Nếu cần nói đến, ta chỉ gọi đó là cơi tối thiêng liêng. Cơi thứ nh́ được gọi là cơi chơn thần, v́ trong thế giới có những tia sáng của đời sống thiêng liêng mà chúng ta gọi là Chơn thần của con người. Cả hai cơi trên ấy (thứ nhất và thứ nh́) chưa cơi nào được nghiên cứu bằng thần nhăn cao nhất mà chúng ta có thể thực hiện được cho đến ngày nay. Cơi thứ ba là cơi mà các nguyên tử chứa 2401 bọt Koilon và được gọi là thế giới tâm linh. Tâm linh cao của con người thuộc về cơi này. Cơi thứ tư là cơi của trực giác hay cơi bồ đề theo cách gọi của Thông Thiên Học. Ở đó chúng ta có những trực giác cao siêu nhất. Cơi thứ năm là cơi của trí tuệ, địa hạt của tư tưởng của con người. Cơi thứ sáu là cơi của cái vía hay cơi t́nh cảm. Ở đây các cảm xúc, t́nh cảm làm rung động các vật chất của cơi này. Cơi này dường có ánh sáng chớp ḷe như sao trên trời, nếu chúng ta so sánh nó với vật chất hữu h́nh. Tính chất này làm cho các nhà luyện kim thời Trung cổ gọi cơi này là cơi của cái vía. Cơi thứ bảy gồm vật chất mà chúng ta thấy được là cơi hồng trần, cơi hữu h́nh.
Vật chất cấu thành các cơi ấy căn bản giống nhau, nhưng chúng nó được sắp xếp khác nhau và có mức độ tỉ trọng khác nhau. V́ lẽ đó các rung động của các kiểu vật chất phải khác nhau. Chúng có thể xem như một âm giai vĩ đại của những làn sóng gồm nhiều nhịp điệu. Vật chất hữu h́nh rung động theo một bát độ thấp. Vật chất của cơi vía rung động theo một bát độ cao hơn. Vật chất cơi trí tuệ rung động mau hơn nữa và cứ tiếp tục như thế.
V́ vậy các cơi hay thế giới ấy chẳng những có kiểu vật chất riêng cho ḿnh mà chúng c̣n có những chất riêng biệt và một nhóm kết hợp đặc biệt nữa. Chúng ta chia vật chất các cơi thành bảy thứ, tùy theo cách rung động của những phân tử riêng biệt. Sự dao động chậm đ̣i hỏi một phân tử nặng kết quả của một sự sắp xếp đặc biệt của những phân tử nhỏ của một tế phần cao kế đó .Trường hợp này không phải luôn luôn tuyệt đối. Sự tác dụng của sức nóng làm tăng kích thước của các phần tử, làm hoạt động và khuếch đại những làn sóng của chúng. Chúng choán nhiều chỗ hơn và khi giăn nở như vậy, các mức độ kết hợp của chúng bị phá vỡ. Điều này đưa chúng đi từ trạng thái thấp sang trạng thái cao hơn kế trên. Những tế phần của cơi hữu h́nh này được biểu lộ dưới bảy độ tỉ trọng vật chất mà chúng ta gọi từ thấp lên cao :thể đặc, thể lỏng, thể hơi, thể dĩ thái, thể trên dĩ thái, thể dưới nguyên tử và thể nguyên tử.
Các h́nh thể thuộc về tế phần nguyên tử đều do sự nén ép các nguyên tử hữu h́nh thành h́nh trạng khác, khỏi phải thành lập trước các khối hay các phân tử. Nếu chúng ta tượng trưng nguyên tử căn bản hồng trần bằng một viên gạch, chúng ta sẽ có một phân tử nào đó của tế phần nguyên tử khi chúng ta kết hợp vài miếng gạch vào một h́nh thể nào đó, một cách đặc biệt. Nếu chúng ta muốn tạo vật chất thuộc về tế phần dưới nguyên tử, chúng ta phải gom lại một số gạch, bốn, năm, sáu hay bảy viên chẳng hạn thành khối. Các khối này tới phiên nó kết hợp lại thành vật chất của tế phần trên dĩ thái và cứ tiếp tục như vậy đến tế phần dĩ thái, tế phần hơi, tế phần lỏng và tế phần đặc.
Ngược lại, khi ta muốn đưa một chất đặc sang thể lỏng (nghĩa là làm tan chảy) ta tăng sự rung động của những phân tử đă kết hợp, chúng nó trở thành phân tử đơn giản trước khi tạo ra phân tử kết hợp. Thí nghiệm này có thể lập đi lập lại nhiều lần và tất cả chất rắn đều có thể trở thành nguyên tử căn bản hồng trần.
Mỗi cơi hay thế giới vừa kể đều có người cư ngụ. Giác quan của những người này chỉ có thể đáp ứng với những rung động của chính cơi ấy mà thôi. Một sinh vật cơi trần hữu h́nh thấy, nghe và cảm nghĩ nhờ những rung động liên quan đến vật chất hữu h́nh xung quanh. Chung quanh những người này (như chúng ta chẳng hạn) cũng có cơi (hay thế giới) vía , trí, xuyên qua chúng, nhưng thường chúng không ư thức được v́ giác quan của chúng không tiếp nhận làn sóng rung động thuộc vật chất của các cơi ấy.
V́ vậy, mắt ta không thể cảm nhận những rung động của ánh sáng cực tím, mặc dù theo khoa học, các ánh sáng đó có thật. Các sinh vật khác chúng ta có những cơ quan có thể thấy nhờ các rung động ấy. Một người sống ở cơi vía choán cùng một không gian của người sống ở cơi trần. Nhưng cả hai đều không thấy nhau; họ không cản trở các hành động của nhau. Các cơi khác cũng thế.
Để kết luận, chúng ta có thể nói chúng ta bị bao quanh bởi các cơi tế nhị, cũng ở sát chúng ta như thế giới hữu h́nh mà chúng ta thấy được. Những người cư trú trên các cơi ấy cũng bao quanh chúng ta, mặc dù chúng ta không ư thức được về sự hiện hữu của họ.
Bởi v́ sự tiến hóa của chúng ta hiện nay tập trung ở Địa cầu, chúng ta chỉ đề cập đến những cơi hay thế giới cao có liên hệ với hành tinh này mà thôi. Tôi dùng từ cơi vía để chỉ nói đến phần vía của địa cầu mà thôi, chớ không nói đến phần vía của Thái dương hệ.
Quả cầu vía của địa cầu cũng choán một khoản không gian chung với địa cầu hữu h́nh. Nhưng thể chất hay tinh chất loăng của nó ló ra khỏi trung tâm xa hơn bầu khí quyển của địa cầu rất nhiều. Nó ló ra xa gần bằng khoảng cách trung b́nh từ địa cầu đến mặt trăng, mặc dù hai quả cầu hữu h́nh này cách xa nhau khoản 240000 dặm. Phần vía của hai quả cầu này gần giáp nhau khi mặt trăng tiến đến gần địa cầu nhất chớ không phải lúc mặt trăng ở viễn điểm. Tôi dùng từ �cơi trí� để chỉ thế giới lớn hơn nữa của chất trí. Địa cầu hữu h́nh của chúng ta cũng choán trung tâm cơi này.
Khi chúng ta liên hệ đến các cơi cao, chúng ta sẽ gặp những bầu vô h́nh mà chu vi đều tiếp cận chu vi các cơi tương ứng của những hành tinh khác trong Thái dương hệ. Các thế giới có thể chất loăng biểu thị một phần chúng ta và di chuyển chung quanh mặt trời với các thế giới thấy được. Khi tập trung tư tưởng vào quả địa cầu chúng ta, sinh viên chẳng những phải nghĩ đến h́nh cầu nhỏ bằngvật chất hữu h́nh mà c̣n phải nghĩ đến các khối chung quanh của những bầu thế giới xuyên qua nhau từ cái này đến cái khác.
mục
lục chương 1 2 3
4 5 6
7 8
9 10
CHƯƠNG BỐN
SỰ TIẾN HÓA CỦA SỰ SỐNG
Những luồng sóng sinh hoạt đă h́nh thành các cơi mà tôi vừa mô tả đều là công tŕnh của Ngôi Ba của Đức Thái Dương Thượng Đế, do đó cái tựa của chương này là �Đấng đă cho sự sống�, Đấng đă bao trùm trên nước của không gian mà chúng ta gặp trong các Thánh kinh Thiên chúa giáo. Theo từ ngữ Thông Thiên Học, các luồng sinh hoạt ấy được xem trong toàn thể của nó. Nó cấu tạo điều mà người ta gọi là luồng sóng sinh hoạt của sự sống.
Khi các cơi phát triển đến độ này và các nguyên tố hóa học được cấu tạo xong, luồng sinh hoạt thứ nh́ xuất phát do Ngôi Hai của Đức Thái Dương Thượng Đế. Nó có quyền năng phối hợp và cố gắng kết hợp các nguyên tố hiện hữu trong t́nh trạng phôi thai thành những h́nh thể. Các h́nh thể này về sau được cấp một linh hồn.
Do thế đó, bảy giới thiên nhiên ra đời, được Thông Thiên Học nh́n nhận. Thông Thiên Học tách giới nhân loại khỏi giới cầm thú, xem xét nhiều giai đoạn tiến hóa mà mắt thường không thấy được và đặt cho tên là giới tinh hoa.
Sự sống thiêng liêng từ trên cao trút xuống vào vật chất và sự vận hành của nó được chia ra hai giai đoạn: nó khởi đầu bằng cách lấy h́nh tướng càng ngày càng đông đặc, rồi sau đó nó cởi bỏ lần lần các h́nh tướng bề ngoài ấy. Cơi trí là tầng thứ năm nếu chúng đi từ trên xuống, từ tinh vi đến thô kệch, là tầng thứ nhất mà chúng ta có thể quan sát một cách khoa học các thể thiêng liêng và cũng ở tầng ấy ta gặp những bầu thế giới riêng biệt. Muốn dễ nghiên cứu, cách giản dị nhất là chúng ta nên chia cơi trí ấy ra làm hai phần : thượng trí và hạ trí, tùy theo mâït độ các chất mà ta gặp ở đó. Thượng trí gồm ba tế phần tinh vi của chất tư tưởng và hạ trí gồm bốn tế phần của chất tư tưởng dày đặc hơn.
Khi sự sống thiêng liêng giáng xuống đến cơi thượng trí, nó phối hợp các nguyên tố dĩ thái đang có ở đó. Theo mật độ ấy người ta có thể gọi là chất; trong các chất ấy, sự sống trú ngụ. Đó là các chất mà Thông Thiên Học gọi là giới tinh hoa chất thứ nhất.
Sau một thời gian tiến hóa dài trong những h́nh thể thượng trí, luồng sóng sinh hoạt càng ngày càng xuống sâu, học cách tự đồng hóa trọn vẹn với các h́nh thể đó, cho đến đỗi nó có thể giữ các h́nh thể ấy lâu dài, hoàn toàn chiếm giữ thay v́ rời bỏ chúng sau mỗi kiếp luân hồi. Cùng cách ấy, luồng sóng sinh hoạt có thể chiếm ngụ các h́nh thể thấp hơn ở các tế phần hạ trí, mặc dù linh hồn của luồng sinh hoạt c̣n ở thượng trí. Các chất được linh hoạt ở hạ trí, chúng ta đặt tên là giới tinh hoa thứ nh́.
Sau một thời kỳ dài bằng thời kỳ trước, luồng sóng sinh hoạt tự đồng hóa một lần nữa với những h́nh thể mà nó chiếm ngụ thật thụ ở hạ trí. Nó có thể sử dụng các h́nh thể thuộc về cơi vía là cơi thứ sáu từ trên kể xuống và được gọi là giới tinh hoa thứ ba.
Mặc dù h́nh thể của giới tinh hoa thứ ba tại cơi vía không hoàn toàn trong sáng, nó cũng tế nhị hơn các h́nh thể ở cơi trần hữu h́nh. Mỗi một giới trong ba giới tinh hoa vừa kể đều biểu lộ sự sống căn bản khác biệt nhau giống như sự khác biệt giữa giới động vật và giới thực vật.
Sau khi tự đồng hóa với các h́nh thể thuộc giới tinh hoa thứ ba, luồng sóng sinh hoạt đem sinh khí xuống các phần dĩ thái của khoáng sản và làm cho chúng linh hoạt. Nhờ sức ép đi từ trên xuống, sự sống thiêng liêng tự đồng hóa với chất dĩ thái của thế giới hữu h́nh và chiếm ngụ chất thô của khoáng sản mà mắt trần chúng ta không thấy được.
Chúng tôi gom vào giới khoáng sản, kim thạch chẳng những tất cả các khoáng chất, mà c̣n các chất lỏng, chất hơi và một phần lớn các chất dĩ thái mà khoa học Âu Tây chưa nh́n thấy. Chất nào cũng có sẵn bên trong sự sống đang phát triển tiệm tiến. Khi luồng sóng sinh lực đến điểm trung tâm giai đoạn khoáng chất, sức ép từ trên xuống dưới được thay bằng ư hướng từ dưới lên trên; như vậy sự nhập thế chấm dứt, sự xuất thế bắt đầu.
Sau khi đă đi qua hết các bậc của giới khoáng sản, sự sống thiêng liêng ngụ lại tại cơi vía, mang theo nó kết quả của những kinh nghiệm ở cơi hữu h́nh. Từ đó, nó làm linh hoạt các h́nh thể thực vật và có thể phát lộ rơ rệt trong sự tiến hóa này các khả năng sinh tồn mà chúng ta gặp trong đời sống của mọi loài thực vật. Khi nó hoàn tất giai đoạn phát triển trong giới thực vật, nó bỏ giới này và làm linh hoạt các h́nh thể động vật. Sau đó nó rút khỏi thế giới hữu h́nh và ngụ tại cơi hạ trí. Nhưng sau rốt, khi muốn hoạt động trực tiếp trên chất đặc, nó phải tái sử dụng chất vía trung gian. Chất ấy trong trường này không c̣n là sự biểu lộ của một hồn khóm tập thể, mà nó trở nên, như tôi sẽ chứng minh sau này, thể vía cá nhân của một động vật thông thường nào đó.
Luồng sóng sinh lực lưu lại chẳng những trong một thời gian, đối với chúng ta, gần như vô tận trong mọi giới, nhưng nó tiến lên xuyên qua một khoản tiến hóa xác định khởi sự từ những biểu lộ thô sơ nhất của một giới để đến các biểu lộ cao nhất. Lúc đầu của thời kỳ thực vật, thí dụ sinh lực đem sinh khí cho cỏ và rong rêu, rồi sau đó trở thành linh hồn của những cây lớn trong rừng. C̣n ở giới động vật nó mang sinh khí đầu tiên cho muỗi và vi sinh vật thông thường, rồi sau đó nó làm linh hoạt các mẫu động vật có vú.
Đó là quá tŕnh tiến hóa tiệm tiến và đều dặn của những h́nh thể hạ cấp, đơn giản, để tiến lần đến h́nh thể cao cấp, phức tạp. Sự tiến hóa không phải là h́nh tướng mà là sinh lực, là sự sống trong các h́nh tướng; các h́nh tướng cũng trở nên hoàn hảo hơn trong mục đích duy nhất là tạo ra các thể phù hợp với những làn sóng sinh khí càng ngày càng phát triển. Sau khi vượt qua mức cao nhất của giới động vật, sự sống thiêng liêng xuất hiện trong giới con người dưới ảnh hưởng của vài điều kiện mà tôi sẽ giải rơ sau này.
Đợt sóng sinh lực từ bỏ mọi giới để tiến lên một giới khác và nếu ta chỉ chú ư một làn sóng duy nhất của đợt sóng ấy, th́ chỉ có một giới mà thôi.
Nhưng Thượng Đế cho phát xuất một loạt những đợt sóng sinh lực và một số đợt ấy khởi sự hoạt động một lượt. Chúng ta h́nh dung một trong các đợt sóng ấy và chúng ta thấy tiến hóa bên cạnh ta một làn sóng khác của động vật, làn sóng cho ra bởi Thượng Đế trong giai đoạn sau giới con người. Giới thực vật biểu thị làn sóng thứ ba, giới khoáng sản , đợt thứ tư , và các nhà huyền bí học nh́n nhận chung quanh chúng ta có sự hiện diện của ba giới tinh hoa; đó là các làn sóng thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. Tập hợp các đợt dao động ấy biểu hiện các làn sóng liên tiếp của một làn sóng lớn; đó là làn sóng của Thượng Đế Ngôi Hai.
Dưới mắt chúng ta, chúng thấy có một kế hoạch tiến hóa. Trong đó chúng thấy sự sống thiêng liêng được vật chất hóa càng ngày càng sâu đậm để cảm xúc với một vài rung động không kích động nó được nếu không có sự giúp vào của vật chất. Các dao động khác khởi dấy nơi nó một tốc độ dao động tương ứng. Về sau, nó sẽ đủ sức tạo lại các dao động ấy bởi tự sức ḿnh và sẽ trở nên một sinh vật có năng lực tâm linh.
Chúng ta có thể tưởng tượng rằng sự phát xuất ra sự sống có lẽ có bản chất đồng nhất khi nó mới được Thượng đế cho ra, ở mức độ vượt quá tầm quan niệm của con người. Lúc nó biểu lộ trước tiên trong môi trường kiến thức của chúng ta, nghĩa là lúc nó ngụ tại cơi trực giác và làm linh hoạt các chất thượng trí, nó không c̣n biểu lộ trong trạng thái của một linh hồn bao la; nó chia ra thành một số lớn linh hồn riêng biệt. Chúng ta hăy tưởng tượng một cái thang. Ở phần chót thang, ta thấy một sự phát xuất đồng đều; ở phần chót kia, đại hồn tách rời ra, bắt đầu ở giai đoạn con người, làm thành cả triệu linh hồn tương đối nhỏ của con người có cá tính khác nhau. Nếu chúng ta quan sát một trong những bậc giữa của chiếc thang ấy, chúng ta sẽ thấy một trạng thái trung gian; nghĩa là linh hồn của thế giới chia ra từng phần, nhưng chưa đạt được kích thước chung của những vi phần sẽ dành cho chúng trong tương lai.
Điều phân biệt người với động vật và thực vật là chỉ riêng con người mới là một linh hồn thật sự.
Ở con người, trong thế giới hữu h́nh, linh hồn này có thể biểu lộ xuyên qua một xác thân mà thôi; c̣n ở động vật và thực vật, hồn có thể đồng thời mang lấy nhiều thể khác nhau. Hơn nữa, khi con người rời bỏ xác thân, nó vẫn c̣n là một thực thể riêng biệt với các thực thể khác và trạng thái này th́ vĩnh cữu, trường tồn. Trái lại, khi một con sư tử chết, hồn nó được trả lại cái khối chung mà từ đó nó đến và khối ấy tạo nhiều hồn cho nhiều con sư tử. Khối ấy chúng ta gọi là hồn khóm.
Thí dụ có một trăm xác thể thuộc loài sư tử nhập vào một hồn khóm. Dĩ nhiên là mỗi một thể tiếp nhận được một phần một trăm của hồn khóm và giữ phần đó suốt thời gian sống của nó. Con sư tử này sẽ hiện ra riêng biệt giữa đồng loại nó và cũng như người, nó được xem như một cá thể. Thật ra, cá tính nó không trường tồn. Sau khi bỏ xác, hồn nó trở về nhập vào hồn khóm. Hơn thế, khi nó tách ra khỏi hồn khóm một lần nữa, hồn nó lần này không giống y như hồn nó lần trước.
Một so sánh sẽ giúp ta dễ hiểu hơn điều nêu trên. Hăy tưởng tượng hồn khóm như nước chứa trong một vật chứa nào đó, như một cái thùng chẳng hạn, và một trăm xác thể của các con sư tử như một trăm cái ly. Mỗi cái ly nhúng vào thùng múc ra đầy nước. Nước này tượng trưng một hồn được tách ra. Nó giữ h́nh dáng cái ly chứa nó. Nó tạm rời khối nước đựng trong thùng và nước đựng trong các cái ly khác.
Thí dụ, bây giờ, người ta cho vào mỗi ly một chất màu hay chất thơm nào đó chẳng hạn, nhưng khác nhau. Người ta sẽ biểu thị phẩm chất đặc biệt đạt được bởi hồn riêng biệt của mỗi con sư tử trong mỗi khoảng thời gian sinh sống. Nếu sau đó người ta đổ nước của cái ly trở lại thùng chứa, người ta tượng trưng cái chết của con sư tử. Chúng ta để ư rằng các phần tử của chất lỏng ấy sẽ pha lẫn với phần nước c̣n lại trong thùng. Chất màu hay chất thơm của cái ly sẽ tan ra trong khối nước chung và khối nước này sẽ có một màu lợt hơn hay một mùi ít nồng hơn các phần khác. Phẩm chất đạt được nhờ kinh nghiệm của hồn một con sư tử cũng thế. Một khi trả về hồn khóm, chúng nó tràn ra hồn khóm với một mức độ bảo ḥa ít hơn.
Cũng dễ quan niệm rằng nước người ta múc lại từ trong thùng nước lần sau không thật giống chất nước đă có ở đó từ trước. Nhưng nó c̣n giữ dấu vết màu và vị đặc biệt của mỗi thứ nước mà người ta đă đổ vào đó. V́ thế, phẩm tính đạt được do kinh nghiệm của một con sư tử trở thành tính chất chung cho tất cả các con sư tử sắp sinh ra từ một hồn khóm. Giá trị của các phẩm tính ấy yếu hơn phẩm tính của cá thể sư tử đă phát triển.
Điều này giải thích khá rơ sự di truyền của bản năng. Chúng ta sẽ hiểu rằng tại sao con vịt con do gà mái ấp lại thích nước và lội một cách tự nhiên; tại sao gà con vừa mới nở lại biết thu h́nh và trốn khi nó vừa thấy bóng chim ưng; tại sao một con chim ấp một cách nhân tạo và không bao giờ thấy cái ổ, lại tự biết làm ổ giống như truyền thống của loài nó.
Ở phía dưới của nấc thang động vật, người ta thấy nhiều vô kể, những xác thể thuộc về một hồn khóm. Khi người ta leo lên các bậc cao th́ thấy số hồn thuộc về một hồn khóm càng trở nên hạn chế. Do đó, có những khác biệt giữa những cá nhân.
Các hồn khóm có thể được phân chia ra. Muốn dễ nhận thức, chúng ta hăy trở lại sự so sánh với cái thùng. Từ khi cái ly múc lần lượt nước đựng trong thùng và trả nước lại vào thùng, khối nước có màu càng ngày càng đậm. Giả thiết trong lúc đó, từ từ, có một màng thẳng đứng chia thể tích thùng ra làm hai phần. Giả thiết mỗi lần người ta múc một ly nước trong mỗi phần nửa thùng, người sẽ trả lại cho nó nguyên vẹn. Đến một lúc, chất lỏng chứa trong một phần của thùng sẽ có khác biệt với nước của phần kia. Chừng đó chúng ta sẽ có hai thùng khác nhau. Đó là một hiện tượng tương tự sự phân chia của hồn khóm. Nó chia làm hai phần như tế bào bởi một sự phân chia thật sự. Sự phân chia càng tăng, hồn khóm ngày càng nhỏ và càng nhiều. Đến giới hạn cao nhất, xuất hiện con người, phân cách vĩnh viễn ra khỏi hồn khóm.
Mỗi đợt sóng sinh lực mang sinh khí lại cho một giới trọn vẹn. Các hồn khóm không nhất thiết phải chuyển kiếp vào một nhóm khác thuộc giới của nó từ cái sơ đẳng đến cái hoàn hảo. Tôi giả thiết đây là một hồn khóm thực vật đă cung cấp nhiều hồn cho nhiều cây lớn trong rừng. Đến một mức độ nào đó của sự phát triển, hồn khóm đă được hoàn hảo để chuyển kiếp sang qua giới động vật. Nó bỏ qua một bên những thể thấp như loài sâu bọ và loài ḅ sát. Người ta có thể nói gần đúng là nó chuyển kiếp liền qua đời sống động vật, ở tŕnh độ những thú có vú hạ cấp. Cũng một lư luận tương tự, người ta có thể chấp nhận rằng sâu bọ và loài ḅ sát từ trước thuộc hồn khóm thực vật, v́ một lư do nào đó đă bỏ qua các thể thấp thực vật để chuyển kiếp ngay vào giới sâu bọ hay ḅ sát. Cũng như thế, hồn khóm động vật đến tŕnh độ phát triển cao nhất trong giới động vật không nhất thiết phải cá nhân hóa thành người rừng hoang dại, nhưng mà cá thể hóa thành người có mức tiến cao hơn. Những linh hồn của người rừng hoang dại là do những hồn khóm đă bỏ giới động vật ở tŕnh độ thấp.
Tổng số các hồn khóm có thể chia ra thành bảy loại lớn theo lệnh vị thừa hành của Thượng Đế. Qua trung gian của vị ấy, sự sống được ban rải ra. Người ta có thể phân biệt dễ dàng các loại trong những giới lớn của thiên nhiên và trong những phần nhỏ của nó. Từng loạt không dứt của các loài, từ động vật, thực vật cho đến khoáng chất và những loài chót vô h́nh của những tinh hoa các chất, người ta có thể hợp thành bảy nhóm chiùnh hoàn toàn riêng biệt từ nhóm này đến nhóm kia, cho đến đỗi làn sóng sinh khí đă đi qua một trong những nhóm này sẽ không bao giờ chuyển hướng về nhóm nào khác.
Người ta chưa lập thành danh sách các động vật, thực vật và khoáng chất xét về phương diện này. Không thể chối căi rằng sự sống một hồn của một khoáng chất không đem sinh khí cho hồn của một khoáng chất khác cùng một lúc, mặc dù nó có thay đổi trong môi trường của nó. Cũng xảy ra như thế đối với thực vật và động vật. Cuối cùng, khi sự sống ngẫu nhiên đạt tới tŕnh độ nhân loại, nó tự cá nhân hóa theo một mẫu riêng biệt.
Phương pháp cá nhân hóa một hồn thú đă đến tŕnh độ cao tột trong hồn khóm là không để nó trở về hồn khóm nữa. Nhưng chỉ có vài con thú mà trí năo đến một tŕnh độ phát triển cao mới đạt được kết quả. Một cách tổng quát, phải đưa con thú trực tiếp với người. Sự cá nhân hóa có thể xảy ra cho những con thú vật nhà, nhưng không phải chung cho các loài. Đứng đầu mỗi nhóm trong bảy nhóm đă nói ở trên có một mẫu thú vật nhà. Ấy là con chó, con mèo, con voi, con khỉ v.v Các con khác có thể có tên trong bảy đường dẫn đến bảy mẫu thú. Thí dụ chồn, chó sói thuộc về loài chó, c̣n sư tử, cọp, beo thuộc loài mèo. V́ thế, hồn khóm đem lại sự hoạt động cho một trăm con sư tử mà chúng ta đă kể làm thí dụ, có thể đến một tŕnh cao của sự tiến hóa, nó có thể tự chia r